Các chức năng của quản lý giáo dục và vận dụng các chức năng để nâng cao hiệu lực quản lý trong trường đại học, cao đẳng ở việt nam hiện nay - Pdf 25

CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ VẬN DỤNG
CÁC CHỨC NĂNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ
những phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia, nhóm quốc gia. Đây cũng là một
hoạt động mang ý nghĩa quyết định, mang tính chất sống còn của các chủ thể
tham dự vào các hoạt động xã hội và nhân loại.Quản lý đúng dẫn đến thành
công, ổn định và phát triển bền vững, còn quản lý sai dẫn đến thất bai, suy thoái,
lệ thuộc, biến chất và đổ vỡ.
Giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt trong xã hội, quyết định đến sự phát
triển bền vững của một quốc gia, Đảng và Nhà nước ta đã đặt vai trò của giáo
dục rất là quan trọng “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu” vì vậy đòi hỏi việc quản
lý giáo dục phải đi trước một bước để xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến,
sánh ngang với các cường quốc trên thế giới.
Một phần không thể thiếu của quản lý là quá trình thực hiện các chức
năng của quản lý, muốn quản lý tốt thì phải thực hiện tốt các chức năng của
quản lý.Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các
phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo
thành hoạt động quản lý tổng thể, là những loại hoạt động quản lý đã được tách
riêng, chuyên môn hoá. Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự
tác động có mục đích đến tập thể người, là những chức năng quản lý chung, mà
bất cứ chủ thể quản lý nào, dù ở cấp độ nào của quản lý với bất cứ quá trình
quản lý tương ứng, với bất cứ đối tượng quản lý nào cũng đều phải thực hiện.
Sau đây chúng ta cùng nghiên cứu về “Các chức năng của quản lý giáo
dục và vận dụng các chức năng để nâng cao hiệu lực quản lý trong trường
Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam hiện nay”.
1
PHẦN NỘI DUNG
Bản chất của quá trình quản lý giáo dục được thể hiện ở các chức năng
quản lý. Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các
phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo

nhiệm vụ tìm ra hướng hoạt động và phát triển của nhà trường trên cơ sở nắm
vững đường lối phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của Đảng và Nhà nước, của
địa phương, hiểu biết thị trường (hàng hóa, lao động ), nhu cầu đào tạo, sự
cạnh tranh và đặc biệt là phân tích kỹ về điểm mạnh và điểm yếu của nhà trường
về đào tạo, sản xuất, về cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn chỉ trên cơ sở phân
tích kỹ nhu cầu và khả năng người quản lý mới có thể xác định được đúng
phương hướng hoạt động và phát triển của nhà trường.
Các phương pháp dự báo phát triển nhà trường mà người quản lý có thể
sử dụng là: nghiên cứu đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục
của Đảng và Nhà nước, của địa phương; tiến hành các hoạt động Marketing
nhằm tìm hiểu thị trường, nhu cầu và sự cạnh tranh; phân tích điểm mạnh và
điểm yếu của trường.
1.1.2.Xác định mục tiêu quản lý
Dựa vào kết quả đoán định phương hướng phát triển và các nguồn lực,
người quản lý xác định mục tiêu quản lý.
Mục tiêu quản lý trường học là trạng thái được xác định trong tương lai
của nhà trường hoặc của một số yếu tố cấu thành của nó.
*Căn cứ vào đặc điểm tổ chức trường học sẽ có hệ thống mục tiêu quản lý
của nhà trường như sau:
1.Phát triển số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo.
2.Phát triển các dịch vụ.
3.Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, nhà giáo đủ và đồng bộ, từng
bước nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và cải thiện đời sống.
4.Xây dựng, sử dụng và bảo quản trường sở, thiết bị vừa phục vụ cho giáo
dục-đào tạo, sản xuất và thực tập tay nghề.
3
5.Xây dựng và không ngừng hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng và
các đoàn thể quần chúng để xây dựng trường vững mạnh.
6.Phát triển các mối quan hệ của nhà trường với xã hội để làm tốt công tác
giáo dục và phát triển giáo dục.

3.Các mục tiêu có được trình bày rõ về:
-Số lượng.
-Về chất lượng.
-Thời gian nào phải hoàn thành.
4.Các nguồn lực có cân đối với mục tiêu. Không vượt quá thẩm quyền của
trường.
5. Xác định mục tiêu ưu tiên.
6.Mục tiêu kỳ vọng phải hợp lý.
7.Hệ thống mục tiêu thống nhất và không mâu thuẫn.
8.Các mục tiêu có được xây dựng một cách dân chủ.
9. Phải thông báo đầy đủ các mục tiêu đến những người thực hiện.
*Những thái độ khác nhau trong việc xác định mục tiêu.
-Thái độ duy ý chí: cảm tính, mong muốn quá lớn, vượt xa khả năng thực hiện.
-Thái độ cơ hội: không có mục tiêu, việc đến tay thì làm, bị động và lạc đường.
-Thái độ đúng đắn: xác định mục tiêu một cách khoa học. Chủ động và có
định hướng.
-Không để bị cuốn hút theo mục tiêu đến mức không giữ được nhịp điệu
làm việc, dẫn đến nôn nóng, nóng nảy, thúc ép người dưới quyền làm việc quá
sức Cần vừa chăm lo công việc, vừa chăm lo đời sống và lao động của tập thể
một cách cân đối. Tổ chức lao động của bản thân và của người lao động dưới
quyền một cách khoa học, động viên đúng mức cả về vật chất và tinh thần sẽ tạo
ra năng suất lao động, đạt được các mục tiêu đã định. Ngoài thời gian lao động ,
mọi người còn cần thời gian để nghỉ ngơi, học tập và bồi dưỡng về chuyên môn,
nghiệp vụ. Đó là điều kiện tối cần thiết sẽ tái sản xuất sức lao động với trình độ
cao hơn.
1.1.3.Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là đưa toàn bộ hoạt động vào kế hoạch.
5
Kế hoạch có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp để đạt mục tiêu, mục đích đó. Theo

- Nội dung kế hoạch phải rõ ràng, tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu;
- Nội dung kế hoach phải khoa học, hợp lý;
- Nội dung kế hoạch phải phù hợp với thực tế và có tính khả thi;
- Nội dung kế hoạch phải cụ thể: phải chỉ rõ làm gì, ai làm, làm ở đâu, làm
như thế nào, cái gì cần đạt được; nhưng không quá vụ vặt, quá chi tiết.
Cơ sở khoa học của lập kế hoạch
- Căn cứ mục tiêu, chức năng nhiệm vụ của tổ chức;
- Căn cứ phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm trong tổ chức;
- Đòi hỏi của các quy luật khách quan chi phối lĩnh vực hoạt động của tổ chức;
- Chỉ tiêu, định mức, hướng dấn của cấp trên giao;
- Hoàn cảnh thực tiễn khách quan bên trong và bên ngoài tổ chức
- Dự báo khoa học v.v
Quy trình lập kế hoạch
Quy trình lập kế hoạch bao gồm các bước sau:
- Nghiên cứu và dự báo;
- Xác định các mục tiêu;
- Phát triển các tiền đề;
- Xây dựng các phương án;
- Đánh giá các phương án;
- Lựa chọn phương án và ra quyết định.
1.2.Chức năng tổ chức
Tổ chức là một thuật ngữ có tính đa nghĩa, được sử dụng rất linh hoạt.
Thứ nhất, tổ chức là một hệ thống gồm nhiều người cùng hoạt động vì
mục đích chung (danh từ tổ chức).
Thứ hai, tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch, bao gồm xây dựng
những hình thức cơ cấu tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đối với
kế hoạch (động từ tổ chức theo nghĩa rộng).
Thứ ba, tổ chức là một chức năng của quá trình quản lý (động từ tổ chức
theo nghĩa hẹp). Đó là các hoạt động được tiến hành sau khi kế hoạch đã được
7

8
- Đảm bảo tính khoa học, hiệu quả;
- Phân cấp rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng;
- Chỉ rõ nhiệm vụ và quyền hạn, kết hợp trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi;
- Cụ thể và sáng tạo;
- Đảm bảo lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài v.v
Đối tượng của công tác tổ chức
- Cơ cấu bộ máy tổ chức;
- Cán bộ, công chức (cán bộ quản lý và nhân viên);
- Các công việc cụ thể;
- Văn hóa tổ chức v.v
Phân loại công tác tổ chức
- Tổ chức cơ cấu bộ máy;
- Tổ chức công việc;
- Tổ chức cán bộ;
- Tổ chức chính thức và phi chính thức;
- Tổ chức chiến lược và tổ chức tác nghiệp;
- Tổ chức ngắn hạn và tổ chức dài hạn;
- Tổ chức nhất thời và tổ chức cố định thường xuyên.
Một số vấn đề về công tác tổ chức
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức có hai dạng: cơ cấu chính thức và cơ cấu phi chính thức. Ở
đây chúng ta chỉ bàn về cơ cấu chính thức.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) có mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, có những nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm
thực hiện các hoạt động của tổ chức và phục vụ mục tiêu chung đã xác định.
Các thuộc tính cơ bản của cơ cấu tổ chức:
- Chuyên môn hóa;
- Phân chia tổ chức thành các bộ phận;

đầu ra. Trong kiểu mô hình này, các cán bộ quản lý theo chức năng và theo đầu
10
ra đều có vị thế ngang nhau. Họ chịu trách nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh
đạo và có thẩm quyền ra quyết định thuộc lĩnh vực mà họ phụ trách.
Ngoài ra còn có nhiều kiểu mô hình cơ cấu tổ chức khác như: cơ cấu tổ
chức phân theo địa dư, cơ cấu tổ chức theo đối tượng, cơ cấu tổ chức bộ phận
theo quá trình. Tuy nhiên không có kiểu mô hình nào là vạn năng cho mọi tổ
chức, mỗi kiểu mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy,
việc áp dụng mô hình nào phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố bên trong cũng như
bên ngoài tổ chức. Thông thường người ta áp dụng phối kết hợp các mô hình
thuần túy nói trên thành mô hình tổng hợp.
1.2.1. Tổ chức cán bộ
a. Vai trò của công tác tổ chức cán bộ
Cán bộ là vấn đề quyết định đối với thành bại của mọi tổ chức. Làm thế
nào để có một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, sẵn sàng đồng tâm hiệp lực với tinh thần trách nhiệm cao,
hoàn thành mọi nhiệm vụ là mục tiêu của công tác tổ chức cán bộ.
b. Yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ
- Đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về cán bộ của tổ chức;
- Xây dựng, chuẩn bị, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ có chất lượng, đủ số
lượng, thích ứng với mọi hoàn cảnh thay đổi của tổ chức.
- Bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa về đội ngũ cán bộ;
- Phát huy được tính năng động, độc lập tự chủ, sáng tạo, tinh thần hợp
tác, ý thức trách nhiệm và tính hiệu quả của cán bộ.
c. Nội dung của công tác tổ chức cán bộ
- Tính toán và dự báo nhu cầu về cán bộ, nhân viên;
- Hoạch định và tuyển chọn cán bộ;
- Xây dựng các tiêu chuẩn về cán bộ;
- Đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ;
- Lựa chọn, đề bạt, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ;

12
động dùng cho nhà quản trị để tạo ra khả năng sử dụng những quyết định của họ
thông qua việc trao cho họ quyền ra quyết định".
Theo các tác giả của Viện nghiên cứu hành chính, trong cuốn: Một số
thuật ngữ hành chính, Nxb Thế giới, H-2000 thì: Quyền lực là tiềm năng của
một chủ thể để buộc các cá nhân, tổ chức khác phải phục tùng và hành động, xử
sự theo ý chí của mình.
c. Tập trung trong tổ chức
Là phương thức tổ chức trong đó mọi quyền ra quyết định được tập trung
vào cấp quản lý cao nhất của tổ chức.
d. Phân cấp quản lý
Phân cấp là một loại hình tổ chức và hoạt động quản lý tạo nên các cơ
quan có thứ bậc khác nhau trong một hệ thống, mỗi cấp được giao nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm nhất định để phát huy tính tự chủ, năng động và sáng tạo
của mình nhằm thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ nào đó đạt hiệu quả cao nhất.
e. Phân quyền trong tổ chức
Là xu hướng phân tán quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong
hệ thống thứ bậc.Phân quyền là hiện tượng tất yếu khi tổ chức đạt tới quy mô và
trình độ phát triển nhất định làm cho một người (hay một cấp quản lý) không thể
đảm đương được mọi công việc quản lý.
g. Ủy quyền trong quản lý tổ chức:
Là hành vi cấp trên trao cho cấp dưới một số quyền hạn để họ nhân danh
mình thực hiện những công việc nhất định. Trong các tổ chức khác nhau, mức
độ phân quyền sẽ khác nhau.
- Các nguyên tắc ủy quyền:
+ Cấp trên ủy quyền cho cấp dưới trực tiếp, không ủy quyền vượt cấp;
+ Ủy quyền không làm mất đi hay thu nhỏ trách nhiệm của người được ủy
quyền; quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của người ủy quyền và người được ủy
quyền phải bảo đảm và gắn bó với nhau;
+ Nội dung, ranh giới của nhiệm vụ được ủy quyền phải xác định rõ ràng;

Theo nghĩa này, chức năng điều khiển có những định nghĩa sau:
14
- Điều khiển, chỉ đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ tự
nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức, bao gồm
các hoạt động chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, phối hợp ra lệnh và đi trước của
người quản lý đối với các cá nhân, bộ phận thừa hành trong tổ chức.
- Chỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo
sát hoạt động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động
viên, khuyến khích, khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.
1.3.2. Nội dung chủ yếu của chức nănglãnh đạo
Để thực hiện chức năng lãnh đạo, người quản lý phải thực hiện các nội
dung sau:
- Hiểu rõ con người trong tổ chức. Đây là nội dung đầu tiên hết sức quan
trọng mà người quản lý phải nắm vững để có thể đưa ra các quyết định và lựa
chon đúng các phương pháp quản lý.
- Đưa ra các quyết định lãnh đạo thích hợp.
- Xây dựng nhóm làm việc và làm việc với nhóm.
- Dự kiến các tình huống và tìm cách xử lý tốt các tình huống xảy ra.
- Giáo tiếp và đàm phán.
Tóm lại, lãnh đạo là chức năng quản lý trong đó người quản lý phải
thường xuyên tiếp xúc, làm việc và tác động trực tiếp đến người lao động giúp
họ thực hiện kế hoạch đã đề ra đạt kết quả cao nhất. Để làm tốt chức năng này
người quản lý cần phải đạt được những yêu cầu sau:
- Có kinh nghiệm, có ý chí, có khả năng thực hiện, hướng dẫn, động viên
và giúp đỡ người khác hoàn thành công việc.
- Người quản lý phải biết lựa chọn việc nào làm trước, việc nào làm sau,
biết định hướng, hỗ trợ và kiểm tra những việc ấy.
- Người quản lý phải có khả năng làm việc với con người: biết giao tiếp
với cấp dưới, biết làm cho người khác vừa tuân phục, vừa mến mộ mình.
- Người quản lý phải có khả năng hiểu biết về con người nói chung, đặc

- Kiểm tra phải được thực hiện theo kế hoạch;
- Kiểm tra phải có tính đồng bộ;
16
- Kiểm tra phải công khai, chính xác và khách quan;
- Kiểm tra cần phù hợp với tổ chức và con người trong tổ chức;
- Kiểm tra cần phải linh hoạt và có độ đa dạng hợp lý;
- Kiểm tra phải có trọng điểm;
- Kiểm tra cần phải hiệu quả.
1.4.4. Quá trình kiểm tra
Theo định nghĩa trên thì quá trình kiểm tra gồm những giai đoạn:
- Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kiểm tra: Là những chuẩn mực mà
các cá nhân, tập thể và tổ chức phải thực hiện để đảm bảo cho toàn bộ tổ chức
hoạt động có hiệu quả. Các tiêu chuẩn của kiểm tra rất phong phú do tính đặc
thù của tổ chức, sự đa dạng của các kế hoạch, các chương trình, các sản phẩm và
dịch vụ.
- Đo lường và đánh giá sự thực hiện các hoạt động: Đo lường là để dự báo
được những sai lệch trước khi chúng trở nên trầm trọng, để rút ra những kết luận
đúng đắn về hoạt động và kết quả thực hiện cũng như nguyên nhân của những
sai lệch. Việc đo lường được thực hiện bằng những công cụ khoa học hợp lý.
Đánh giá là xem xét sự phù hợp giữa kết quả đo luờng so với hệ tiêu chuẩn.
- Tiến hành điều chỉnh các hoạt động: Là những tác động bổ sung trong
quá trình quản lý để khắc phục những sai lệch nhằm không ngừng cải tiến hoạt động.
1.4.5. Hình thức kiểm tra
Hình thức kiểm tra rất đa dạng, được phân loại theo nhiều tiêu thức:
Theo quá trình hoạt động kiểm tra
- Kiểm tra trước hoạt động: bao gồm kiểm tra sự chuẩn bị và kiểm tra
phòng ngừa các hoạt động (kiểm tra lường trước);
- Kiểm tra đồng thời với các hoạt động đang diễn ra là kiểm tra kết quả
của từng giai đoạn hoạt động.
- Kiểm tra phản hồi là kiểm tra được thực hiện sau khi hoạt động đã hoàn

trường đại học đó làvấn đề dạy, học, nghiên cứu khoa học, do vậy việc thi cử,
kiểm tra, đánh giá, thanh tra làcực kì quan trọng. Nếu chỉ chú trọng về mặt hành
chính có lẽ chưa đủ, mà phải đưa khoa, tổ bộ môn gắn với chức danh vốn có của
nó. Những cuộc họp của khoa, tổ bộ mônthường nghiêng về phân công lịch dạy,
18
đánh giá thành tích, bình bầu, xét tiến tiến và thiđua, rất ít có những buổi trao
đổi học thuật hay mời chuyên gia về báo cáo chuyên đề đểgiảng viên, sinh viên
học hỏi, thời gian rảnh rỗi các thầy cô còn phải lo chạy bên ngoàiđể kiếm sống.
Như vậy, khoa và tổ bộ môn phần nhiều không nắm được trình độ chuyênmôn,
việc tổ chức giờ dạy trên lớp của giảng viên, nếu có chỉ là những tiết thao
giảngdiễn lại “vở kịch” mà thường ngày vốn thiếu khán giả là những đồng
nghiệp.
Việc thi cử (thi giữa kì, kết thúc học phần), bảo vệ luận văn, luận án, đề
tài khoahọc còn nhiều bất cập.Kết thúc học phần sinh viên thường được giảng
viên giới hạn vàicâu hỏi nên họ đối phó là chỉ khi nào sắp thi thì mới học. Đánh
giá vấn đề này trong Báocáo tổng kết năm học 2008 – 2009 và phương hướng
nhiệm vụ năm học 2009 – 2010khối các trường đại học, cao đẳng có nhận xét:
“Chất lượng luận văn, luận án, đềtàikhoa học chưa cao. Một số hội đồng chấm
luận văn, luận án, đềtài khoa học cơ sở chưathật sự nghiêm túc thực hiện các
quy định của Bộ GD&ĐT.Việc đánh giá luận văn, luậnán, đềtài khoa học vẫn
còn tình trạng nể nang, xuê xoa, chưa thật sự nghiêm khắc,thẳng thắn và khách
quan. Nhiều nghiên cứu sinh không thật sự nghiêm túc trong họctập và thi cử;
gây dư luận xấu trong giới tri thức khoa học và xã hội; làm ảnh hưởngđến
kếhoạch đào tạo của các cơ sở đào tạo” dẫn đến chất lượng nhìn chung cònthấp,
chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Vấn đềthực hiện chức năng quản lý chất lượng đào tạo trong các
trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam
Nhìn vào kết quả tuyển sinh hàng năm của các trường đại học, cao đẳng,
chúng ta thấy rằng chỉ những trường thuộc loại “top” thì đầu vào tương đối cao,
số còn lại lấy trên điểm sàn, những trường mới thành lập thì tuyển sinh “xé rào”

Hiện nay chúng ta đang tiến hành đánh giá ngoài nhà trường về chất
lượng đàotạo thông qua các trung tâm kiểm định của Bộ, bản thân trong mỗi
trường cũng đã cóTrung tâm Đánh giá và Kiểm định để đánh giá bên trong
trường nhằm nâng cao chấtlượng sản phẩm đào tạo. Song điều cần đề cập là
hiện vẫn chưa có các trung tâm kiểmđịnh độc lập với Bộ để có kết quả khách
quan hơn; các trung tâm kiểm định trong mộttrường chưa tập hợp được những
20
người giỏi chuyên môn như chúng tôi phân tích ở trênnên khó có thể kết luận
được chính xác sản phẩm đầu ra.
Từ những phân tích trên đã đưa đến kết quả là nhiều cử nhân, kĩ sư ra
trườngkhông tìm được việc làm hoặc không làm được việc.Tập đoàn Intel đã rất
vất vả mớithuê được kỹ sư làm việc cho xưởng sản xuất của họ ở TP.HCM là
minh chứng rõ nétcho việc này. Khi công ty này tiến hành một cuộc thi đánh giá
theo chuẩn đối với 2000sinh viên công nghệ thông tin người VN, chỉ có 90
người trúng tuyển. Trong nhóm 90người đó, chỉ 40 người có đủ trình độ tiếng
Anh để làm việc cho Intel.
2.3.Đềxuất các giải pháp cho các hiện trạng vềthực hiện chức năng
quản lý giáo dục của Việt Nam
2.3.1 Giải pháp vềchính sách giáo dục
- Trước tiên cần xác định rằng hiện nay chúng ta phát triểngiáo dục đại
học theo hướng tăng số lượng hay chất lượng, hay cả hai; phát triển theochiều
rộng hay theo chiều sâu hay là cả hai? Mục đích của nó là phục vụ cho lao
độngsản xuất; cho đào tạo và phát triển nhân tài hay là nâng cao dân trí? Tất cả
những vấn đềtrên cần được làm sáng tỏ. Trên cơ sở đó, chúng ta mới cho phép
phát triển loại trườngđào tạo, phân cấp quản lý, định ra quy định, quy chế, thanh tra.
Để có thể kiểm soát số lượng tăng nhanh nhưng vẫn đảm bảo chất lượng
giáo dụcđại học cao đẳng thì cần đề ra những quy định, quy chế, tiêu chí nghiêm
ngặt và côngkhai trên phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện thành lập
một trường đại học mộtcách rõ ràng như: mục đích trường đó mở ra để làm gì;
trình độ được đào tạo (đại học,Sau Đại học); ngành được đào tạo; đội ngũ quản

trường đại học để lường trước những khả năng cóthể xảy ra.
2.3.2. Giải pháp cho vấn đềchỉ đạo quản lý trong một trường Đại học,
Cao đẳng
- Trưởng bộ môn là công cụ số 1 của lãnh đạo giúp nhà trường nâng
cao chấtlượng
Tổ bộ môn phải là nơi sinh hoạt chuyên môn, học thuật, vì thế Tổ trưởng
tổ bộmôn là hạt nhân đòi hỏi phải là người giỏi chuyên môn nhất, đạo đức tốt,
thường xuyêntổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo chuyên đề khoa học nhằm
22
nâng cao trình độ củamình, đồng nghiệp (một tháng nên tổ chức hai lần). Cách
làm này giúp tổ trưởng nắmđược trình độ của từng giảng viên (đặc biệt là những
giảng viên trẻ), chất lượng giờ dạycủa họ ở trên lớp, từ đó có kế hoạch bồi
dưỡng nâng cao trình độ cho cho tổ viên.
Để thấy được vai trò của Trưởng bộ môn quan trọng như thế nào, ví dụ là
ở trường Đại học Lô-mô-nô-xốp (Liên bang Nga), Trưởng bộ môn phải làViện
sĩ, trong khi đó Trưởng khoa chỉ là Tiến sĩ. Với kiến thức uyên bác của một
Viện sĩthì tổ bộ môn có thể thành lập một trường phái riêng trong học thuật.
Với bản thân giảng viên điều quan trọng nhất là tự nâng cao trình độ, cách
dạy vàhiệu quả giảng dạy. Làm được việc này, không thể thiếu sự hỗ trợ từ phía
nhà trườngnhư tạo điều kiện, khuyến khích (vật chất, tinh thần) cho giảng viên
nâng cao trình độ,đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra đôn đốc việc giảng
dạy, thi cử, tiến hành lấy ýkiến sinh viên về giảng viên, khảo sát nhu cầu của
sinh viên và giảng viên để có chínhsách tháo gỡ kịp thời.
- Lãnh đạo nhà trường cần coi phòng Đào tạo và phòng Khoa học
Công nghệ -Sau Đại học là công cụ số hai trong quản lý giáo dục.
Hai phòng này có vai trò chức năng đánh giá, thẩm định đầu vào, đầu ra
như thihết học phần, đồ án và khóa luận tốt nghiệp, các đề tài khoa học, các luận
văn Thạc sĩ,Tiến sĩ. Việc thành lập Hội đồng khoa học để đánh giá đầu ra cực kì
quan trọng.Hỗ trợcho phòng là các Tổ trưởng tổ bộ môn phù hợp với từng
chuyên ngành, đề tài khoa học.

quả ứng dụng cao.
- Đội ngũ chất lượng giảng viên đóng vai trò quyết định đối với chất
lượng đàotạo, để giải quyết bài toán về nâng cao trình độ giảng viên thì việc đưa
họ đi tu nghiệpnước ngoài hoặc mời những nhà khoa học đầu ngành, giảng viên
giỏi (kể cả người đã vềhưu) của Việt Nam tham gia giúp cán bộ giảng viên trẻ
nâng cao tay nghề chuyên môn ởcả hai khía cạnh lý thuyết và thực hành là việc
rất nên làm. Với đội ngũ giảng viên sắp ranghề và những người sắp tuyển, ngoài
việc đào tạo như hiện nay cũng nên kết hợp theohướng đào tạo như trên.
- Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì không thểthiếu sự đầu tư nâng
cấp, tu bổ cơ sở vật chất hiện có, đầu tư xây dựng mới (kí túc xá,khu giải trí, thể
24
thao), mở rộng quy mô nhà trường, trang bị thêm máy móc hiện đại. Đặcbiệt,
mỗi trường cần xây dựng khu thực nghiệm cho học viên và sinh viên thực tập
nhằmkhắc phục tình trạng học chay, dạy chay như hiện nay.
- Thực trạng động cơ học tập mang tính chất đối phó của sinh viên rất cần
đượcchấn chỉnh, khắc phục. Mỗi người có kinh nghiệm riêng, chúng tôi thường
áp dụng kiểmtra và điểm danh sinh viên đột xuất vào cuối buổi học, nếu vắng
mặt vượt quy định sẽcấm thi. Trong điều kiện cho phép, nhà trường nên trang bị
máy điện tử điểm danh sinhviên bằng vân tay như các công ty đang tiến hành.
Trước khi giảng bài mới, nên hỏi bàicũ và cho điểm nhằm đánh giá lại khả năng
tiếp thu kiến thức của sinh viên cũng nhưviệc dạy học của mình. Giảng viên có
thể bất ngờ hỏi kiến thức cũ và cho điểm.Họcxong một bài thì cho sinh viên bài
tập, mỗi tháng cho một đề tài để tăng khả năng thựchành và củng cố lý thuyết,
có chấm điểm.Dạy hết một chương, chúng tôi dành ra mộttiết thảo luận để hiểu
rõ vấn đề hơn, đồng thời cho điểm đối với những câu hỏi, ý kiếnxuất sắc của
sinh viên. Tất cả những điểm số đều được ghi vào sổ cá nhân, cuối học kìthì
cộng lại chia ra lấy điểm chung.
- Hình thức thi kết thúc học phần tốt nhất là vấn đáp, không giới hạn
chươngtrình. Cách tổ chức thi kiểu này đòi hỏi người thầy phải giỏi chuyên môn
và thù lao chohọ phải cao (thi vấn đáp thường rất mất thời gian, công sức của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status