Xây dựng một số mô hình kinh tế trang trại ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai và đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng phục vụ sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựN H IÊN
Đ Ể TÀI:
XÂY DỰNG MỘT số MÔ HỈNH KINH TẾ TRANG TRẠI
ở HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHÚNG PHỤC vụ SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Mã số: QT - 07 - 39
Chủ trì đề tài: TS. Thái Thị Quỳnh Như
Những người tham gia: TS. Trần Văn Tuấn
Th.s Phạm Thị Phin
CN. Lê Thị Hồng
CN. Nguyễn Xuân Sơn
ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI
'RUNG TẨM THÒNG TIN THƯ VIỆN
p r / m
Hà Nội - 2007
M Ụ C LỤC
Mở đầu 1
Chương 1. T rang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc
d â n 3
1.1. Vai trò của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc 3
dân
1.2. Tổng quan tình tình phát triển trang trại ở Việt Nam 5
1.3 Đánh giá quá trình phát triển trang trại từ năm 1993 đến n a y 9
Chương 2. Nghiên cứu một sô mô hình trang trại điển hình khu vực
miền n ú i 23
2.1 .Các mồ hình kinh tế trang trại

23
2.2. Những đặc trưng có bản của mô hình trang trại miền núi 27

phương ở nước ta ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên tại nhiều khu vực, nhất là khu
vực miền núi, hiện trạng khai thác sử dụng đất vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải
quyết, trong đó định hướng sử dụng đất dốc như thế nào cho các mục đích phát
triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái của địa phương đang là nhiệm
vụ cấp thiết.
Huyện Bắc Hà là một miền núi của Tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên lớn
(67.872 ha), diện tích đất lâm nghiệp còn rất nhiều nếu có chính sách sử dụn£,
khai thác hợp lý có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng là bảo vệ môi trường cho khu vực đất dốc. Lựa chọn mô hình sử dụng dất
cho khu vực nghiên cứu dựa trên điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cua dịa
phương và đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình là nhiệm vụ của đề tài
nghiên cứu. Xuất phát từ vấn đề này, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học: Xảy dựng một số mô hình kinh tế trưng trại ở huyện Bắc Hù,
tỉnh Lào C a i và đánh giá hiệu qua kinh tế của chúng phục vụ sản xuất nông nghiệp
và bảo vệ môi trường.
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụns
quỹ đất và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tình hình sử dụng đất cho mô hình
kinh tế trang trại. Xây dựng một số mô hình trang trại điển hình, đánh giá hiệu qua
kinh tế của các mô hình này, dựa trên các phương án quy hoạch sử dụne đất của
Huyện (2010) xây dựng định hướng sử dụng đất hợp lý cho các mô hình trang trại
đến năm 2015.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Đe thực hiện mục tiêu trên, đề tài đề ra các nhiệm
vụ chủ yếu sau:
1
- Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Bẩc
Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2006 và biến động sử dụng đất cùa
Huyện.
-Nghiên cứu các mô hình trang trại của Tỉnh Lào Cai và Huyện Bắc Hà. xây
dựng một số mô hình điển hình cho khu vực nghiên cứu.

trong gia đình và các chính sách ưu đãi quan trọng khác của Nhà nước nhằm phát
triển kinh tế trang trại.
Về mặt kinh tế nguồn thu từ kinh tế trang trại trong vòng 10 năm trở lại đây
đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc
dân. Có thể nhận thấy có đến hơn 30% các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ở
nước ta hiện nay có xu hướng mở rộng sản xuất cho gia đình mình về cả hướng sản
xuất về cả quy mô để trở thành các trang trại theo đúng tiêu chí về trang trại mà
nhà nước đề ra. Việc các gia đình có diện tích sản xuất không lớn đã kết hợp với
nhau hoặc tìm cách mua lại của các hộ nông dân khác không có nhu cầu sản xuất
nông nghiệp để có diện tích rộng hơn đã rất phổ biến tại những khu vực có diện
tích sản xuất nông nghiệp không lớn.
Sự phát triển của KTTT đã góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo
ở nhiều địa phương, nhiều trang trại đã vươn lên làm giàu về kinh tế, đồng thời
làm phong phú sinh động thêm cảnh quan thiên nhiên, khơi dậy các nguồn lực cả
về vật chất lẫn các kiến thức bản địa góp phần đáng kể trong việc phủ xanh đất
trống đồi trọc ở trung du, miền núi và vùng cát ven biển, làm đẹp các thành phố.
thị xã, thị trấn. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP cùa Chính phủ ngày 02/02/2000 về
K.TTT đã khẳng định: Sự phát triển của KTTT đã góp phần khai thác thêm nguồn
vốn trong dân, đưa vào khai thác thêm nhiều điện tích đất trống, đồi núi trọc, đất
hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển
Hàng trăm nghìn ha đất trồng lúa kém hiệu quả ở nhiều địa phương được
chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, nhiều vùng đồi núi trọc chuyến sang trồng rừng.
3
CHƯƠNG 1
trồng cây đặc sản, tạo ra một bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Có thể nói kinh tế trang trại phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, tạo động
lực thúc đẩy công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phát triển mạnh
Điều đáng quan tâm là kinh tế trang trại phát triển đã mở ra hướng làm ãn mới,
hình thành một đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ, dám làm, nhiều chú trang
trại đã chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá hiện đại quá trình sản

Nhờ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây kinh
tế cả nước nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã phát huy tác dụng to lớn,
trong đó phải kể đến hình thức kinh tế trang trại (KTTT) đã tăng nhanh ở mọi
miền đất. Ở châu thổ Đồng bằng sông Hồng đã có hàng vạn trang trại; ở Bắc
Giang, Yên Bái có 17720 trang trại, Sơn La có 5000 hộ nông dân thành lập trang
trại. Tại Tuyên Quang, Quảng Ninh, Lào Cai cũng đã hình thành hàng vạn trang
trại trồng rừng, cây ăn quả, cây thuốc và chăn nuôi. Ở phía Nam, tỉnh Ninh Thuận
với điều kiện khí hậu khắc nghiệt cũng đã có tới 779 trang trại bao gồm: 627 trang
trại nuôi bò, cừu, 15 trang trại trồng củ cải, 83 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 48
trang trại nuôi tôm giống. Tại Đồng Nai, Bình Dương có hàng trăm trang trại nuôi
lọn, chế biến thức ăn gia súc, trồng cao su, trồng điều; Đaklak, Gia Lai, Kon Tum
đã hình thành nhiều trang trại trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su,
cây ăn quả.
ở các tỉnh ven biển từ Hải Phòng đến Cà Mau, hàng vạn trang trại nuôi trồng
thuỷ - hải sản có giá trị kinh tế cao. Các trang trại không những phát triển ở nông
thôn mà ở một số thành phố cũng đã hình thành hàng trăm loại trang trại khác
nhau
Kinh tế trang trại ở Việt Nam đã phát triển theo đặc điểm từng vùng. Trang trại
thuỷ sản chủ yếu tập trung những vùng biển, nơi có nhiều sông hồ như đồng bằng
sông Hồng, ven biển miền trung và đồng bằng sông Cừu Long; trang trại trồng cây
lâu năm tập trung ở vùng có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp như Tây Bắc. Đông
Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trang trại chăn nuôi tập trung ở các tinh gần
thành phố và khu công nghiệp, nơi có thị trường tiêu thụ sản phẩm mạnh.
Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, đến nay cả nước
có 150.086 trang trại với diện tích đất sử dụng khoảng 900.000 ha. Kinh tế trang
trại phát triển nhanh cả số lượng và chất lượng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn. Các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm
55,3%, chăn nuôi gia sức gia cầm chiếm 10,3 %, lâm nghiệp chiếm 2.2%. nuôi
trồng thuỷ sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9%.
5

trương, chính sách của Nhà nước về đầu tư, tín dụng, về vốn, lao động và cơ sớ vật
chất nhằm phát triển mô hình trang trại đã dần dần được cải thiện rất nhiều:
6
- về chính sách: Một loạt những văn bản, nghị định của Nhà nước về trang trại
đã được ban hành nhằm giúp người nông dân có thể tận dụng một cách tồi đa các
nguồn lực sẵn có của gia đình và địa phương. Hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
được nhà nước giao đất sử dụng ổn định và lâu dài với các quyền như: chuyến đổi,
chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại và góp vốn kinh doanh đã
tạo cho người dân một hành lang pháp lý để phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta
tiến thêm một bước mới trở thành các mô hình trang trại đầu tiên ở nước ta.
- Trong nghị quyết của chính phủ vé kinh tế trang trại số 03/2000/NQ-CP ngày
2/2/2000 khi đề cập đến chính sách lao động cũng khảng định: “Nhà nước khuyến
khích và tạo điểu kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh, tạo được nhièu việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên lao động cửa các
hộ nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc
làm. Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về mặt số lượng, trả công
lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật vể
lao động.
- Về đầu tư và tín dụng: Hiện nay vấn đề vốn cho sản xuất đang được coi là vấn đề
có tầm quan trọng hàng đầu. ý thức được vai trò hết sức quan trọng của kinh tế trang
trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân nên nhà nướcđã ban hành một loạt
những chính sách đầu tư về cơ sở hạ tầng, về vốn, giống, phân bón và các trang thiết
bị kỹ thuật khác. Đồng thời việc nâng cao trình độ canh tác, quản lý cho người dân
cũng được quan tâm. Hiện nay ngành ngân hàng đã thiết lập được cả một hệ thống tín
dụng rộng lớn phục vụ phát triển ngành nông nghiêp nông thôn. Đã có một số trang
trại lớn và trung bình được vay vốn từ những quỹ tín dụng trên nhằm phát triển rộng
hom quy mô sản xuất nông nghiệp.
- Về thị trường: Kinh tế trang trại mang tính chất hàng hoá, chính vì vậy thiếu
những thông tin về thị trường kinh tế trang trại không thể phát huy được vai trò của
nó và không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn. Hiện nay nhà nước đang

các chủ sử dụng chưa được cập nhật một cách kịp thời.
Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại:
Kinh tế trang trại phát trển khá nhanh, đa dạng về loại hình. Tuy nhiên, sô'
lượng trang trại đạt tiêu chí theo quy định tại thông tư liên tịch số
69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và TCTK đã giảm
đáng kể so với số lượng trang trại theo báo cáo của các địa phương đầu năm 2000.
Việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại đã được triển khai ớ nhiều
địa phương, nhưng nhìn chung tiến trình thực hiện còn chậm, nên nhiều nơi sự hình
thành và phát triển trang trại còn mang tính tự phát, quy hoạch phát triển trang trại
còn chưa gắn với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế, xã hội của địa phương,
chưa gắn với quy hoạch xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn Huyện
8
hoặc chưa gắn với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội khác như định canh,
định cư, xoá đói giảm nghèo
Quy hoạch sử dụng đất cho mô hình trang trại cũng còn nhiều bất cập và
thường đi sau quy hoạch của người dân vì vậy tính đồng bộ và khả năng quản lý ở
tầm vĩ mô chưa cao, ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của mồ hình này. Đặc trưng
cơ bản của trang tại nươc ta là được hình thành từ hộ gia đình chính vì vậy trang
trại gia đình chiếm phần lớn trong các mồ hình trang trại ở nước ta. Hiện nay một
phần lớn các trang trại, đặc biệt là trang trại nuôi trồng thuỷ sản và các trang trại
trổng các loại cây có thời hạn thu hoạch và bảo quản sản phẩm ngắn ngày còn
thiếu các quy hoạch chi tiết (trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng bao nhiêu, quy
mô ) chính vì vậy nơi thì thừa, nơi thì thiếu đã dẫn đến việc giá thành san phấm
không cao bị ép giá, sản phẩm làm ra khồng tiêu thụ được trên thị trường.
Hàng năm số trang trạỉ tăng bình quân khoảng 6%, bình quân 3-5 ha/ trang trại
Trang trại tạo khoảng trên 30 vạn việc làm thường xuyên và 6 triệu ngày công lao
động thời vụ.
Hàng năm kinh tế trang trại tạo ra giá trị sản lượng 14.000 tỷ đồng
1.3, Đánh giá quá trình phát triển trang trại từ năm 1993 đến nay
Quá trình phát triển nển kinh tế nông nghiệp Việt nam trước năm 1988 có mối

+ Luật đất đai được thông qua ngày 14/7/1993
+ Nghị định sô' 64/CP ngày 27/9/1993 của CP ban hành “Quy định về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, láu dài vào mục
đích sản xuất nông nghiệp”.
+ Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc hội thông qua ngày
10/7/1993.
+ Nghị định số 74/ CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ “Quy định chi tiết
thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp”.
+ Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của luật đất đai được quốc hội thông
qua ngày 02/12/1998.
+ Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của CP về sửa đổi, bổ xung
một sô' điều của bản quy định về việc giao đất nông ghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài và mục đích sản xuất nông nghiệp.
+ Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của CP về “ giao đất,
cho thuê đất làm lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp.
+ Nghị quyết của CP về kinh tế trang trại số 03/2000/ NQ-CP ngày
02/2/2000, đã nêu rõ quan điểm và các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế
trang trại nên kinh tế trang trại tại các địa phương đã có sự chuyển biến lớn , nhiều
10
trang trại mới được hình thành và các chủ trang trại đã yên tâm đầu tư phát triển
sản xuất, tích tụ thêm đất đai, thu hút lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật và nàng
lực quản lý, tạo thêm nguồn vốn đầu tư cho việc phát triển sản xuất.
+ Thông tư liên tịch sô' 69/2000/1TLT/BNN-TCTK ngày 23/06/2000
+ Nghị quyết hội nghị ban BCHTW Đảng lần thứ nãm khoá IX ngày
18/3/2002 [1] nêu rõ ”Nhà nước khuyến khích, tạo điểu kiện thuận lợi đê kinh tê
hộ, kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn”. Nghị
quyết của BCHTVV Đảng lần thứ 7 khoá IX vể đổi mới chính sách đất đai 11 ị trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh vai trò cúa
phát triển kinh tế trang trại trong việc phát triển thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại

Số trang trại
5125
13246 90167 60761 110832
113730
Diện tích
22946
58282 396282 369.549 678.291
786758
Qua sô' liệu thống kê ở bảng 1 chúng ta thấy năm 1989 sô' lượng trang trại trên
cả nước chỉ có 5125 trang trại, nhưng chỉ sau có 3 nãm sô' lượng trang trại đã lẽn
tới 13246, gấp 2.3 lần so với năm 1989. Đến năm 1999 sau khi có các nghị quyết
về việc giao đất nông nghiệp (năm 1993) và đất lâm nghiệp (nãm 1999) cho các
hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài, số lượng trại đã tăng nhanh một cách đáng
kể, gấp 6,8 lần so với năm 1992 và 17.6 lần so với năm 1989. Cùng với việc tãng
số lượng thì việc diện tích của các trang trại cũng tăng lên đáng kể. Trong thời gian
từ 1989 đến 1992, đã tãng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, đến năm 1999 tăng đến
396.282 ha gấp 6,81 lần so với năm 1992 và 17,29 lần so với năm 1989. Nãm 2002
cả nước có 60.761 trang trại, tăng 4.909 trang trại so với năm 2001 và 8.207 trang
trại so với năm 2000.
Nguyên nhân chủ yếu khiến sô' lượng trang trại năm 2000 giảm so với nãm
1999 là việc Chính phủ ban hành nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang
trại [3] và thông tư liên tịch số 69/2000/11■ 1LT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 cúa Bộ
NN&PTNT và TCTK: Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, trong đó
quy định rõ điểu kiện vể đất đai, về nguồn thu. Đã có nhiều trang trại không đáp
ứng được những tiêu chí đã đề ra, tuy nhiên việc quy định những tiêu chí trên cũng
còn nhiều điều bất cập vì diện tích đất nông nghiệp của nước ta nhỏ, có nhiều trang
trại nếu tính theo diện tích thì không đủ so vói quy định nhưng doanh thu hàng
năm lại vượt so với chỉ tiêu đề ra, điều này khiến cho các trang trại phải chịu thiệt
thòi trong việc nhận được sự đầu tư của Nhà nước để phát triển kinh tế trang trại
của mình.

(% )
Diện tích đất nông nghiệp 15533,4
786,8
5,1 1
1. Đất sản xuất nông nghiệp 9412,2
474,9
5,0 1
- Đất trồng cây hàng năm 6358,1 160,1
2,5
- Đất trồng cây lâu năm + cây ăn quả
3054,1
320,8
10,5
1. Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
701,6
137,3
19,6
3. Đất lâm nghiệp có rừng trồng
5386,9 166,4
3,1
4. Các loại đất NN khác
32,7
2,2
1
1
6,7
Nguồn: Tổng cục thống kê; Bộ NN&PTNT
Theo số liệu tại bảng 2, hiện nay diện tích đất nông,lâm nghiệp của các trang
trại trong cả nước đang sử dụng thống kê được là 786,8 ngàn ha, tăng 108.5 ngàn
ha so với năm 2004 (278,7 ng.ha) và đặc biệt tãng 2,13 lần so với năm 2002 (369.5

hiện qua bảng 3.
14
Báng 3
SỐ LƯỢNG VÀ LOẠI HÌNH s ử DỤNG ĐẤT CỦA TRANG TRẠI CẢ NƯỚC
Că nước
TS
trang
trại
Trang trại
trổng cây HN
Trang trại
trồng cây LN
Trang trại
chăn nuôi
Trang trại lâm
nghiệp
Trang trại nuôi
trồng TS
Trang trại SX-
KD tổng hợp
Số
lượng
%

lượng
%

lượng
%
Sỏ

1000 5,99
1336
39,79
1019 2,98 1124 13,00
Vùng Tây Bắc
522
38
0,12
44 0,24
201 1,20
134
3,99
36
0,11 69 0,80
Bắc Trung Bộ
6756 1881
5,77
1115 6,12 1046 6,26 718
21,38
1233 3,60
763
8,83
Nam Trung Bộ
7808 3003 9,21
878 4,82 578
3,46 427
12,72 2323
6,79 598 6,92
Tây Nguyên
8785 1073

hoá trên cơ sở phát triển chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp với phương châm
lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có để có thê phát triển kinh
tế, định hình sản xuất mô hình trang trại.
Việc phân bố số lượng theo các vùng lãnh thổ cũng phản ánh đúng thực trạng của
quá trình sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Các tỉnh Đông Nam Bộ và đổng bằng sông
Cửu Long có số lượng trang trại nhiều nhất 16867 và 54425 đa phần là trang trại
trồng cây hàng năm, cây ăn quả. Đối vói khu vực đồng bằng sông cửu Long do có
diện tích đất mặt nước lớn nên các trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm đến 73,52%
số trang trại của vùng (25147 trang trại). Tiếp đến là khu vực đồng bằng sông Hồng
với 13863 trang trại chủ yếu là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Đây
cũng là điểm đáng lưu ý vì nếu theo lý thuyết khu vực đồng bằng sông Hồng có địa
hình bằng phẳng thích hợp cho các loại cây trồng hàng năm, tuy nhiên do sỏ dân tập
trung quá đông nên diện tích bình quân trên đầu người thấp vì thế cũng ảnh hướng
đến khả năng tích tụ đất đai của người dân.
Tây Nguyên với 8785 trang trại đứng hàng thứ 4, chủ yếu là trang trại cây lâu năm
và các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu
Khu vực bắc trung bộ và duyên hải nam trung bộ do điều kiện tự nhiên có đường
bờ biển dài nên ở đây các trang trại nuôi trồng thuỷ sản (nước mặn và nước lợ) chiếm
phần lớn, tuy nhiên đối với bắc trung bộ thì diện tích rừng cũng khá lớn nên các trang
trại lâm nghiệp chiếm tới 21,38% vì diện tích đất đồi núi ở các tỉnh phía Bắc khá lớn.
Do đặc điểm địa hình của lãnh thổ cho nên khu vực vùng Tây Bắc sô' lượng trang trại
ít nhất chủ yếu tập trung vào các trang trại chăn nuôi và cây lâu năm vùng đông bắc
có 4704 trang trại tập trung ở các mô hình trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.
Tóm lại do sự phân bố vể tự nhiên và các đặc điểm riêng trong quá trình phát triến
KT-XH, sự phân bô' TT trên toàn quốc có những điểm khác biệt như sau:
- Số TT trồng cây hàng năm tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông cửu long và
ít nhất ở vùng tây bắc
- TT cây lâu năm có số lượng nhiều nhất ở vùng đông nam bộ và tây nguyên
- TT chãn nuôi phát triển mạnh nhất ở ĐB sông hồng và Đông Nam bộ
- Các TT nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở đồng bằng sông hổng và sông cứu long

14,39
Đất nông nghiệp
5,60
5,41
1,10 0,77 0,36 6,73
Đất lâm nghiệp
0,44
0,44
20,32
0,29 0,20
6,89
Đất NTTS
0,17
0,08 0,29 0,04 3,53 0,77
(Nguồn: Tông cục Thống kê )
Phụ thuộc vào tính chất sản xuất của từng loại trang trại cho nên nhu cầu về đất
trang trại cũng rất khác nhau, qua bảng 4 chúng ta nhận thấy rằng diện tích đất cùa
trang trại trồng cây lâm nghiệp là lớn nhất 21,17 ha và sau cùng là đất dành cho các
trang trại chăn nuôil,09 ha, tuy nhiên diện tích bình quân giữa các TT cũng còn phụ
thuộc vào từng vùng, diện tích lớn nhất là các trang trại trồng cây hàng năm và lâu
năm khuvực đồng bằng sông cửu long, khu vực Tây nguyên với lợi thế là diện tích tự
nhiên rộng phù hợp cho việc phát triển các trang trại cây công nghiệp kết hợp trồng
rừng.
Một trong những đặc điểm của các trang trại chăn nuôi ở nước ta là gia súc, gia
cầm thường được chăn thả tự nhiên ở trong rừng hoặc các khu vực đất trống. Đặc thù
khí hậu của Việt Nam ưu đãi cho cây cối xanh tốt 4 mùa, vì vậy thức ăn dự trữ cho
gia súc, gia cầm không lớn vì thế đất dành cho trồng các loại rau, cỏ chiếm diện tích
không nhiều. So với diện tích bình quân cho TT chăn nuôi của nãm 2002 là 0.9ha thì
đến nay diện tích cho mô hình kinh tế TT này cũng đã được mở rộng ra đáng kế tại
khu vực đồng bằng sông hồng và nam trung bộ.

quy đổi
LĐ thuê mướn
thời vụ quy đổi
BQ trên 1 TT
Cả nước
374701
6 168634
2,8
60880
1
145187
2’4
ĐB sông Hồng 15210
8
4330 2,4
4442
2
6438
3,5
Vùng Đông Bắc
14995
5 8005
2,7
2946
1 4044
1,4
Vùng Tây Bắc 974
7
402 2,9
221

2,3
19140
2
52767
4,2 ị
ĐB sông Cửu long
170624 5 97376
3,1
17041
1 56207
1,8
(Nguồn: IônịỊ cục Thống kê )
19
vùng chúng ta có thể tiến hành quy hoạch cho vùng kinh tế đặc thù khác nhau, hay
nói một cách khác là các đặc khu kinh tế, nhằm mục đích tạo ra thị trường cạnh tranh
rộng lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Muốn được như vậy Nhà nước phải có kế
hoạch cụ thể cho từng khu vực, trồng cây gì, nuồi con gì, số lượng bao nhiêu .đồng
thời có chính sách đầu tư hợp lý và bao tiêu sản phẩm của các trang trại.
Trong lịch sử hình thành mô hình KTTT ở nước ta thì TT được hình thành từ sự
tập hợp chủ yếu các thành viên trong gia đình, họ hàng, họ tộc cùng do thị trường
cung ứng và bao tiêu sản phẩm, hưởng lợi và tích luỹ vốn mở rộng là chủ yếu, vì vậy
có thể nói KTTT nước ta phần lớn xuất phát từ kinh tế hộ gia đình. Tuy có nhừng
thuận lợi là thường sinh hoạt trong cùng một họ tộc nhưng cũng có nhiều hạn chế như
sức cạnh tranh không cao, do trong TT là những người trong gia đình nên họ không
muốn hợp tác với người ngoài sẽ hạn chế việc tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ
thuật và có được những nhân công giỏi, có kinh nghiệm.
Hiện nay những quy định, quy chế cho trang trại chưa được đầy đủ, việc phát triển
kinh tế trang trại phần lớn còn thụ động và mang tính chất của sản xuất hộ gia đình vì
vậy đã có những thiệt hại rất lớn đến giá trị của hàng hoá sản xuất ra: Bị ép giá, không
có quy trình kỹ thuật chế biến sản phẩm, thị trường xuất khẩu còn hạn hẹp, mặt hàng

của hộ chủ
BQ trên 1
TT
Lao động thuê
mướn thường
xuyên
LĐ thuê mướn
thường xuyên
BQ trên 1 TT
Lao động thuê
mướn thời vụ
quy đổi
LĐ thuê mướn
thời vụ quy đổi
BQ trên 1 TT
Cả nước
374701
6
168634
2,8
60880
1 145187
2,4
ĐB sông Hồng
15210 8
4330
2,4 4442
2
6438
3,5

1.4
1
1
Đông Nam Bộ
101267 8 29360
2,3 19140
2 52767
4,2 i

ĐB sông Cửu long
170624 5
97376
3,1
17041
1 56207
1,8 !
(N i> 'ỉồ n : T o n g c ụ c T h ô n g k ê )
19
trại ở Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ. Quy mô các trang trại
chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn hơn các trang trại có hướng trồng trọt.
Qua bảng trên ta cũng nhận thấy thu nhập từ các trang trại lâm nghiệp là thấp nhất
(42,68 tr.đồng) do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau: Các trang trại lâm
nghiệp thời gian để trang trại cho thu nhập thường lâu (từ 10 năm) điều đó yêu cầu
các trang trại phải bỏ vốn đầu tư nhiều, tuy nhiên giá trị sản phẩm lâm nghiệp lại thấp
chính vì thế thu nhập không cao.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản phẩm của kinh tê
trang trại đã không dừng ở mức tự cung, tự cấp như trước hoặc chí đê trao đổi hàng
hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày mà đã mang tính chất sản xuất hàng hoá với
quy mô lớn . Nền kinh tế thị trường với những quy luật cung cầu khắt khe đã khiến
nền kinh tế trang trại phải cải tiến rất nhiều về trang thiết bị, trình độ thâm canh cây

S X K D
tổng hợp
T ổng số vốn
T ỷ đồng
14400,83
2297,05 4714,12
2352,51
220,72
3687,28
1129,14
V ố n của chủ T T
T ý đổng
11844,68
1878,76
4103,51
2039,86
191.5
2968.26
941,70
T ỷ lệ so với tổng số vố n
%
82,25
81,79
87,62 86,71
86,76
80,50
83.40
V ố n vay ngân hàng
T ỷ đổng
2556,15 418,29 583,61 312,65 29,22

nguyên môi trường và ngân hàng. Qua bảng 6 số vồn đầu tư cho mô hình lâm
nghiệp và tiếp đến là cây hàng năm là thấp nhất (104 triệu đồng c h o mỏ hìn h cây
lâm nghiệp và 70 triệu đồng cho mô hình cây hàng nãm). Tuy nhiên đây là sô' liệu
trung bình cho 1 trang trại, với những TT trồng những loại cây có giá trị cao như:
trồng hoa, các loại được liệu, cây gỗ quý thì mức đầu tư sẽ cao hơn nhiều lần
2 0
Kết quả sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại
(đơn vị tính: triệu dỏng)
Báng 7
Các loại hình TT
Tổng
Phân theo các loại hình sản xuất trang trại
Cây hàng
năm
Cây lâu
nãm
Chăn
nuôi
Lâm
nghiệp
NTTS
SXKD
tổng hợp
Tổng thu
5554,58
1562,29
1185,65 468,67 79,52
ị 2043,90
214,56 !
Giá trị sản phẩm

vùng duyên hải miền Trung và Trung bộ thì việc phát triển các trang trại cây công
nghiệp như chè, cà phê, cao su đã mang lại những nguồn thu rất cao, đặc biệt vùng
duyên hải miền Trung với lợi thế đường bờ biển dài và chính sách xuất khẩu các hàng
thuỷ, hải sản sang các nước khác được Nhà nước hết sức quan tâm vì vậy thu nhập
trung bình theo hướng thuỷ sản.
Các trang trại thuộc khu vực phía Nam có doanh thu khá cao, vùng đông nam bộ
đạt 436,3 triệu chủ yếu từ lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi còn các trang trại vùng
đồng bằng sông cửu long thì các trang trại trồng trọt và nuôi trồng thuý sản lại là
nguồn thu chính. Như vậy tổng thu của các trang trại phụ thuộc vào từng vùng (vị trí
địa lý điều kiện tự nhiên) và hướng kinh doanh cùa các trang trại, nhìn chung các
trang trại vùng núi phía bắc, khu 4 cũ có quy mô tổng thu nhập thấp hơn các trang
21

Trích đoạn Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất Thu nhập của các hộ nông dân sản xuất giỏi Huyện Bác Hà Kẽ hoạch sử dụng đất đai qua các giai đoạn quv hoạch Các mỏ hình trang trại huyện Bắc Hà Quy mô đất đai, lao động ngày càng tăng do quỹ đất còn nhiều Hiện nay vẫn san xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status