Sự vận dụng phương pháp đàm thoại ttrong dạy học môn giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay - Pdf 47

Tr•êng §HSP Hµ Néi

Kho¸ luËn tèt

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA: GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: LÊ THỊ THÁI

TÊN ĐỀ TÀI:
SỰ VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐÀM
THOẠI TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN TRONG TRƢỜNG THPT Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp giáo dục công
dân

HÀ NỘI – 2012
SVTH: Lª ThÞ

Líp: K34B


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn
Quang Thuận, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình
nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận này.
Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo

DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƢỜNG THPT HIỆN NAY.......................32
2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong
dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay................................................32
2.2. Thực trạng việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học môn
GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay............................................45
2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên..............................................................48
2.4. Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
GDCD và hiệu quả trong việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong giảng
dạy môn GDCD ở trường THPT.....................................................................53
2.5. Vận dụng phương pháp đàm thoại vào bài 14: “Công dân với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” chương trình GDCD lớp 10.............................54
KẾT LUẬN.................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................65


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. GDCD: Giáo dục công dân
2. THPT: Trung học phổ thông
3. THCS: Trung học cơ sở
4. TCCN: Trung cấp chuyên nghiệp
5. PPDH: Phương pháp dạy học
6. GV: Giáo viên
7. HS: Học sinh
8. SGK: Sách giáo khoa
9. BGH: Ban Giám hiệu
10. GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
11. DVBC: Duy vật biện chứng
12. XHCN: Xã hội chủ nghĩa
13. TBCN: Tư bản chủ nghĩa
14. CNH – HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của môn GDCD ở trường THPT,
đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của những người làm công tác giáo
dục mà đặc biệt là những người giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn này. Họ
phải biết sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp trong quá trình dạy học

SVTH: Lª ThÞ

1

Líp: K34B


để giảm đi sự nặng nề của môn học, giúp cho học sinh có hứng thú học tập
môn GDCD, để học sinh tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ đó nâng cao
chất lượng hiệu quả học tập môn GDCD góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo
con người, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong hệ thống các PPDH, phương pháp đàm thoại là một trong những
phương pháp phát huy tốt tính tích cực của học sinh. Phương pháp đàm thoại
giúp học sinh tiếp thu kiến thức, lĩnh hội tri thức của môn học một cách nhanh
nhất.
Thực tiễn dạy học những năm gần đây cho thấy phương pháp đàm thoại
là một PPDH không thể thiếu trong quá trình dạy học môn GDCD. Tuy nhiên,
việc sử dụng phương pháp đàm thoại khi dạy học không phải là điều dễ dàng
đối với tất cả các giáo viên giảng dạy bộ môn này.
Do vậy, việc xây dựng phương pháp giảng dạy môn GDCD ở trường
THPT nhằm mục đích nâng cao nhận thức về bộ môn và nâng cao vai trò của
bộ môn ngang tầm phát triển của con người nói riêng và của xã hội nói chung,
là một trong những yêu cầu cấp thiết.
Phương pháp đàm thoại là phương pháp có thể đáp ứng những yêu cầu,
đòi hỏi cấp thiết trên, phương pháp này giúp hình thành tri thức cho HS ngay

việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong quá trình dạy học môn GDCD ở
trường THPT một cách cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học môn GDCD ở trường
THPT trên cơ sở đó đi tới tổng hợp, khái quát hóa và nghiên cứu lý luận, quy
trình soạn thảo và thực hiện phương pháp đàm thoại trong dạy học bộ môn,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn GDCD ở trường THPT ở nước
ta.


Phát huy năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh thông qua việc chủ
động tích cực trong lĩnh hội tri thức mới.
Nhằm xây dựng cho mình một phương pháp dạy học mới.
Tìm hiểu phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn GDCD trong
trường THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp dạy học
Tìm hiểu cơ sở lý luận chung và thực tiễn của phương pháp đàm thoại
Tìm hiểu các hình thức của phương pháp đàm thoại trong giảng dạy
môn GDCD
Vận dụng vào bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” trong chương trình GDCD lớp 10.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Cơ sở lý luận chung của phương pháp dạy học và phương pháp đàm
thoại trong dạy học môn GDCD.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học
môn GDCD ở trường THPT.

trình mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lý, phương pháp
còn được hiểu theo nghĩa là kế hoạch được tổ chức hợp lý trong quản lý…
Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để
đạt tới mục đích nhất định, là hoạt động sắp xếp theo một trật tự nhất định để
giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn.
Phương pháp bao gồm hai mặt: Mặt khách quan và mặt chủ quan. Các
quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể phải ý thức được tạo thành
mặt khách quan của phương pháp.
Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con
người, giúp con người nhận thức được hiện thực khách quan, nhận thức được
thực tiễn, mà hiện thực khách quan và thực tiễn vận động theo quy luật khách
quan của bản thân và chịu sự tác động hợp quy luật của thế giới xung quanh.
Do đó, phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay
thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người. Không
có phương pháp con người sẽ hành động không có kết quả, thậm chí phạm sai


lầm thất bại, đúng như R.ĐềCác nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII khẳng định:
Thiếu phương pháp thì người tài cũng có thể không đạt kết quả, có phương
pháp thì người tầm thường cũng làm được việc phi thường.
Phương pháp tồn tại và gắn bó với mọi hoạt động của con người. Đối
tượng của hoạt động đều có nội dung và hình thức vận động. Chủ thể được
đánh giá là có phương pháp khi chủ thể đó thao tác đúng với hình thức vận
động của đối tượng ấy. Phương pháp quyết định đi đến khả năng nhanh hay
chậm, quyết định sự thành công. Phương pháp, là cách thức con đường giải
quyết nhiệm vụ để đạt tới mục đích nhất định. Phương pháp có bốn đặc điểm
chính, đó là:
- Tính mục đích: Con người sử dụng phương pháp nhằm đạt được một
mục đích nhất định bằng con đường ngắn, tối ưu nhất.
- Tính cấu trúc có hệ thống: Phương pháp là tư duy khoa học điều hành

B. Người dạy
C. Người học

B

C

Quan hệ giữa A và B là quan hệ xử lý thông tin khoa học của người
dạy. Thông tin khoa học là nội dung tri thức đã được xác định trong SGK và
mang tính pháp lệnh.
Quan hệ giữa B và C là quan hệ tiếp nhận thông tin của người học. Sau
khi đã xử lý đầy đủ, chính xác các thông tin người dạy tìm ra phương thức
chuyển giao thông tin phù hợp với khả năng tiếp nhận thông tin của người học.
Quan hệ giữa C và A là quan hệ xử lý thông tin đã thu nhận được của
người học. Sau khi đã tiếp nhận thông tin do người dạy chuyển giao, người
học phải xử lý thông tin đó, biến tri thức khoa học thu nhận được thành tri
thức của bản thân mình.
Quan hệ giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học tạo thành một
vòng khép kín, vòng này là tiền đề cơ sở cho vòng khác tiếp tục. Việc thực


hiện liên tiếp các vòng đó của người dạy và người học sẽ giúp người dạy hình
thành và xây dựng phương pháp dạy học bộ môn với tư cách là khoa học giúp
người học nâng dần nhận thức khoa học và có thái độ học tập đúng đắn.
Bản chất của dạy học là quá trình xử lý, chuyển giao thông tin tri thức
của người dạy và quá trình thu nhận, xử lý thông tin đó của người học. Tính
hiệu quả của quá trình này không những phụ thuộc vào chất lượng của thông
tin mà quan trọng là phụ thuộc vào phương pháp thực hiện hoạt động đó. Vì
vậy để đạt hiệu quả người dạy cần có những phương pháp dạy học thích hợp.
Trong thực tiễn căn cứ vào các cấp độ của quá trình dạy học, khái niệm

động của học sinh nhằm đạt các mục tiêu dạy học”.
- Kazansky – Nazarova, lý luận dạy học, (sách dịch 1978). “Phương
pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh để học sinh lĩnh
hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo”.
- Iu. K. Babansky, giáo dục học, Matxcơva, (1983) “ Phương pháp dạy
học là những cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của giáo viên và
học sinh hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và
phát triển trong quá trình dạy học”.
- Nguyễn Ngọc Quang, lý luận dạy học đại cương, Hà Nội, 1989.
“Phương pháp dạy học là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối hợp,
thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục để trên cơ
sở đó và thông qua đó chỉ đạo sự học tập của trò, còn trò lĩnh hội và tự chỉ
đạo sự học tập của bản thân để cuối cùng đạt tới mục đích dạy học”.
- Giáo dục học, Nxb Giáo dục, (1996) “Phương pháp dạy học là tổ hợp
những thao tác phải tự giác liên tiếp được sắp xếp theo một trình tự hợp lý,
hợp quy luật khách quan mà chủ thể tác động lên đối tượng, nhằm tìm hiểu và
cải biến nó”.
Như vậy có thể nêu lên một cách khái quát về khái niệm phương pháp
dạy học là: “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của thầy và trò


trong mối liên hệ qua lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo hướng
dẫn tổ chức các hoạt động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm
đạt các mục tiêu dạy học đề ra”.
1.1.2 Phƣơng pháp dạy học Giáo dục công dân
Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã có những hiểu biết về thế giới
xung quanh nhưng phải đến khi công cụ lao động được cải tiến, sản xuất được
đẩy mạnh, xã hội phân chia thành giai cấp thì khoa học mới ra đời. Khoa học
là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, được xây dựng trên cơ sở nhận
thức hiện thực khách quan, là sự tổng kết những hiểu biết, kinh nghiệm của

kiện tốt cho nhau để hoàn thành toàn bộ quá trình dạy học. Trong sự tác động
đó sẽ bộc lộ những quy luật của quá trình dạy học môn Giáo dục công dân.
Do đó, những giáo viên dạy bộ môn Giáo dục công dân, phải đạt đến trình độ
khái quát những kinh nghiệm phong phú của thực tiễn dạy học môn Giáo dục
công dân, làm cơ sở khoa học cho việc xác định các phương pháp dạy học có
hiệu quả, phù hợp với nội dung, đặc thù tri thức môn học, tâm lý lứa tuổi và
mục tiêu của nhà trường Việt Nam. Từ đó, cho thấy phương pháp dạy học
Giáo dục công dân là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên
và học sinh nhằm phát hiện những quy luật của quá trình dạy học môn Giáo
dục công dân, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phương pháp
dạy học cụ thể để tổ chức thành công các hoạt động dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường trung học phổ thông.
1.2 Đặc điểm cơ bản của môn giáo dục công dân trong trƣờng THPT.
1.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của môn giáo dục công dân trong trƣờng
THPT.
a. Vị trí và đặc điểm của môn Giáo dục công dân trong trường THPT.
Mỗi môn học trong trường phổ thông đều có một vị trí nhất định, việc
xây dựng các môn học trong hệ thống chương trình đều xuất phát từ mục tiêu


đào tạo con người đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Điều 27, Luật Giáo
dục nước ta chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo hình thành nhân cách của con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc”.
Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: “Hết sức coi trọng giáo
dục chính trị, tư tưởng nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực

hướng tư tưởng cũng rất rõ ràng và nổi trội so với các môn khoa học khác. Có
thể nêu lên một số đặc điểm như sau:
Một là, nội dung tri thức môn Giáo dục công dân bao gồm phạm vi kiến
thức rộng lớn, bao quát toàn bộ đời sống xã hội, những kiến thức này được
khái quát từ những vấn đề rất gần gũi, thiết thực trong đời sống xã hội,
Hai là, các tri thức của môn Giáo dục công dân mang tính khái quát
cao, tính trừu tượng, tính quy luật, tính logic chặt chẽ. Đây là những tri thức
mang tính định hướng chính trị sâu sắc, nó trực tiếp đề cao đến những vấn đề
chính trị tư tưởng của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản Việt Nam, trực
tiếp xác lập, củng cố định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa cho học sinh.
Toàn bộ nội dung môn Giáo dục công dân từ lớp 10 đến lớp 12 tập trung vào
việc xây dựng cho học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản,
phương pháp luận đúng đắn với những biện pháp và hình thức khách quan.
Những kiến thức triết học - nền tảng của thế giới quan, phương pháp luận
khoa học đã trực tiếp giúp học sinh có được định hướng đúng đắn trong hoạt
động thực tiễn, biết cách giải quyết các mối quan hệ của bản thân với cộng
đồng trên các lĩnh vực và ở những phạm vi khác nhau. Những kiến thức về
kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, đạo đức… trực tiếp giúp cho học sinh
bước đầu biết tìm hiểu, phân tích, đánh giá và tự rút ra kết luận đúng đắn về


những vấn đề nóng bỏng của đất nước và thế giới. Đây là đặc điểm nói lên
khả năng to lớn và trách nhiệm nặng nề của môn giáo dục công dân trong
trường THPT.
Ba là, tri thức của môn Giáo dục công dân mang tính tích hợp, có quan
hệ chặt chẽ với nhiều môn khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học khác.
Ví dụ: Nguyên lý về sự phát triển trong triết học có liên quan đến Toán
học, Hóa hoc, Lý học, Sinh học. Khái niệm tồn tại xã hội trong triết học có
liên quan tới địa lý, dân số.
Bốn là, tri thức môn Giáo dục công dân gắn bó mật thiết với hiện thực,

hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, thiết thực của các môn khoa học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng cộng
sản Việt Nam, Pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
- Chức năng giáo dục: Bước đầu giáo dục cho học sinh những quan
điểm khoa học và cách mạng. Tư duy mới về thế giới và thời đại, về con
người và cộng đồng về các quá trình xã hội diễn ra trên thế giới và trên đất
nước ta, về cuộc đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa cái
tiến bộ và cái bảo thủ, lạc hậu. Trên cơ sở đó, hình thành niềm tin có cơ sở
khoa học về chế độ xã hội chủ nghĩa - lý tưởng cao đẹp mà con người luôn
luôn mơ ước.
- Chức năng phát triển: Bước đầu phát triển ở học sinh phương pháp tư
duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá các
hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học và tiến bộ, biết kế thừa những giá
trị tốt đẹp của dân tộc và nhân loại, biết ủng hộ cái mới đúng đắn và tích cực
đấu tranh chống cái cũ, lỗi thời, lạc hậu. Từng bước hình thành ở học sinh
thói quen và kỹ năng vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống, có định
hướng đúng đắn về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong các hoạt động xã hội,
trong cuộc sống hiện tại và sau này.


Các chức năng của môn Giáo dục công dân được gắn liền hữu cơ với
nhau và tác động, ảnh nhưởng lẫn nhau. Nắm tri thức là phương tiện để đi tới
mục đích giáo dục phẩm chất, tư tưởng và hình thành năng lực tư duy không
thể giáo dục chung chung, mà phải giáo dục tư tưởng trên nền tảng của tri
thức khoa học. Tri thức chính là mảnh đất làm nảy sinh quan niệm, ý tưởng và
hành động. Không có tri thức thì không có sự giáo dục nào cả. Môn Giáo dục
công dân góp phần giáo dục cho học sinh niềm tin vào chủ nghĩa xã hội - con
đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Nhưng niềm tin đó phải dựa trên cơ
sở khoa học của các tri thức Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Đạo đức học, Pháp luật học. Điều đó cho thấy những chức năng của

cũng phù hợp với phương pháp và yêu cầu của lý luận dạy học đại cương, tiến
trình dạy học cũng phù hợp với các tổ chức dạy học chung trong nhà
trường… Hiện nay, các nhà giáo dục học đã coi phương pháp dạy học các bộ
môn là những môn học về lý luận dạy học cụ thể. Quan niệm như vậy trong
một mức độ nào đó phản ánh được mối quan hệ của môn Phương pháp dạy
học môn Giáo dục công dân trong hệ thống các khoa học giáo dục .
- Quan hệ giữa phương pháp dạy học Giáo dục công dân với Logic học:
Logic học chú trọng vào nghiên cứu cách thức tư duy cụ thể của học
sinh như thế nào cho đúng đắn trong việc học tập bộ môn. Và phương pháp
dạy học Giáo dục công dân là môn học ngày càng gắn bó chặt chẽ với logic
học, những quy luật của logic học đã được sử dụng cụ thể của học sinh như
thế nào cho đúng đắn trong việc học tập bộ môn. Vì vậy mà logic là tính bắt
buộc đối với bất cứ môn học.
- Quan hệ giữa phương pháp dạy học với Tâm lý học.
Phương pháp dạy học Giáo dục cộng dân có quan hệ hết sức chặt chẽ
với môn Tâm lý dạy học, những tri thức về các quy luật tâm lý giúp cho


Phương pháp dạy học Giáo dục công dân có những hiểu biết về các quy luật
của hoạt động nhận thức, cơ chế của sự phản ánh, những quy luật hình thành
thuộc tính tâm lý cá nhân. Chính sự hiểu biết các quy luật hình thành nhân
cách và tâm lý của con người cho phép phương pháp dạy học giáo dục công
dân thiết lập cho mình những nguyên tắc, biện pháp, phương tiện dạy học có
hiệu quả nhất.
Có thể nói, Phương pháp dạy học Giáo dục công dân không thể tách rời
cơ sở khoa học của các khoa học có liên quan. Các khoa học trên là phương
pháp luận chung là cơ sở khoa học để phương pháp dạy học Giáo dục công
dân vân dụng. Do vậy mà muốn xem xét một kết luận về phương pháp dạy
học Giáo dục công dân, cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa nó với các khoa
học khác.

Những câu hỏi do giáo viên nêu ra nhằm gợi lại những tri thức đã có ở học
sinh, kể cả kiến thức học sinh đã thu nhận được ở cuộc sống hàng ngày giúp
cho học sinh dần tiếp cận với tri thức mới và cuộc sống.
Ví dụ 1: Để giảng bài 10: Quan niệm về đạo đức - GDCD lớp 10. Giáo
viên có thể đặt ra câu hỏi: Em hiểu thế nào là đạo đức? Con người có đạo đức
là con người như thế nào? Dựa vào hiểu biết của mình, em hãy lấy ví dụ về
đạo đức có thể là ca dao, tục ngữ danh ngôn nói về đạo đức.
Ví dụ 2: Để giảng bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và
tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước - GDCD lớp 11. Giáo viên đặt ra
những câu hỏi như: Thành phần kinh tế là gì? Tính tất yếu khách quan của sự
tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là gì? Các thành phần kinh tế là
gì, nó có vai trò, nội dung như thế nào? Thông qua hệ thống câu hỏi đó giáo
viên dẫn dắt học sinh đến việc lĩnh hội tri thức mới.
Như vậy, đàm thoại là phương pháp dạy học trong đó việc truyền thụ và
lĩnh hội tri thức mới của giáo viên và học sinh thông qua hệ thống câu trả lời
những yêu cầu gợi ý do giáo viên nêu lên những câu hỏi để học sinh trả lời.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status