Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi sinh vật có khả năng xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
• • • •
******************
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT
CÓ KHẢ NĂNG XỬ LÝ PHÉ PHỤ PHẢM NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: QT 08-54
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: THS. NGUYÊN KIỀU BĂNG TÂM
ù
\ ) T / ỹ o l
HÀ NỘI, 2009
BÁO CÁO TÓM TẮT
Tên đề tài: Phân lập và tuyển chọn một số chùng vi sinh vật có khả năng xử lý phế
phụ phẩm nông nghiệp
Chủ trì: Thạc sỹ Nguyễn Kiều Băng Tâm
I. Mục tiêu nghiên cứu
Chọn lựa được các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao nhàm xử lý phế
phụ phẩm nông nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường và cung cấp nguồn phân bón giàu
hữu cơ cho cây trồng
II. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp phân lập, tuyển chọn các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao
2. Xác định điều kiện sinh trưởng của các chủng đã lựa chọn
3. Phương pháp xử lý phế thải nông nghiệp bàng vi sinh vật và xác định một số tính
chất hoá sinh của đống ủ sau khi được xử lý bằng vi sinh vật
4. Đánh giá hiệu quả của sản phẩm sau khi ủ bằng phương pháp xác định hàm lượng
các chất dinh dưỡng trong cây.
III. Kết quả đạt được
+ Từ 14 chủng vi sinh vật đã tuyển chọn được 2 chủng có hoạt tính phân giải
xenlulozơ cao và 2 chủng có hoạt tính phân giải tinh bột cao. Các chủng này thuộc nhóm
ưa nhiệt và ưa pH từ 7-8. Các chủng này có thể sử dụng để xử lý rơm rạ làm phân bón. Khi
ủ phế thải chăn nuôi bằng vi sinh vật đã rút ngắn thời gian ủ từ 3-6 lần so với phương pháp

* Methods of isolation, selection microorganism strains with highly
biological activities
* Methods of treatment agricultural by-products by selected strains of
microorganisms
* Methods of appreciation the effectiveness of product after treatment by
microorganisms
4. Results
+ Among 14 strains of microorganisms, 2 strains with the highest cellulose
decomposing ability and 2 strains with the highest starch decomposing ability have
been selected. They belong to thermophil group of organisms and growth well on
pH of 7-8. These strains can be used to treat straw to make biofertilizer.
The time of composting breeding waste by microorganisms is 3-6 times
shorter than the traditional method of composting whereas nutritious components of
the organic product and the plant productivity are higher than those in the control
sample. Moreover, the plants do not contain toxic microorganisms and safe for
consumers.
+ 02 articles published on scientific journal
+ 01 graduation thesis
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐÀU 1
CHƯƠNG 1. TỎNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Phế phụ phẩm trồng trọt và ảnh hưởng của nó đến môi trường

3
1.2. Phế thải chăn nuôi và ảnh hưởng của nó đến môi trường
4
1.3. Vai trò của vi sinh vật trong việc xử lý các phế thải hữu cơ 6
1.3.1. Khả năng chuyển hoá các hợp chất cacbon của vi sinh vật



16
2.2.11. Các phương pháp xác định hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cây
cải ngọt 16
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
17
3.1. Phân lập và tuyển chọn một số v sv có hoạt tính phân giải họp chất
hydrat cacbon 17
3.2. Điều kiện sinh trưởng và phát triển của các chủng vi sinh vật

20
3.3. Khả năng sử dụng các chủng vi sinh vật tuyển chọn trong xử lý phế
phụ phẩm trồng trọt trong nông nghiệp
22
3.3.2. Một số đặc điểm của phế phụ phẩm nông nghiệp sau khi ủ 24
3.4. Nghiên cứu khả năng sử dụng phế thải chăn nuôi sau khi được xử lý
nhanh bằng chế phẩm vsv đối với cây trồng 24
3.4.3. Đánh giá độ chín của sản phẩm sau khi ủ 26
Kết luận 28
Tài liệu tham khảo 29
4
LỜI MỞ ĐÀU
Việt Nam là một quốc gia có trên 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp,
với diện tích đất cây trồng có hạt trên 8355,3 nghìn ha, trong đó 7322,3 nghìn ha
lúa, 1033 nghìn ha ngô còn lại là các loại cây có hạt khác [3,6], hàng năm sau khi
thu hoạch đã để lại trên đồng ruộng một khối lượng lớn phế phụ phẩm nông nghiệp
trồng trọt (rơm, rạ, thân, lá cây ).
Theo phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, lượng phế phụ phẩm
nông nghiệp trồng trọt sau khi thu hoạch được chuyển về nhà và được sử dụng như
một nguồn nguyên liệu chính để đun nấu trong các nông hộ Cùng với sự phát triển

xử lý đó thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí,
ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và sức khoẻ con người.
Từ lâu, người nông dân đó biết tận dụng và xử lý nguồn phế thải chăn nuôi
làm phân bón cho cây trồng, làm thức ăn cho gia súc v.v Tuy nhiên, việc xử lý
theo các biện pháp truyền thống thường mất nhiều thời gian, gây ô nhiễm không khí
mà hiệu quả về dinh dưỡng thu được của phân ủ không tối ưu.
Hướng nghiên cứu sử dụng vi sinh vật như một tác nhân sinh học để xử lý
nhanh nguồn phế thải chăn nuôi tại các hộ gia đình, các trang trại nhàm hạn chế ô
nhiễm môi trường, tạo sản phẩm phân bón hữu cơ có chất lượng phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp đã và đang là một hướng đi tích cực, thu hút được sự quan tâm
của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Với mục đích nghiên cứu xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp bao gồm phế thải
trồng trọt và chăn nuôi theo hướng thân thiện với môi trường, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: " Phăn lập và tuyển chọn một số chủng vi sinh vật có khả
năng xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp".
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Phế phụ phẩm trồng trọt và ảnh hưởng của nó đến môi trường
Phế phụ phẩm trồng trọt gồm tàn dư thực vật trong trồng trọt và chế biến
rơm
phụ phẩm trồng trọt chủ yếu gồm các nhóm : lignin, hemixenlulozơ và xenlulozơ;
đường và tinh bột; mỡ, dầu; protein.
Khả năng phân giải sinh học sẽ tăng dần từ lignin, hemixenlulozơ, xenlulozơ,
mỡ, protein đến tinh bột và đường. Lượng phế phụ phẩm phát sinh để thu được 1
tấn nông sản và thành phần hoá học của một số họp chất chính trong tự nhiên được
tổng hợp trong bảng 1.1, 1.2.
Bảng 1.1. Lượng phế phụ phẩm phát sinh để thu được 1 tấn nông sản
sau thu hoạch
Tên nông sản
Loại phế phụ phẩm

Rễ cỏ
27 7,5 8,5
28
18
Cây thân gỗ lá kim
1,1
1,3
7,7
15
44
30
Cây thân gỗ lá to
0,8 2,5 1,8
24
47 20
3
Rau, quả
Táo 88 6
Cà chua 57
14
*
Bắp cải
33
17
3
Khoai tây 84
8
*
Nguồn: Lê văn Khoa, Trần Khắc Hiệp, Trịnh Thị Thanh 1996.
* Chỉ có dưới dạng vết

mang tính hàng hóa, vấn đề kiểm soát lượng phế thải trong chăn nuôi trở thành bài
toán khó đối với các nhà quản lý hiện nay [15]. Hiện nay, phần lớn lượng chất thải
chăn nuôi sẽ xả thẳng ra ngoài tự nhiên hoặc sử dụng không qua xử lý.
Theo Bộ NN&PTNT, mỗi năm chăn nuôi thải ra trên 73 triệu tấn chất thải
rắn (phân khô, thức ăn thừa) và 25-30 triệu khối chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu
và nước rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu
tấn), 80% chất thải lỏng (20 - 24 triệu m3) xả thẳng ra tự nhiên, hoặc được sử dụng
trực tiếp [15]. Bảng 1.3 cho thấy lượng chất thải hàng ngày của các loài gia súc, gia
cầm.
Bảng 1.3. Lượng chất thải hàng ngày của các loài vật nuôi [5]
Vật
nuôỉ
Khối lượng
cơ thể (kg)
r f 9
Lượng chât thải theo % khôi lượng cơ thê
Lượng
phân tưoi
(kg/ngày)
Phân
Nước tiểu

135 - 800
5
4 -5 8
r p /V
Trâu
300 - 500
5 4 -5
12

PRRS gây bệnh tai xanh ở lợn, virut gây bệnh lở mồm long móng, vi khuẩn gây
bệnh tả, kiết lỵ cho gia súc. Một nghiên cứu mới đây cho thấy, nếu sử dụng chất
thải chăn nuôi làm phân bón thì 100% mẫu rau xanh đều có
E.coli [2].
Vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi đã xuất hiện ở nhiều nơi,
đặc biệt là các vùng gần các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn, các xã có khu
chăn nuôi tập trung trong khu dân cư gây bức xúc cho người dân sống xung quanh,
đặc biệt là ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí.
Theo một kết quả nghiên cứu tại xã Hồng Hà (Hà Tây), do các khu chăn nuôi
đều nằm tập trung trong khu dân cư nên đã xảy ra ô nhiễm môi trường nước và
không khí nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người dân địa phương.
Kết quả phân tích chất lượng nước thải, nước mặt quanh khu vực xã Hồng Hà cho
thấy hàm lượng vi khuẩn Colifom cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2 lần, BOD5 cao
hơn mức độ cho phép từ 50-150 lần, COD cao hơn 23-61 lần, hàm lượng chất rắn
cao hơn 5-13 lần, tổng N, p cao hơn 9-23 lân [16].
1.3. Vai trò của vi sinh vật trong việc xử lý các phế thải hữu cơ
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, thực vật và động vật thường thải ra
môi trường xung quanh một lượng lớn các chât hữu cơ trong đat. Mạt khac, khi
chúng chết đi chúng cũng để lại một lượng lớn chất hữu cơ khó phân giải cho đất,
gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Dưới tác dụng cua cac chung VI sinh vạt, cac
chất hữu cơ chưa được phân giải bằng hệ enzym tiêu hoá của động vật, hay các chât
hữu cơ có trong xác động thực vật sẽ tiếp tục được hệ enzym thuỷ phân của vi sinh
vật có sẵn trong môi trường và của chủng vi sinh vật tuyên chọn đưa vào phân giải,
chuyển hoá thành các họp chât vô cơ đơn gian [13].
13 1. Khả năng chuyển hoá các hợp chất cacbon của vi sinh vật
Các hợp chất cacbon hữu cơ có nhiều trong cơ thê động vật, thực vật, VI sinh
6
vật như xenlulozơ, tinh bột, ligin Khi động thực vật chết đi, xác của chúne sẽ để
lại một lượng chất hữu cơ khổng lồ trong đất. Nhờ hoạt động của các nhóm vi sinh
vật dị dưỡng cacbon, các chất hữu cơ này dần dần bị phân huỷ tạo thành các hợp

nhà khoa học đã vận dụng quá trình này vào các quá trình chê biên và bảo quản
7
nông sản quí như: trứng, thịt, sữa, thịt hộp, cá hộp hay trong chế biến thức ăn cho
người và gia súc; chế biến phân hữu cơ chứa nitơ.
1.3.3. Khả năng phân giải lipid của vi sinh vật
Lipid (chât béo) là nhóm hợp chât hữu cơ tự nhiên, rất phổ biến trong tế bào
thực vật và động vật. Nó là este của axit béo và rượu đơn, đa chức. Lipid (chất béo)
là nhóm hợp chất hữu cơ tự nhiên, rất phổ biến trong tế bào thực vật và độns vật.
Nó là este của axit béo và rượu đơn, đa chức. Dựa vào thành phần cấu tạo, có thể
coi lipid gồm hai nhóm:
- Lipid đơn giản: là este của rượu và axit béo, gồm một số nhóm nhỏ sau:
triaxyl glixerin (glyxerit), sáp(Cerid), sterit.
- Lipid phức tạp: trong phân tử của chúng ngoài axit béo và rượu còn có các
thành phần khác như axit phosphoric, bazơ nitơ, đường. Nhóm này bao gồm:
Glixerophospholipit, Glixeroglucolipit, Sphingophospholipit, Shingoglucolipit
về tính chất: Lipid không tan vào nước, chỉ tan trong các dung môi hữu cơ
như ete, benzen, toluen. Lipid là dung môi hoà tan các loại vitamin như: vitamin A,
D, E, K, F [7].
Trong tự nhiên, có nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân giải lipid như
Pseudomonas, Achromobacte, Actinomyces,
Với khả năng phân giải các hợp chất như trên, các nhà khoa học đó sử dụng
các loại vi sinh vật có sẵn trong môi trường; làm tăng hoạt tính của các chủng vi
sinh vật để xử lý các loại phế thải trong trồng trọt và chăn nuôi.
8
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.1. Nguyên liệu
Rơm rạ: Được lấy mẫu tại ruộng lúa sau thu hoạch tại Hà Tây
Phân ỉợn: được lây mâu từ khu chăn nuôi của người dân xã Đông Ngạc
huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Chê phâm vi sinh vật: Do phòng Vi sinh vật — Viện Thổ nhường Nông hoá

>1,00
X
108
Rau cải ngọt: Giông cải ngọt Tosankan (Brassica integrifolia)
Cây cải ngọt Tosankan là thực vật có hai lá mầm, có chu kỳ sinh trưởng
ngắn (khoảng 40 ngày). Cây có giá trị về mặt dinh dưỡng cao. Cây cải ngọt phát
triển tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa của Việt Nam và có thể trồng
quanh năm [8].
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Kiểm tra mật độ vi sinh vật theo phương pháp Kock
(1) Kiểm tra mật độ vi sinh vật tổng số: trên môi trường thạch thịt.
(2) Kiểm tra mật độ nấm men: trên môi trường Hansen.
(3) Kiêm tra ĩìĩật độ xợ khuân', tren moi trương Gâuse.
(4) Kiểm trơ mật độ E.colv. trên moi trương Mac Conkey.
(5) Kiểm tra mật độ Salmonella: trên môi trường ss.
9
(6) Kiểm tra mật độ nấm mốc: trên môi trường Czapeck.
Số lượng khuẩn lạc được tính bằng công thức-
N =
Ĩ.C
d(nx - 0,1 n2)
Trong đó:
• N: số v sv trong một đơn vị kiểm tra (CFU/g (ml))
V c ; . ,
• ! tong so khuan lạc đêm được trên tât cả các đĩa petri được giữ lại
• n l: số lượng đĩa petri được giữ lại ở độ pha loãng thứ nhất
• n2: so lượng đĩa petri được giữ lại ở độ pha loãng thứ hai
• d: hệ số pha loãng tương ứng với hệ số pha loãng thứ nhất.
2.2.2. Phần lập cảc chủng vi sinh vật phân giải xenluloza
Để phân lập các vi sinh vật có khả năng phân giải xenluloza. Đề tài tiến hành

- Cấy dịch pha loãng mẫu nghiên cứu (cấy khoảng 0,05ml) lên bề mặt thạch,
dùng que gạt thuỷ tinh gạt đều. Nuôi cấy ở nhiệt độ 28- 30°c trong khoảng 7- 10
ngày. Sau thời gian nói trên lấy ra kiểm tra khuẩn lạc các vi sinh vật phát triển trên
môi trường.
- Thu thập các khuẩn lạc mọc riêng rẽ cấy chuyển sang môi trường đặc hiệu
để làm thuần. Sau khi làm thuần xong bảo quản các chủng phân lập được trong ống
thạch nghiêng chứa môi trường phù hợp với từng loại.
2.2.4. Phương pit áp đảnh giá hoạt tỉnh sinh học
2.2.4.1. Đánh giá hoạt tính sinh học của các chủng vi sinh vật phân giải
xenluloza.
Sử dụng phương pháp khuyếch tán phóng xạ trên thạch đĩa để xác định hoạt
tính phân giải xenluloza (William, 1893):
Nguyên tắc của phương pháp ỉà ezym CMC - aza thuỷ phân CMC trong môi
trường sẽ tạo thành vòng thuỷ phân màu vàng xung quanh lỗ được nhỏ enzym được
hiện màu bằng dung dịch lugol. Dựa vào hiệu số giữa đường kính vòng thuỷ phân
(D) và đường kính của lỗ đục (d) mà ta có thể xác định được hoạt tính CMC-aza
của v sv .
11
Cách tiến hành: Dùng môi trường thạch - cơ chất: môi trường CMC gồm: lơ
CMC (xenluloza tự nhiên), 15g thạch, 1000ml nước cất.
Phân phối đều vào bình tam giác có dung tích 250ml khử trùng ở latm trong
30 phút, đợi nguội đến 40° c thì đổ môi trường ra đĩa peptri (thường đổ khoảng từ
7-9 đĩa, mỗi đĩa dày khoảng l,5cm). Sau chờ thạch đông lại, dùng dụng cụ đục một
lỗ tròn (đường kính 0,8cm) vào giữa hộp petri (nếu đục một lỗ), nếu đục hai lỗ thì
đục đối xứng. Tiếp theo nhỏ 0,1 ml dịch enzym/l lỗ. Sau khi thạch khô (khoảng 15
phút), thì để các đĩa đó vào tủ lạnh sau 5-6 giờ thì lấy ra để vào tủ ấm ở 30°c
(không lật ngược đĩa) để enzym tác dụng với cơ chất CMC. Sau 24 giờ sau thì
nhuộm bàng 5ml dịch lugol (lg I2 và 2g KI trong 300ml nước cất) chờ 15 - 30 phút.
Sau đó, gạt bỏ hết dịch lugol, đo vòng thuỷ phân màu vàng trên nền đỏ tím.
Hoạt tính CMC- aza được hiển thị bằng hiệu số giữa đường kính vòng phân

2.2.53. Anh hưởng thời gian nuôi cấy.
Để xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy, đề tài tiến hành xác định mật
độ tế bào vi sinh vật ở các thời điểm khác nhau
Phương pháp tiến hành như sau:
+ Chuẩn bị môi trường nuôi cấy thích hợp cho từng chủng vi sinh vật, khử
trùng môi trường
+ Cấy dịch pha loãng vi sinh vật vào môi trường dịch thể. Nuôi cấy lắc (150
vòng/phút) trong điều kiện nhiệt độ thích hợp cho từng chủng vi sinh vật.
+ Tiến hành xác định mật độ tế bào ở các thời điểm khác nhau: 0 giờ, 12giờ,
24 giờ, 36 giờ, 48 giờ, 60 giờ, 72 giờ và 96 giờ.
2.2.6. Phương pháp xử lý phế thải trồng trọt bằng v s v
- Nguyên liệu trước khi đưa vào ủ được xác định trọng lượng khô tuyệt đối
điều chỉnh độ ẩm, pH và kích thước hợp lý cho quá trình ủ.
- Thực hiện thí nghiệm theo 2 công thức ủ: Mỗi công thức ủ có khối lượng
50kg
+ Công thức 1 (ĐC): rơm, rạ
13
+ Công thức 2 (TN): Rơm rạ +1% sinh khối dịch thể vi sinh vật
• • •
- Phôi trộn các nguyên liệu, đảo đều và điều chỉnh độ ẩm cho khối ủ sao cho
độ ẩm nguyên liệu đạt 50-60%, sau đó đánh đống.
- Trong quá trình ủ tiến hành kiểm tra theo dõi nhiệt độ đống ủ. Kiểm tra và
điêu chỉnh độ ẩm thường xuyên để độ ẩm khối ủ được ổn định.
- Cảm quan: màu sắc, độ mịn của nguyên liệu,
- Độ giảm trọng lượng cơ chất trong đống ủ
2.2.7, Phương pháp xử lý phế thải chăn nuôi bằng vi sinh vật
Phương pháp xử lý phế thải chăn nuôi bằng vi sinh vật (phương pháp ủ phân)
được tiến hành theo quy trình xử lý phế thải chăn nuôi [7]
★ Nguyên liệu trước khi đưa và ủ được điều chỉnh độ ẩm, pH và kích thước
hợp lý cho quá trình ủ.

Công thức 0(ĐC)\ Đối chứng, không bón phân hữu cơ + NPK
Công thức 1(CT1): Bón phế thải chăn nuôi đó qua xử lý (SPĐXL) + NPK
Công thức 2(CT2)\ Bón phân chuồng tươi +NPK
Công thức 3(CT3): Bón phân hữu cơ cầu Diễn + NPK
+ Cách thức bón phân: Các loại phân bón được bón lót vào trong đất. Trong
đó: SPĐXL được bón với khối lượng 0,4kg/ô; phân hữu cơ cầu Diễn: 50g/ô; phân
chuồng: 0,4kg/ô. Riêng ở công thức phân chuồng, phân chuồng được tưới bổ sung
sau 5 ngày và 20 ngày cấy.
+ Phân hóa học được tưới bổ sung theo công thức 31-14-7 (N-P20 5-K20)
(kg/ha).
+ Các biện pháp kỹ thuật như làm đất, chăm sóc, tưới nước được thực hiện
như trong điều kiện sản xuất thông thường theo qui trỡnh chăm sóc cây cải được
hướng dẫn bởi Trần Thế Tục, Nguyễn Ngọc Kính và theo Quy phạm về khảo
nghiệm hiệu quả các loại phân bón trên cây trồng (10TCN 216-2003) [10].
- Theo dõi các chi tiêu sinh trưởng".
+ Tỉ lệ nảy mầm: bàng số hạt nảy mầm trên tổng số hạt
+ Đo chiều cao cây: từ gốc rễ đến đầu lá cao nhất.
15
+ Khối lượng tươi trung bình của mỗi cây (mỗi công thức thí nghiệm nhổ 10
cây để cân).
+ Khối lượng khô trung bình của mỗi cây
+ Số lá và diện tích lá.
2.2.10. Đánh giá nhanh độ chín và độ an toàn của phẫn ủ
- Phương pháp plant test
Chuẩn bị khay có kích thước 38x28x6 cm và đổ đầy phân ủ. Cân lOg hạt cải,
rắc đều lên bề mặt khay. Sau khi gieo xong, phủ một lớp nilon lên bề mặt khay cho
tới khi cây nảy mầm. Thường xuyên theo dõi quá trình phát triển của cây và độ ẩm
của phân ủ. Sau 5 ngày gieo, tiến hành thu hoạch và cân trọng lượng tươi của cây
cải ở mỗi khay. Mức độ chín của đống ủ được đánh giá qua tỉ lệ nẩy mầm và trọng
lượng tươi của cải trên mỗi khay. Trọng lượng cải trên mỗi khay từ 60-100g sẽ cho


sau thu hoach

15 ngày
Mầu rơm ra

sau thu hoạch
30 ngày
Mầu rơm ra
#
sau thu hoach

45 ngày
25
1
3 2
30 2
4
5
35 3
4
5
40
5 6 8
Tổng số chủng
11 17 20
Kêt quả bảng 3.1 cho thây, trong rơm rạ có chứa săn rât nhiêu các nhóm vi
sinh vật có khả năng chuyển hoá cơ chất trên bề mặt giấy lọc. Bảng số liệu cũng cho
thấy số lượng chủng vi sinh vật phân lập được tăng dần theo thời gian lưu ngoài tự
nhiên, kết quả cũng cho thấy số chủng vi sinh vật phân lập được ở điều kiện nhiệt

Đan Phượng
6,44. 105
2,4
4
Ư2
Văn Điển
8,86. 106
2,0
5
1 Ư 3
Thanh Oai 6,47. 106
1,1
6
Ư4
Đan Phượng
8,33. 106
1,5
7
Ư5
Đan Phượng
3,28.10s
1,8
8
Ư6
Thanh Oai 7,55. 107 0,5
9
ư 7
Văn Điển
6,12. 107
0,9

45 ngày
25
2
2
3
30
4 6
7
18
35
1
3
2
40
2
2
3
Tổng số chủng
9
13
15
Kêt quả phân lập cho thấy, trong rơm rạ chứa sẵn rất nhiều các nhóm vi
sinh vật có khả năng chuyển hóa cơ chất trên môi trường chứa tinh bột. Bảng số liệu
cũng cho thấy số lượng chủng vi sinh vật có khả năng chuyển hóa tinh bột phân lập
được tăng dần theo thời gian lưu ngoài tự nhiên và số chủng vi sinh vật phân lập
được ở điều kiện nhiệt độ 30°c là nhiều nhất.
Tuyển chọn
Với mục đích tuyển chọn những chủng vi sinh vật có khả năng phân giải tinh
bột cao, đề tài tiếp tục đánh giá hoạt tính sinh học của các chủng vi sinh vật đã phân
lập được theo phương pháp khuếch tán trên thạch đĩa. Các chủng vi sinh vật tuyển

Thanh Oai
8,86. 106
1,6
5
b 5
Đan Phượng
6,47. 106 2,8
Kết quả đánh giá cho thấy: bằng phương pháp khuy ếch tán trên thạch đĩa đề
tài đã lựa chọn được 5 chủng vi sinh vật có vòng phân giải tinh bột, trong đó có 2
chủng vi sinh vật kí hiệu Bi và B5 có hoạt tính phân giải tinh bột cao nhất, số liệu
bảng 3.4 cho thấy, đường kính vòng phân giải của chủng E*! là 2,5 cm và chủng B5
là 2,8 cm. Để phục vụ cho mục đích của luận văn, đề tài đã lựa chọn chủng Bị và B5
cho các nghiên cứu tiếp theo.
3.1.3. Một số đặc điểm sinh học của các chủng đã lựa chọn
19
Để đánh giá đặc điểm hình thái khuẩn lạc của các chủng vi sinh vật tuyển
chọn, đê tài đã tiên hành quan sát quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng khi
được nuôi cây trên môi trường thạch và môi trường dịch thể tương ứng.
+ Chung G2I khuan lạc tron, có màu trăng đục, bê mặt nhẵn, không mùi, sau
4 ngay nuoi cay khuan lạc co đường kính 1,2-2 mm. Khi nuôi cấy lắc cho dịch sinh
khoi sanh, đục, nhicu bọt, khi nuoi cây tĩnh thì tạo váng trên bê mặt dịch thể
+ Chủng Ui: khuẩn lạc có màu tráng sáng, không trong suốt, bề mặt nhăn
long xam, mui hoi, khuân lạc ăn sâu vào bê mặt thạch, sau 4 ngày nuôi cấy khuẩn
lạc co đương kính từ 1,5-2,3 mm. Khi nuôi cây trên máy lắc trong môi trường dịch
the tạo thành các hạt nhỏ, dịch môi trường trong theo thời gian nuôi cấy, khi nuôi
cấy tĩnh thì tạo váng trên bề mặt môi trường dịch thể.
+ Chủng Bị: khuẩn lạc màu trắng sữa, bề mặt trơn nhẵn, mùi thơm dịu, sau 3
ngày nuôi cấy khuẩn lạc có đường kính từ 1,5-2,1 mm. Khi nuôi cấy lắc trong môi
trường dịch thể cho dịch đục và mùi chua, khi nuôi cấy tĩnh thì tạo váng trên bề mặt
môi trường.

2,38.10s
5,43.108 3,06.105 2,48.103
45
6,24.105
7,20.108
4,45.105
8,56.1 o2
50
7,42.103
8,22.107
3,46.103
6,42.102
55 3,83.102
5,82.106
2,84.102
1,78.1 o2
Bảng kêt quả cho thây, chủng G2 và Bi và B5 đêu có khả năng phát triên tôt
nhất tại nhiệt độ 30°c, chủng G2 đạt mật độ 9,42.108 CFƯ/ml, chủng B] đạt 7,24.108
CFƯ/ml và chủng B5 đạt 4,60.108 CFƯ/ml, trong khi đó chủng ƯỊ phát triển mạnh ở
nhiệt độ 40-50°C, tại nhiệt độ 45°c chủng UI đạt mật cao nhất là7,20.108 CFƯ/ml.
Điều này chứng tỏ rằng các chủng G2, B]Và B5 là các thuộc nhóm vi sinh vật ưa ấm
và chủng ƯỊ thuộc nhóm vi sinh vật ưa nhiệt.
3.2,2. Ảnh hưởng của pH
pH là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển của vsv. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của 4 chủng v sv được thể hiện trong bảng 3.6.
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của pH đến sinh trưởng và phát triển của v sv
pH
Mât đô tế bào CFƯ/mI
• •

triển thích hợp trong môi trường pH = 7,0. Trong khi đo chung U] co kha nang sinh
trưởng và phát triêĩì tôt trong điêu kiện pH kiêm, trong đieu kicn pH — 8,0 chung UI
đạt mật độ cao nhất là 5,14.1 o8
• • •
3.2.3. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy
Để đánh giá khả năng phát triển của các chủng vi sinh, đề tài tiến hành kiểm
tra mât đô vi sinh vật ở các thời điểm khác nhau. Kết quả được thể hiện trong bảng
• •
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status