VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HƯƠNG
XÂY DỰNG LỐI SỐNG ĐẸP CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS.NGUYỄN THU NGHĨA
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG LỐI SỐNG ĐẸP
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY ..........................................................................................................10
1.1. Khái niệm lối sống, lối sống đẹp ..............................................................10
1.2. Tầm quan trọng, nội dung và một số nhân tố tác động đến việc xây dựng
lối sống đẹp cho sinh viên các trường đại học sư phạm ở nước ta hiện nay ...26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ....................................................................................36
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG LỐI SỐNG ĐẸP
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng nhấn mạnh: có những thứ không cần dự án
triệu đô, không cần đến tiền mà vẫn có thể làm ngay, đó là dạy cho học sinh,
giáo viên đạo đức, lối sống làm người[85].
Song, có một thực tế là trong những năm gần đây, đạo đức, lối sống của
học sinh, sinh viên đang có những biểu hiện suy thoái, lệch lạc khiến các bậc làm
cha mẹ, những người làm công tác giáo dục và cả xã hội vô cùng lo lắng. Nhiều
hội thảo, nhiều chuyên gia đã đi sâu nghiên cứu, lí giải nguyên nhân cho vấn đề
này; nhiều giải pháp đã được đưa ra nhằm tăng cường công tác giáo dục đạo đức,
lối sống cho các em song vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên các
trường đại học sư phạm (ĐHSP) ở nước ta - những người sẽ lấy nhân cách để
giáo dục nhân cách, lấy trái tim để nuôi dưỡng tâm hồn học sinh - lại chưa được
quan tâm đúng mức. Mặc dù các trường ĐHSP đều nhấn mạnh mục tiêu đào tạo
ra những thầy cô giáo tương lai không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn
cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có lối sống trong sạch, lành mạnh,
là những tấm gương sáng để các em noi theo song một số môn học mang tính
giáo dục về phẩm chất, lối sống như học phần về đạo đức, kỹ năng sống, giáo
dục pháp luật… lại chưa được giảng dạy phổ biến tới mọi sinh viên trong nhà
trường mà thường chỉ được giảng dạy ở các khoa đặc thù và các khoa thuộc
1
chuyên ngành xã hội nhân văn. Điều này khiến chính sinh viên các trường ĐHSP
cũng rất mơ hồ với những quy chuẩn đạo đức, nghề nghiệp của mình dẫn đến hệ
quả là nhiều sinh viên ra trường khi trở thành giáo viên phổ thông chưa có lối
sống và cách hành xử đúng mực để học sinh noi theo. Chúng ta đều biết tác động
đến người thầy để làm thay đổi trò là hướng đi ngắn và hiệu quả nhất, bởi đạo
đức, nhân cách, lối sống người thầy sẽ quyết định đến đạo đức và lối sống của
trò, của thế hệ sau. Điều này cũng chính là đặc thù khác biệt của nghề giáo so
với những nghề khác - đó là đối tượng tác động và phương tiện tác động. Đối
nhiều chiều hướng khác nhau. Vì vậy, cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá, định
hướng thật đầy đủ về đạo đức nghề nghiệp, về lối sống của những giáo viên tương
lai, phải thực sự coi đó như là yếu tố nội lực của sự phát triển. Tuy nhiên, để người
thầy, người cô có đạo đức tốt, có lối sống đẹp của một nhà giáo thì không phải tự
nhiên có mà nó phải được xây dựng từ khi còn là sinh viên các trường sư phạm và
hơn thế - phải tích cực rèn luyện, phấn đấu trong suốt cuộc đời người giáo viên của
mình. Do vậy, xây dựng lối sống đẹp gắn liền với giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho các thế hệ sinh viên sư phạm cần phải được xem là một trong những biện pháp
then chốt của nhà trường sư phạm nhằm tạo ra những giáo viên có chuyên môn
vững vàng, có năng lực sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt. Bởi vậy, vấn đề giáo dục
lối sống, đạo đức nghề nghiệp và tình yêu nghề của giáo sinh thực sự đã trở nên cấp
thiết. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn “Xây dựng lối sống đẹp cho sinh viên
các trường đại học sư phạm ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu về lối sống
Lối sống và các vấn đề liên quan đến lối sống là những nội dung được các
nhà nghiên cứu và làm chính sách quan tâm từ rất sớm. Ngay từ cuối những năm
70 của thế kỉ trước, nhiều tài liệu về lối sống của Liên Xô đã được dịch ra tiếng
Việt, trong số này nổi bật là các cuốn “Lối sống xã hội chủ nghĩa và các cuộc
đấu tranh tư tưởng hiện nay” (Tập thể tác giả (1976), Nxb Mátxcơva (tiếng
Việt)); “Nghiên cứu xã hội học về lối sống ở Liên Xô” (Ủy ban Khoa học Xã hội
- Viện Xã hội học (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội). Sau đó là một số sách “Về lối
sống mới của chúng ta” của Phong Châu và Nguyễn Trọng Thụ (Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1983); “Bàn về lối sống và nếp sống chủ nghĩa xã hội” của Trần Thủ
3
Độ (Chủ biên) (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1985)…. Các cuốn sách này đã tìm hiểu
các vấn đề về lối sống chủ yếu dưới góc nhìn xã hội học, đưa ra những quan
sinh hoạt, văn hóa, gia đình v.v... nói lên đặc trưng của một xã hội nhất định.
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì vấn đề lối sống đang đặt ra
rất nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết và tác giả với những luận cứ của
mình chứng minh được những ưu thế nổi bật của lối sống xã hội chủ nghĩa - lối
sống mà theo tác giả phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn quá độ
lên chủ nghĩa xã hội.
Cuốn Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô
Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do tác
giả Nguyễn Viết Chức chủ biên, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001 gồm
các bài tham luận của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa, ở những góc
độ khác nhau đã đề cập đến tầm quan trọng và cần thiết của việc xây dựng tư
tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội.
Cuốn Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội do tác giả
Huỳnh Khái Vinh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 đã trình bày rất
kỹ về lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội để đi đến khẳng định, đây là những
yếu tố cơ bản trong đời sống xã hội của mỗi con người và mỗi nền văn hóa, gắn liền
với các cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của
toàn xã hội. Trên cơ sở phân tích thực trạng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội
mới, các tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm và giải pháp cơ bản
nhằm xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới.
Trong cuốn Lối sống dân tộc - hiện đại mấy vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, tác giả Đỗ Huy đề cập đến một số vấn đề
lý luận và thực tiễn của lối sống dân tôc- hiện đại xã hội chủ nghĩa mà theo tác
giả, đó là sản phẩm tất yếu của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Công
trình này không chỉ bàn về khái niệm lối sống, phân biệt lối sống với những khái
niệm gần gũi (nếp sống, mức sống, lẽ sống, chất lượng sống…) mà còn tập trung
phân tích và làm sáng tỏ bản chất xã hội của lối sống, nêu lên những yêu cầu của
lối sống dân tộc - hiện đại cũng như phân tích thực trạng đạo đức, lối sống và sự
biến đổi về giá trị, chuẩn giá trị của người Việt Nam hiện nay.
Chương trình KX.03/06-10 do Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển - ĐH
Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện. Công trình này tập trung làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh niên và lối sống của thanh niên.
6
Trên cơ sở các kết quả điều tra xã hội học, thực chứng từ tư liệu báo chí cùng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác, các tác giả đã phân tích rõ các xu hướng biến đổi
tiêu cực và tích cực trong lối sống hiện nay của thanh niên; chỉ ra các biểu hiện,
phân tích mức độ và cảnh báo hậu quả đối với sự phát triển xã hội. Từ đó, các tác
giả đề xuất các nhóm giải pháp thực tiễn liên quan đến đường lối, chính sách Nhà
nước; đến hoạt động của tổ chức đoàn, hội của thanh niên...
Tác giả Đỗ Long trong bài “Lối sống và nhân cách của thanh niên”, Tạp
chí Tâm lý học, số 8/1996 đã đề cập vấn đề mối quan hệ giữa lối sống và việc
hình thành nhân cách cho thanh niên. Tác giả Trần Thị Minh Đức với công trình
“Ảnh hưởng của môi trường ký túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú”, Tạp
chí Phát triển giáo dục, số 6/1995 đã phân tích thực trạng lối sống của sinh viên cả
mặt tích cực và tiêu cực trong môi trường ký túc xá, từ đó nêu lên những kiến nghị
cải tạo điều kiện sống ở ký túc xá và việc giáo dục lối sống cho sinh viên nội trú để
sinh viên trong môi trường nội trú có thể xây dựng lối sống phù hợp.
Một số luận án tiến sĩ nghiên cứu cụ thể hơn về thanh niên và lối sống của
họ ở một địa phương nhất định dưới lăng kính của tâm lý học, xã hội học như
luận án tiến sĩ của Nguyễn Ánh Hồng có tên “Phân tích về mặt tâm lý học lối
sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh ”; luận án tiến sĩ của Đặng Quang
Thành có tên “Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí
Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa”....
Ngoài ra còn có các bài viết“Tác động toàn cầu hóa đến đạo đức sinh
viên hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004 của Võ Minh Tuấn;
“Định hướng cái đẹp cho thanh niên”, Tạp chí Xây dựng Đảng (online - đăng
+ Phân tích thực trạng lối sống của sinh viên các trường ĐHSP ở nước ta
hiện nay để chỉ ra những ưu điểm và hạn chế.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xâydựng lối sống đẹp cho sinh
viên các trường ĐHSP ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lối sống của sinh viên của các trường ĐHSP ở
nước ta hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Lối sống của sinh viên các trường ĐHSP ở nước
ta trong các hoạt động cơ bản: Học tập, hoạt động chính trị - xãhội, đời sống văn
hoá tinh thần.
8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng ta về
lối sống, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc ý tưởng của các tác giả đi trước
về vấn đềnày.
- Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản: Lịch sử - lôgíc, phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, gắn lý luận với thực tiễn, điều tra xã hộihọc.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn bản chất và những đặc trưng cơ bản
của lối sống nói chung, lối sống của sinh viên ở các trường đại học sư phạm nói
riêng; giúp cho nhà trường và các nhà làm chính sách có cái nhìn đầy đủ về lối
sống của sinh viên đại học sư phạm hiện nay.
- Khảo sát thực trạng lối sống của sinh viên các trường đại học sư phạm
hiện nay làm cơ sở thực tế cho việc xây dựng chương trình, kế hoạch và giải
pháp cụ thể để xây dựng lối sống đẹp cho sinh viên đại học sư phạm.
- Làm tài liệu tham khảo để xây dựng các chương trình giáo dục lối sống,
đạo đức của sinhviên.
sống hào nhoáng, chạy theo giá trị đồng tiền,…). Như vậy, thuật ngữ “lối sống”
thường gắn với sự mô tả hay nhận định, đánh giá về một loại hoạt động sống hay
cách sống nào đó… Trong tiếng Việt, đôi khi người ta cũng sử dụng những khái
niệm gần gũi thay thế cho từ “lối sống” với ý nghĩa tương tự như “nếp sống”, “lẽ
sống”, “cách sống”, “phong cách sống”, “phương thức sống” v.v,..
10
Với tư cách là một thuật ngữ khoa học, khái niệm lối sống lần đầu tiên
được Max Weber sử dụng. Ông đã mô tả sự phân tầng xã hội theo một hình tam
giác mà đỉnh của nó là các tầng lớp trên, chủ sở hữu; phần giữa là tầng lớp trung
lưu; còn đáy của tam giác là những người nghèo. Mỗi tầng lớp lại được chia
thành các nhóm với địa vị, thu nhập, tiện nghi sinh hoạt khác nhau. Tuy vậy, lối
sống, kiểu sống của các nhóm xã hội này lại chỉ được mô tả bằng những số liệu
thống kê, nằm trong sự phân tích chung về phân tầng xã hội [64,tr.8].
Đến thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, phong trào nghiên cứu về lối sống
phát triển mạnh mẽ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Đi đầu trong số này
là các nhà xã hội học Xô viết với các định nghĩa của M.N. Rutkevich: “Lối sống
là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các
nhóm dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện
của hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [74, tr.11]; của Đôbơrianốp: “Lối sống
là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn
bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người” [19,
tr.213]; của Sôrôkhôva: “Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sinh
sống tiêu biểu, là phương thức hoạt động đã được xác định”[28, tr.12]; của
Daxêpin: “Lối sống là tập hợp những hình thức hoạt động của con người trong
một thể thống nhất với môi trường hoạt động của xã hội và cá nhân” với cách
phân chia 5 dạng hoạt động cơ bản của lối sống là: hoạt động cải tạo, hoạt động
định hướng, hoạt động giao tiếp và hoạt động nghệ thuật [31,tr.13]. Nhìn chung,
căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội,
các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”
[75, tr.10]. Ở góc độ xem xét tổng hoà các mặt cơ bản, những đặc điểm cá nhân,
tập thể, giai cấp và cộng đồng, GS.TS Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Lối sống
là tổ hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể
hiện mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh
hoạt đến thái độ hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người,
giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống”
[39, tr.29]. Nhà nghiên cứu Lê Như Hoa thì cho rằng: “Lối sống là một khái
niệm có tính đồng bộ và tổng hợp. Nó bao gồm các mối quan hệ kinh tế, xã hội,
tư tưởng, đạo đức, tâm lý, văn hóa và các mối quan hệ khác của con người, đặc
12
trưng sinh hoạt của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội
nhất định [27, tr.9]. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm:
“Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân
tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống:
trong lao động và hưởng thụ; trong quan hệ giữa người với người; trong sinh
hoạt tinh thần và văn hoá [76, tr.11].
Gần đây Trần Văn Bính và cộng sự nêu ra định nghĩa: “Lối sống là một
phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai
cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh
tế xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động
và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và
văn hóa” [4, tr.211].
Nhóm tác giả Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng và Lưu Thu Thủy
cho rằng: “Lối sống là những cách suy nghĩ, kỹ năng ứng xử (cách nghĩ, nếp sinh
đoạn hiện nay.
Tầm quan trọng của vấn đề lối sống còn được thể hiện ở các đề tài nghiên
cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước. Đề tài cấp Nhà nước KX.06 -13 đã nêu khái quát
trong báo cáo tổng kết chương trình KX - 06 (1991 - 1995): Lối sống, trong
những chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những con người cụ thể, những
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống. Môi trường là cái khách quan
quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống
của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư. Định nghĩa này đã chỉ
ra mối quan hệ biện chứng giữa lối sống và môi trường sống. Đề tài “Nghiên
cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp
giáo dục lối sống cho sinh viên” của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, 1995,
ngoài việc tìm hiểu cơ sở lí luận nghiên cứu lối sống nói chung và lối sống sinh
viên nói riêng đã tập trung nghiên cứu để xác định đặc điểm lối sống hiện
nay cũng như xu hướng diễn biến và những định hướng giáo dục lối sống cần
thiết cho họ. Nhà nghiên cứu Phạm Hồng Tung sử dụng cách tiếp cận đa chiều
của khoa học liên ngành trong định nghĩa về phạm trù lối sống: “Lối sống của
con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa
các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm
tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được
14
một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực
hành trong một khỏang thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác
biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử
củachúng” [72, tr.277].
Khái niệm “lối sống” lần đầu tiên được đề cập đến trong văn kiện Đại hội
Toàn quốc lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng. Các Đại hội sau đó, vấn
đề lối sống đã được đề cập nhiều lần. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban
trong cộng đồng. Vì vậy, đặc điểm của lối sống được thể hiện ở các hình thức
hoạt động sống của con người trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội, gắn
trực tiếp với hệ thống giá trị tinh thần văn hoá của con người. Có thể phân loại
lối sống cá nhân theo 3 cấp độ: Lối sống của dân tộc (hay quốc gia), lối sống của
giai cấp (hay nhóm xã hội), lối sống cá nhân.
- Lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và các điều kiện
sống của con người song nó có tính độc lập tương đối và có thể ảnh hưởng tích
cực hay tiêu cực đến phương thức sản xuất và các điều kiện quy định nó. Vì lối
sống gắn liền với con người - Về bản chất con người là sinh vật xã hội, họ tiến
hành các hoạt động sống một cách có ý thức, thậm chí có tính lựa chọn hành vi
cao. Điều này biểu hiện ở động cơ và tính mục đích của hoạt động sống cũng
như việc con người lựa chọn phương thức và phương tiện tiến hành hoạt động
sống của mình. Song việc lựa chọn các hệ giá trị của con người không phải hoàn
toàn tự do mà luôn luôn bị giới hạn và quy định bởi những điều kiện khách quan,
trong không ít trường hợp thì họ không có khả năng hoặc không được phép lựa
chọn cho hành vi của mình.
- Bản chất, đặc trưng của lối sống trong toàn bộ hoạt động sống là hoạt
động lao động sản xuất. Đây chính là hoạt động có tính chất nền tảng để con
người bồi dưỡng tính người và hình thành bản chất của mình trong việc sáng tạo
các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần.
- Nội dung và phạm vi của lối sống là tổng hòa các khuôn mẫu ứng xử,
cũng như các thể chế xã hội được vận hành theo một hệ giá trị xã hội nào đó
trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Chúng ta có thể phân chia nội
dung của lối sống trên bốn phương diện.Thứ nhất là nội dung kinh tế của lối
sống. Lối sống của một cá nhân, tập thể, một cộng đồng xã hội không phải là
16
một hiện tượng bẩm sinh, tự nhiên mà chịu sự quy định, ảnh hưởng và chi phối
lối sống, theo quan niệm mácxít, quần chúng lao động là chủ thể sáng tạo các giá
trị văn hoá tinh thần, và đồng thời cũng là đối tượng của công tác giáo dục và
định hướng các hoạt động văn hoá. Một đời sống tinh thần đa dạng,phong phú và
tiến bộ luôn là mục đích hướng tới của con người nói chung và cho sinh viên
ĐHSP nói riêng. Vì với mục tiêu giải phóng con người và tạo điều kiện cho con
người phát triển một cách toàn diện, hài hoà, năng động, triết lý giáo dục hiện
nay có sự khác hẳn về chất so với các nền giáo dục trước đó. Nội dung của nền
giáo dục mới - nền giáo dục xã hội chủ nghĩa sẽ tác động sâu sắc đến lối sống
của con người: nội dung giáo dục sâusắc, có tínhđịnhhướngvềtưtưởngchínhtrị, có
mốiliênhệchặtchẽ giữa giáo dục và thực tiễn, kết hợp giữa lý thuyết với thực
hành, hướng đến phát triển toàn diện song vẫn tôn trọng sự khác biệt…Do đólối
sống của sinh viên nói chung và sinh viên ĐHSP nói riêngbiểu hiện ở thái độ học
tập của họ, khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm, trau dồi nhân cách, đạo đức, khả năng tổ chức và tham gia các hoạt động
Đoàn, Hội, sinh hoạt tập thể…
- Biểu hiện cao nhất của lối sống là lý tưởng sống.Tiến sĩ Triết học Ivanop
định nghĩa: “Lý tưởng là cái vì nó mà người ta sống, dưới ánh sáng của nó người
ta thấy ý nghĩa của cuộc đời” [ 63, tr.57]. Lev Tonstoy nói “Lý tưởng là ngọn
đèn sáng chỉ đường. Không có lý tưởng thì không có phương hướng xác định;
không có phương hướng thì không có cuộc sống”.Denis Diderot cũng chỉ ra:
"Bạn sẽ không làm được gì nếu bạn không có mục đích, bạn cũng không làm
được gì vĩ đại nếu mục đích của bạn tầm thường".Người có lý tưởng sống cao
đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho
mình, gia đình, xã hội và đất nước. Lý tưởng này sẽ dẫn dắt họ vượt qua mọi
chông gai và can đảm, chấp nhận mọi nghịch cảnh. Có một lý tưởng để theo
đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời chính là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con
người. Chính lý tưởng sống cao đẹp đã làm nên con người vĩ đại - Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
- Lối sống là một khía cạnh của văn hóa (thậm chí GS.TS Đỗ Huy còn coi
“tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống của con người cùng với sự phát triển của
các năng lực hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo của con người…là những vấn đề
trung tâm của sự phát triển văn hóa” [35, tr.9]). Lối sống thể hiện thông qua thái
19
độ của một cá nhân hoặc cộng đồng, giá trị hoặc thế giới quan của cá nhân và
cộng đồng đó. Tuy vậy, các khía cạnh của một lối sống không phải lúc nào cũng
được hình thành một cách tự nhiên hoặc qua quá trình tiếp nhận một cách tự
nguyện. Quan niệm xã hội và sự nghiêm khắc, hà khắc, kỷ luật có thể hạn chế sự
lựa chọn lối sống có sẵn cho cá nhân. Chẳng hạn vấn đề lối sống, cách ứng xử
của giáo viên luôn chịu sự đánh giá khắt khe của dư luận xã hội - thậm chí trên
một diễn đàn lớn về giáo dục, người ta vẫn không ngừng tranh cãi gay gắt: giáo
viên cần mô phạm hay cần sự tự do, sáng tạo? Ngoài ra lối sống có thể bao gồm
quan điểm về chính trị, tôn giáo, sức khỏe, giới tính, đạo đức… Tất cả các khía
cạnh này đều đóng vai trò nhất định trong việc hình thành lối sống của một cá
nhân hay cộng đồng. Như vậy, lối sống đại diện cho văn hóa, có sự khác nhau ở
mỗi cá nhân, cộng đồng song nhìn chung ở thời đại nào con người cũng luôn
hướng đến lối sống chân - thiện - mỹ.
Ở đây, chúng ta cũng cần phân biệt khái niệm “lối sống” với một số khái
niệm gần gũi với nó. Nhiều người, đặc biệt các học giả tư sản có xu hướng đồng
nhất hai khái niệm lối sống và mức sống. Mức sống là một dấu hiệu nhận biết về
lối sống. Nó là thuật ngữ để chúng ta đánh giá mặt vật chất của lối sống dựa trên
chỉ số về sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân, cộng đồng.
Thông thường, mức sống phản ánh khía cạnh số lượng của đời sống, khía cạnh
kinh tế của phúc lợi xã hội, do đó phản ánh trình độ của nền sản xuất trong
những điều kiện lịch sử nhất định. Khi con người tiến hành sản xuất lao động
bằng những công cụ thô sơ thì năng suất rất kém, mức sống do đó cũng rất thấp.
thành một cách tự giác, đóng vai trò dẫn dắt, định hướng nhằm làm cho lối sống
của mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội có tính ổn định trong một thời gian dài. Và
nếp sống chínhlà mặt ổn định đó của lối sống. Đó là những hoạt động sống đã
trở thành thói quen, thành phong tục, tập quán, thành quy ước của cộng đồng.
Nếp sống cho thấy sự thích nghi và sức sáng tạo của con người trong những
hoàn cảnh nhất định. Nếp sống tạo nên sự đa dạng của lối sống, giúp duy trì
những kinh nghiệm sống mà loài người đã tích lũy được. Giáo sư Vũ Khiêu cho
rằng: Khi điều kiện sản xuất còn khó khăn, công cụ sản xuất còn thấp kém, thì
con người phải vất vả lắm mới có thể tạo ra những sản phẩm để duy trì sự tồn tại
của mình khiến mọi người đều phải cố gắng lao động, phát huy tối đa nội lực,
21
phải hợp tác chặt chẽ với nhau vì mục tiêu chung. Từ hoàn cảnh đó, tất nhiên
nảy sinh một lối sống cần cù, giản dị, đoàn kết... Khi những hoạt động được lặp
đi lặp lại hàng ngày thì dần dần nó trở thành một hệ thống tập quán, tạo nên nếp
sống. Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen
trong sản xuấtnhư săn tìm, trồng cấy; trong sinh hoạtnhư ăn, mặc, ở; trong tổ
chức đời sống xã hộinhư phong tục lễ nghi, đạo đức, phápluật... Trong khi đó,
phong cách sống, kiểu sống lại là hình thức biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của lối
sống thông qua những hoạt động, những lựa chọn, ứng xử… theo cá tính, thị
hiếu cá nhân hoặc theo điều kiện quy định trong một môi trường xác định tạo
nên nét riêng biệt trong lối sống của các cá nhân và các nhóm xã hội. Chẳng hạn,
lối sống đô thị có thể bao hàm nhiều kiểu sống, phong cách sống khác nhau: kiểu
sống ảo của giới trẻ, kiểu sống bầy đàn của một nhóm thanh niên, kiểu sống chết
mặc bay, phong cách sống nghệ sĩ, phong cách sống lập dị…. Như vậy, có thể
thấy, lối sống như một phạm trù trung tâm mà sự biểu hiện của nó trên các mặt
cụ thể đã tạo nên các khái niệm khác nhau. Mặt ý thức của lối sống là lẽ sống, lý
tưởng sống; mặt ổn định của lối sống tạo nên nếp sống, mặt trình độ của lối sống