Lời mở đầu
Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ và của phân công lao động
quốc tế hiện nay, không thể có một nớc phát triển bình thờng mà không cần
sự giao lu,phân công hợp tác quốc tế. Do vậy, quan hệ kinh tế quốc tế là
nhân tố, là biện pháp để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, có hiểu quả.
Mặt khác, phát triển công nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc
tế, làm cho đất nớc có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Một trong những chiến lợc phát triển công nghiệp Việt Nam đó là hoạt
động xuất nhập khẩu, là kết quả tất yếu của quá trình tự do hoá thơng mại,
quá trình phân công lao động, quá trình nâng cao vai trò tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp. Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của công nghiệp, nó là
bản chất của hoạt động thơng mại quốc tế trong phát triển kinh doanh công
nghiệp. Cho nên để tăng nhanh tốc độ xuất khẩu, đẩy nhanh tiến độ hội nhập
kinh tế với khu vực và thế giới, đảng ta đã chủ trơng tiếp tục mở cửa nền
kinh tế, thực hiện đa dạng hoá thị trờng, đa phơng hoá mối quan hệ kinh tế
với các nớc trên thế giới
Việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trờng EU hiện nay đang là vấn đề trung
tâm để phát triển kinh tế nớc nhà. Mặt khác, hãng dệt may lại đang là một
trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong giai đoạn hiện nay của Việt
Nam. Do vậy, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU có ý nghĩa tầm
chiến lợc đối với sự phát triển ngoại thơng nói riêng và nền kinh tế của Việt
Nam nói chung.
Xuất phát từ những thực tế trên và nhận thức đợc tầm quan trọng của
ngành dệt may Việt Nam và thị trờng EU là một thị trờng tiềm năng song
cũng có những quy định hết sức khắt khe đòi hỏi hàng dệt may Việt Nam
phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng này. Vì vậy, em đã
chọn đề tài: Những thời cơ và thách thức khi xuất khẩu hàng may mặc
sang thị trờng EU của ngành dệt may Việt Nam.
Khoa: Quản trị kinh doanh
1
Nội dung của đề tài này bao gồm 3 chơng:
trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu.
b. Đặc điểm
- Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối u các khoa học
quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh
với các yếu tố khác của từng quốc gia nh yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá.
Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so sánh của
từng nớc, khai thác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải thiện đời sống
nhân dân gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập,
quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao động, về
tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế.
- Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nớc ta đang là một
trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu đợc chú trọng. Bởi nó đem lại lợi
ích vô cùng to lớn cho sự phát triển nớc nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ
hội thuận lợi trong việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội.
- Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia
khác nhau, ở trong các môi trờng và bối cảnh khác nhau. Điều này đòi hỏi
Khoa: Quản trị kinh doanh
3
chúng ta phải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lu và học hỏi
khi xuất khẩu ra nớc ngoài. Vì vậy, chúng ta không thể lấy kinh nghiệm trao
đổi hàng hoá thông thờng trong một quốc gia để áp đặt hoàn toàn cho hoạt
động trao đổi hàng hoá với nớc ngoài.
- Hoạt động xuất khẩu có thể đợc tiến hành bởi t nhân hoặc nhà nớc.
Đối với doanh nghiệp nhà nớc thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác nhau
nh chính trị, ngoại giao, văn hoá Do đó, kinh doanh của các doanh nghiệp
nhà nớc, chính phủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hớng về lợi nhuận.
Còn đối với doanh nghiệp t nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá lợi nhuận,
đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nớc.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là công cụ, ph-
chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế giới để tổ chức
sản xuất. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng
hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát
triển ngành sản xuất nguyên liệu nh bông hoặc thuốc nhuộm Mặt khác sẽ
kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho
nó.
+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công
nghệ từ các nớc phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất n-
ớc tạo ra một năng lực sản xuất mới.
Khoa: Quản trị kinh doanh
5
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trờng thế giới về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này
đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
thích nghi đợc với mọi thị trờng.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân:
Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trờng quốc tế phải cần
một lợng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một lợng
ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống và đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhân dân. Những mặt hàng
khẩu. Việc xuất khẩu với số lợng ít hay nhiều phụ thuộc rất lớn vào chính
sách quốc gia của từng nớc. Khi mối quan hệ kinh tế với các nớc đối tác
không còn thuận lợi thì sẽ có các chính sách hạn nghạch xuất khẩu làm cho
việc xuất khẩu trở nên khó khăn hơn.
- Hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ
các phía. Đầu tiên đó là các sản phẩm cùng loại hay thay thế từ thị trờng
trong nớc. Thứ hai là các sản phẩm của nớc mình nhập khẩu vào. Thứ ba là
các sản phẩm của các nớc khác nhập khẩu vào nớc mình nhập khẩu. Nh vậy,
để tồn tại và phát triển ở nớc ngoài, sản phẩm của doanh nghiệp phải đợc ng-
ời tiêu dùng chấp nhận và có tính cạnh tranh cao trên thị trờng quốc tế.
- Hàng hoá tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp đợc thanh toán bằng
ngoại tệ có giá trị chuyển đổi. Trong khi đó hạch toán chi phí lại dùng nội tệ
do vậy, tỷ giá hối đoái có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu.
Khoa: Quản trị kinh doanh
7
2. Nhân tố khoa học và công nghệ
Nh đã nói ở trên, việc xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng ngoài nớc đòi
hỏi sản phẩm xuất khẩu phải có các đặc tính riêng biệt và có thể cạnh tranh
đợc với các sản phẩm cùng loại trên thị trờng nớc bạn và của các nớc khác
nhập vào. Để tạo ra đợc các tố tính u việt, các nhà xuất khẩu không ngừng
đổi mới đầu t thiết bị, khoa học công nghệ cho dây chuyền sản xuất để ngày
càng đổi mới sản phẩm, thích nghi với nhu cầu đa dạng phong phú của ngời
tiêu dùng là nớc ngoài. Do vậy nhân tố khoa học công nghệ ảnh hởng quyết
định đến mức tiêu thụ sản phẩm hay việc đáp ứng nhu cầu thị trờng cả về số
lợng và chất lợng.
3. Nhân tố chính trị, xã hội và quân sự:
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị xã hội cũng là nhân tố ảnh
hởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Hệ thống chính trị, các quan điểm chính trị, xã hội đều tác
giải quyết một số lợng lớn công ăn việc làm. ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu
về may mặc đang ngày càng đợc nâng cao, từ ăn chắc mặc bền đang chuyển
dần sang ăn ngon mặc đẹp hợp thời trang và hiện đại. Do vậy việc phát triển
ngành dệt may đang là một trong những ngành có triển vọng mang lại hiệu
quả cao. Mặt khác ngành dệt may cũng thu hút đợc một lợng nhân công lớn,
tạo việc làm, tạo phúc lợi cho xã hội.
- Xu hớng chuyển dịch các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động
trong đó có ngành dệt may từ các nớc phát triển sang các nớc đang phát
triển. Lợi thế của ngành dệt may là đòi hỏi một lợng vốn đầu t tơng đối ít
( so với các ngành công nghiệp khác ), phát huy hiệu quả tơng đối nhanh,
Khoa: Quản trị kinh doanh
10
giải quyết lao động xã hội phù hợp với bớc đi ban đầu của các nớc đang phát
triển.
- Ngành dệt may Việt Nam có rất nhiều lợi thế nh: Giá nhân công rẻ,
trình độ tay nghề của ngời lao động ở vào mức khá so với ở nơi khác. Điều
này rất quan trọng vì nớc ta hiện nay có một lực lợng lao động nhàn rỗi khá
lớn ( nhất là lao động nữ ) rất phù hợp với ngành công nghiệp nhẹ, ngành sử
dụng nhiều lao động này.
Thêm vào đó, trong sản xuất hàng dệt may chúng ta đảm bảo cung ứng đ-
ợc một phần nguyên liệu phụ do sản xuất trong nớc, không phụ thuộc hoàn
toàn vào nhập khẩu.
2. Vị trí của thị trờng EU.
a. EU: Một thị trờng rộng lớn và thống nhất.
Thị trờng thống nhất có thể đợc tóm tắt trong 4 từ: tự do lu thông. đây là
sự tự do lu thông-không bị cản trở-của cải và dịch vụ, các thể nhân và tiền
bạc giữa 15 nớc EU, nh thể trong một quốc gia hoặc một thị trờng duy nhất.
Thí dụ cụ thể, là ngời khách hàng có thể đợc cung ứng một danh mục các
sản phẩm hoặc dịch vụ rất rộng bởi các doanh nghiệp tại các nớc khác nhau.
Nói nh vậy không có nghĩa là EU mở cửa để hứng chịu mọi cơn gió.
xuất khẩu sang thị trờng này.
c. EU: nền ngoại thơng phát triển thứ hai thế giới
Chỉ thua kém sau Mỹ với một tỷ lệ rất nhỏ, EU hàng năm xuất khẩu một
lợng lớn hàng hoá từ khắp thế giới cũng từ đó EU nhập khẩu một lợng hàng
hoá không nhỏ trong đó có hàng dệt may chiếm tỷ lệ cao.
Tình hình ngành công nghiệp dệt may ở Châu Âu: Do khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ cha từng có ở một số lĩnh vực nh: điện tử, tin học,
tự động hoá, vật liệu mới, công nghệ sinh học nên cuộc cách mạng này
làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hầu hết các nớc trong EU đều
Khoa: Quản trị kinh doanh
12
diễn ra nhanh chóng theo hớng chuyển mạnh sang các ngành có hàm lợng trí
tuệ và dịch vụ cao, còn các tỷ trọng nông nghiệp và khai thác khoáng sản
giảm dần và đặc biệt là các ngành cần nhiều nhân công đang có xu hớng
chuyển dịch ra khỏi Châu Âu. đặc biệt là ngành dệt may, sản xuất hàng dệt
may ở các năm đang giảm dần với tỷ lệ giảm đang tăng lên. Do vậy, việc đáp
ứng nhu cầu nội tại ở EU đang là vấn đề cần phải cập nhập. Đó là một thời
cơ thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội đẩy mạnh và
tăng tốc xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU.
II. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU
1. Về kim ngạch xuất khẩu
Ngành dệt may nớc ta phát triển đã lâu nhng chỉ từ thập niên 90 trở lại
đây, nó mới thực sự chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và
hoạt động ngoại thơng nói riêng. Trong suốt 4 năm qua, kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may luôn đạt trên 1 tỷ USD/năm và trở thành mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam.
Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nớc ta khong
ngừng tăng. Năm 1991, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt 158 triệu
USD, đến năm 1998 đã gấp 9,18 lần, đạt 1450 triệu USD, tơng đơng với tốc
độ tăng trởng bình quân hàng năm là 43,5 %, tức khoảng 160 triệu
Đơn vị: triệu
USD
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Thị trờng EU 250 285,50 350,44 420,52 450,55 563,68
Nguồn: Tổng cục hải quan
Khoa: Quản trị kinh doanh
14
2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Một vấn đề đáng lu ý là giá trị gia công chiếm tới 80% kim ngạch xuất
khẩu hàng may mặc.Hơn nữa, các hợp đồng gia công không ổn định, giá gia
công thấp và sự phụ thuộc về nguyên vật liệu đã khiến không ít doanh
nghiệp may mặc nớc ta lúng túng, bị động trong sản xuất kinh doanh. Những
mặt hàng xuất khẩu khó làm nh quần âu, áo veston chiếm tỉ lệ nhỏ vì rất ít
doanh nghiệp đầu t đổi mới công nghệ để có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu
sản xuất.các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của ngành dệt may Việt Nam
chủ yếu là áo jacket, áo váy, sơ mi đơn giản. Đến nay, những mặt hàng cao
cấp đòi hỏi công nhân lành nghề, máy móc hiện đại còn nhiều hạn ngạch nh-
ng chỉ một số ít doanh nghiệp có khả năng thực hiện. Nh vậy, trong thời gian
tới, các doanh nghiệp không tự lấp lỗ hổng về mặt kỹ thuật về tay nghề tức là
tự mình làm mất đi một thị trờng có rất nhiều tiềm năng cho ngành dệt may
nớc nhà.
Trong các chủng loại mặt hàng may mặc xuất khẩu sang EU, hầu hết các
doanh nghiệp may mới chỉ tập trung vào một số sản phẩm dễ làm, các mã
hàng nóng nh áo jacket 2 hoặc 3 lớp, áo váy, sơ mi. Đặc biệt, đối với mặt
hàng áo jacket luôn chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu hàng dệt may xuất
khẩu sang EU. Năm 1997, Việt Nam xuất khẩu sang EU gần 11,7 triệu
chiếc, tăng gần 5 triệu chiếc ( hay 72% ) so với năm 1993, chiếm 50% kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU. Các nớc EU nhập khẩu hàng dệt
may lớn nhất của Việt Nam là Đức (40-42%), Pháp (13-15%), Hà Lan (10-
13%) Ngoài ra Việt Nam còn mở rộng quan hệ buôn bán với các nớc EU
hoạt động xuất khẩu.
Từ năm 1993, với Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU
(đợc ký ngày 15/2/1992), EU đã trở thành một trong những thị trờng xuất
khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng từ
250 triệu USD lên 450 triệu USD năm 1997, chiếm khoảng 40% tổng kim
Khoa: Quản trị kinh doanh
16
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt
may sang EU trong những năm gần đây là những mặt hàng do EU quy định
theo hạn ngạch nên công tác Marketing cha thực sự đợc các doanh nghiệp
Việt Nam chú trọng. Trong xu hớng toàn cầu hoá ngày nay, công tác này
không thể cứ ì ạch nh trớc, mà cần đợc quan tâm đầu t cho đúng với tầm
vóc của nó.
Với EU, do là một thị trờng rộng lớn nên nhiều điểm khác biệt về thị
hiếu tiêu dùng, về tập quán kinh doanh và phơng thức tổ chức phân phối đối
với mỗi nớc thành viên, nên để thâm nhập vào thị trờng đòi hỏi phải có
những kênh Marketing riêng biệt, thích ứng với cơ cấu của hệ thống phân
phối của mỗi nớc thành viên cũng nh phù hợp với đặc điểm của sản phẩm
xuất khẩu.
Mối liên hệ giữa nhà xuất khẩu với hệ thống phân phối ở nớc nhập
khẩu thờng đợc tổ chức theo các hình thức sau:
-Các cửa hàng chuyên doanh hàng may mặc liên nhánh thờng nhập khẩu
trực tiếp từ các nớc sản xuất hoặc đặt các hãng nớc ngoài gia công theo hợp
đồng, phụ từ các hợp động gia công chính (theo phơng thức CMT).
-Các nhà bán lẻ độc lập có thể tổ chức nguồn hàng theo các hình thức
mua hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất hay đại lý của các nhà sản xuất; mua
hàng của hãng nhập khẩu/ bán buôn; mua hàng theo hình thức frachize (nh
các cửa hàng liên nhánh hay dây chuyền phân phối; mua của các trung tâm
thu mua ).
Phần lớn các nhà bán lẻ độc lập là thành viên của hiệp hội thu mua.
còn non trẻ. Trong thời gian tới, nhờ một số thay đổi trong Hiệp định buôn
bán hàng dệt may EU-Việt Nam giai đoạn 1998-2000 ký ngày 17/11/1997,
ngành may mặc của nớc ta sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng thị trờng tiệu thụ
sang EU. Theo Hiệp định này, từ năm 1998, Việt Nam đợc phép tự do
chuyển đổi Quota giữa các mặt hàng một cách rộng rãi hơn (17% so với trớc
Khoa: Quản trị kinh doanh
18
kia là 12%). Hơn nữa, Việt Nam còn đợc hởng quy chế tối huệ quốc và quy
chế u đãi phổ cập của EU. Nh vậy, một số mặt hàng của Việt Nam sẽ đợc h-
ởng thuế quan nhập khẩu 0%, làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
xuất khẩu nớc ta nói chung, trong đó có hàng dệt may. Các nhà xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam đến nay thờng vẫn phải thông qua nớc thứ 3 nh
Đài Loan và Đức để vào thị trờng nớc ngoài.
Bên cạnh thị trờng có hạn ngạch, Việt Nam đã thâm nhập đợc một số
thị trờng không hạn ngạch khổng lồ nh Nhật Bản, Mỹ, Singapore và Đông
Âu để tiêu thụ hàng dệt may xuất khẩu, trong đó thị trờng lớn nhất là Nhật
Bản, không chỉ có lợng dân c đông đúc hơn 125 triệu ngời mà Nhật Bản còn
là nớc có mức tiêu thụ sản phẩm may mặc rất cao (27 kg/ngời/năm). Năm
1997 Việt Nam đứng hàng thứ 7 trong số các nớc xuất khẩu hàng dệt may
lớn nhất vào Nhật Bản với thị phần hàng dệt thoi là 3,6% và dệt kim là 2,3%.
Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ đáp ứng đợc nhu cầu may mặc bình dân của ngời
Nhật Bản với các mặt hàng chủ yếu là áo gió nam, quần áo lao động, và một
số loại sơ mi, quần âu đơn giản. Trong năm 1998 vừa qua, do chịu ảnh hởng
của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, sức mua của thị trờng Nhật
Bản giảm mạnhkhiến cho kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
vào Nhật Bản giảm 150 triệu USD.
Mỹ là thị trờng nhập khẩu hàng dệt may không hạn ngạch có tiềm năng
lớn thứ hai của Việt Nam. Chỉ bằng 2/3 dân số EU nhng mức tiêu thụ vải
của ngời Mỹ gấp 1,5 lần EU. Đây là thị trờng không chỉ hấp dấn đối với
ngành dệt may của Việt Nam mà hầu hết các doanh nghiệp dệt may trên thế
công nghệ không quá hiện đại và có tỉ lệ hàng xuất khẩu lớn đợc đánh giá là
có tính phù hợp cao trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách u đãi, hỗ trợ ngành công
nghiệp mới này nh miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu đầu vào cho
sản xuất hàng xuất khẩu, quy đinh mức thuế 0% để đợc hoàn thuế đối với
các mặt hàng xuất khẩu. Nhà nớc cũng thực hiện cho vay u đãi đối với một
Khoa: Quản trị kinh doanh
20
số doanh nghiệp dệt may để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dệt may
nâng cao khả năng cạnh tranh. Mặc dù có nhiều lợi thế song do hạn chế về
kỹ thuật, thông tin thị trờng, tay nghề nên cho đến nay các daonh nghiệp dệt
may Việt Nam vẫn cha có chỗ đứng ổn định trên thị trờng. Về cơ bản, hàng
dệt may xuất khẩu của ta mới chỉ có khả năng đáp ứng những nhu cầu tiêu
dùng bình thờng nên giá trị xuất khẩu cha cao.
Thị trờng EU đợc đánh giá là có nhiều lợi thế nhất trong số các thị tr-
ờng hạn ngạch. Mặc dù Việt Nam đã thu đợc một số kết quả bớc đầu khi
thâm nhập vào thị trờng này, do đợc hởng một số u đãi nh: số lợng hạn
ngạch ngày càng tăng, mức chuyển đổi giữa các mặt hàng lớn, đợc phép sử
dụng hạn ngạch d thừa của các nớc Asean nhng thực ra những u đãi đó cha
làm tăng nhiều khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nớc khác ở thị
trờng EU. Cụ thể là:
- Số lợng hạn ngạch Việt Nam đợc hởng còn rất thấp so với nhiều nớc:
chỉ bằng 5% của Trung Quốc va 10-20% của các nớc Asean.
- Số mặt hàng bị hạn chế bằng hạn ngạch lớn hơn so với các nớc khác:
của Việt Nam là 29 nhóm, trong khi đó của Thái Lan là 20 nhóm, của
Singapore là 8 nhóm.
Ngoài ra, khả năng kém cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn đợc
thể hiện ở những kía cạnh sau:
- Do mới thâm nhập vào thị trờng này nên ta ít có khách hàng trực tiếp.
Mặc dầu có hạn ngạch nhng hầu hết doanh nghiệp Việt Nam phải xuất khẩu
cùng kỳ năm 2001 và vợc 2,4% kế hoạch năm 2002 (2,4 tỷ USD). Trong đó
kim ngạch xuất khẩu sang thị trờng EU đạt 490 triệu USD, chiếm 20% tổng
kim ngạch xuất khẩu (giảm 7,5% so với cùng kỳ).
Khoa: Quản trị kinh doanh
22
2. Những khó khăn còn tồn tại.
Sự phát triển khập khiễng giữa ngành dệt và ngành may kìm hãm sự phát
triển của ngành may nói riêng và dệt may nói chung. Hàng năm, để đảm bảo
hoạt động xuất khẩu, ngành may phải nhập khẩu khoảng 80% nguyên phụ
liệu mà chủ yếu là vải vóc. Nguyên nhân do máy móc thiết bị của ngành dệt
nớc ta đã cũ kỹ, lạc hậu mà tiềm lực trong nớc cha có điều kiện để hiện đại
hoá một cách đồng bộ. Hơn nữa, nếu dùng các nguyên liệu do ngành dệt
trong nớc cung cấp sẽ không đáp ứng đợc những yêu cầu về thông số kỹ
thuật của bên đặt hàng xuất khẩu. Cha có mối quan hệ kinh tế ổn định giữa
ngành dệt và ngành may. Thực tế giữa dệt và may cha có sự gắn kết giữa các
khâu và thiếu sự hợp tác vì mục tiêu chung.
Sản xuất phụ liệu trong nớc cha đợc chú ý phát triển đúng mức nên
ngành dệt may đang gặp khó khăn do phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu
phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, dẫn đến tăng giá thành sản phẩm may và
làm suy yếu sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng thế giới.
Ngành mốt của Việt Nam còn quá non trẻ nên không đủ sức nâng bớc
cho ngành may phát triển. Sản phẩm may mặc xuất khẩu của Việt Nam
nghèo nàn về mốt nên chênh lệch giá bán sản phẩm với giá thành không cao.
Kết qủa là lợi ích thực tế thu đợc từ xuất khẩu thấp. Vì vậy ngành dệt may
của Việt Nam vẫn đợc xem là ngành lấy công làm lãi. Các doanh nghiệp
dệt may cha xây dựng đợc hình ảnh và tên hiệu riêng của mình trên thị trờng
thế giới. Có tới 90% doanh nghiệp may mặc hiện nay vẫn thực hiện hợp
đồng gia công xuất khẩu cho nớc ngoài. Họ không phải không nhận thức đợc
rằng làm nh vậy là phải chịu nhiều thiệt thòi.
Tại thị trờng EU, vì thị trờng mở rộng, không có bất cứ cản trở nào,
các thị trờng phi hạn ngạch khác nh Châu úc, Nam Mỹ, Đông Âu hàng dệt
may Việt Nam không cạnh tranh với hàng Trung Quốc về giá.
Khoa: Quản trị kinh doanh
24
Nh vậy có thể thấy, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam hiện nay đang
và sẽ tiếp tục chững lại nếu các doanh nghiệp ngành dệt may không tạo ra
đợc sự đột biến cạnh tranh về giá tại các thị trờng truyền thống.
3. Nguyên nhân
-Về công nghệ:
Nh ta đã biết năng lực và thiết bị công nghệ của ngành dệt may mới huy
động đợc gần 40% công suất thiết bị nhng hầu hết công nghệ lạc hậu và
thiếu đồng bộ giữa các khâu, đặc biệt là các thiết bị dệt và nhuộm. Ngành
cha chủ động tiếp cận đợc trực tiếp với khách hàng tiêu thụ sản phẩm ở thị
trờng thế giới ( xuất khẩu sản phẩm qua đối tác trung gian). Công tác đầu t
nghiên cứu tạo mẫu mốt thời trang quần áo cha đợc quan tâm đúng mức để
phát triển phục vụ cho ngành may chuyển từ xuất khẩu gia công sang xuất
khẩu sản phẩm hoàn chỉnh.
-Về quản lý:
Hệ thống quản lý chất lợng của ngành dệt may cha đợc quan tâm chú ý.
Nhiều doanh nghiệp cha có giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lợng sản
phẩm. Tính đến cuối năm 1999, toàn ngành mới có 8 doanh nghiệp đã đăng
ký quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn ISO 9002 trong đó có 4 đơn vị đợc cấp
chứng chỉ.
-Về nguyên liệu:
Hầu hết các nguyên liệu phụ liệu phục vụ cho sản xuất ngành dệt may
hiện nay đều phải nhập khẩu 70% giá trị sản phẩm dệt nằm ở nguyên liệu
bông xơ, hoá chất, thuốc nhuộm. Nguồn nguyên liệu từ trong nớc chất lợng
kém và sản lợng thấp, chỉ đáp ứng đợc 10% nhu cầu cho ngành dệt.
-Về chất lợng nguồn nhân lực:
Khoa: Quản trị kinh doanh