Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay - Pdf 29

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********

HÀ NỘI - 2011

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
2
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân,
em còn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy Nguyễn Quang Thuận – người đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã
giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành
khóa luận này.
Do điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Hà

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
4
MỘT SỐ CỤM TỪ VIẾT TẮT

CĐSP : Cao đẳng sư phạm
CNDVBC : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
CNDVLS : Chủ nghĩa duy vật lịch sử
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐHSP : Đại học sư phạm
GDCD : Giáo dục công dân
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NDDH : Nội dung dạy học
PPDH : Phương pháp dạy học
PPGD : Phương pháp giảng dạy
PTDH : Phương tiện dạy học
QTDH : Quá trình dạy học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông


Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
6
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên của
thông tin tri thức. Thông tin và tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyền lực
tối ưu của mỗi quốc gia. Sự phát triển như vũ bão của khoa học – kĩ thuật và
công nghệ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân
loại cũng như tốc độ ứng dụng chúng vào đời sống xã hội tạo nên sự đa dạng
của thế giới. Tình hình đó đã làm thay đổi những quan niệm về giáo dục.
Ngày nay giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia
tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể
đong đếm được. Giáo dục không chỉ có chức năng truyền tải những kinh
nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng hơn là
trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực nội
sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng với một xã hội học tập thường xuyên,
học tập suốt đời. Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải
cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó
đổi mới PPDH là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi
mới giáo dục.
Nhận thức được việc đổi mới phương pháp giảng dạy và phương pháp
học tập là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà

Từ những yêu cầu bức thiết trên, với mong muốn góp một phần sức lực
nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng học tập môn GDCD ở trường
THPT hiện nay, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về
đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay”.

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
8
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đổi mới PPDH đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, là mối quan tâm
không chỉ của ngành Giáo dục và Đào tạo mà còn là mối quan tâm chung của
toàn xã hội.
Đến nay đã có nhiều hội thảo mang tầm cỡ cấp quốc gia đã diễn ra như:
Hội thảo khoa học “Đổi mới PPDH và phương pháp đánh giá đối với
giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sư phạm” được tổ chức tại Hội
trường lớn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tháng 11 năm 2006,
Hội thảo chuyên đề “Đổi mới PPDH” diễn ra ngày 17/3/2009 do trường
Đại học Sài Gòn tổ chức,
Hội thảo chuyên đề “Đổi mới PPDH theo hướng tích cực” diễn ra ngày
8/10/2010 do trường Đại học Quảng Nam tổ chức…
Đã có nhiều cuốn sách có giá trị lí luận và giá trị thực tiễn được xuất
bản như:
“Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa” của Trần Bá Hoành,
Nxb Đại học Sư phạm 2007.
“Đổi mới PPDH trong các trường Đại học, Cao đẳng, đào tạo giáo viên
THCS” – Tài liệu nâng cao năng lực PPDH cho giáo viên cốt cán các trường
ĐHSP, CĐSP – Dự án đào tạo giáo viên THCS – 2007.
Ngoài ra còn hàng loạt các bài nghiên cứu, tham luận, báo cáo khoa học
đăng trên các báo, các Kỉ yếu khoa học như:
Bài “Bản chất của việc dạy học lấy HS làm trung tâm” của Trần Bá

PPDH môn GDCD.
- Tìm hiểu thực trạng việc đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT
hiện nay, vạch rõ nguyên nhân của vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện đổi
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
10
mới PPDH môn GDCD ở trường THPT, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
khắc phục tình trạng trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng
- Vấn đề đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay.
- Hoạt động dạy và học môn GDCD ở trường THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở
việc tìm hiểu thực trạng việc đổi mới PPDH ở trường THPT Phả Lại (Hải
Dương), THPT Nguyễn Du (Hải Dương), THPT Xuân Hòa (Vĩnh Phúc).
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận lấy phương pháp nghiên cứu của CNDVBC, CNDVLS và
một số phương pháp khác như phân tích – tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát
hóa, so sánh, điều tra để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của khóa bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về PPDH môn GDCD
Chương 2: Đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam
hiện nay.


thường”.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
12
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phương pháp có vai trò rất
quan trọng. Trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, phương pháp là
đặc biệt cần thiết vì phải giúp cho người học bằng sự nỗ lực cố gắng của bản
thân, dưới sự hướng dẫn của giáo viên chiếm lĩnh được kiến thức bằng con
đường ngắn nhất. Vì thế kết quả giáo dục cũng như dạy học trong nhà không
chỉ được đánh giá ở mặt nội dung mà ở cả phương pháp. Để có phương pháp
đúng, con người không thể chỉ tích lũy kinh nghiệm thực tiễn mà trên cơ sở
kinh nghiệm con người cần lựa chọn, phân tích, rút ra những cơ sở lí luận để
chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Do đó, việc dạy học không thể chỉ tiến hành bằng
kinh nghiệm, bằng cách truyền nghề một cách đơn giản mà phải dựa vào cơ
sở lí luận khoa học về phương pháp được đúc kết từ thực tiễn, có như vậy quá
trình dạy học mới đạt kết quả cao hơn, vững chắc hơn.
Trong nhà trường, QTDH bao gồm rất nhiều yếu tố tác động qua lại
với nhau. Trong phạm vi hoạt động trên lớp của người dạy và người học,
QTDH gồm ba yếu tố cơ bản là nội dung môn học, người dạy, người học.
Các yếu tố cơ bản nằm trong một chỉnh thể thống nhất, ảnh hưởng tác
động qua lại lẫn nhau, có quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
Quan hệ giữa nội dung môn học và người dạy là quan hệ xử lí thông tin
khoa học của người dạy. Thông tin khoa học là nội dung tri thức đã được xác
định trong sách giáo khoa và mang tính pháp lệnh. Người dạy phải nắm vững
thông tin đó, tìm ra thông tin khoa học cơ bản nhất chi phối những thông tin
khác để chuyển giao cho người học, để người học có thể tiếp nhận và xử lí
chúng.
Quan hệ giữa người dạy và người học là quan hệ tiếp nhận thông tin
của người học. Sau khi xử lí đầy đủ, chính xác các thông tin người dạy tìm ra
phương thức chuyển giao thông tin phù hợp với khả năng tiếp nhận thông tin

cho một cấp học, ngành học, phương thức học.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
14
Cấp độ hai, PPDH là chiến lược và mô hình dạy học, là cách thức triển
khai một QTDH cụ thể, diễn ra theo một quy trình, trong một thời gian, không
gian nhất định và được cấu trúc bởi mục tiêu, nội dung dạy học, các hoạt động
dạy - học và kết quả dạy học. Tức là cách thức hình thành mục tiêu dạy học,
cách thức soạn thảo và triển khai nội dung dạy học, cách thức tổ chức hoạt
động dạy và hoạt động học, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của QTDH
nhằm hiện thực hóa mục tiêu, nội dung dạy học.
Cấp độ ba, PPDH là những PPDH cụ thể là cách thức tiến hành các
hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học
đã được xác định.
Những cấp độ đó cho thấy PPDH không phải là một thực thể độc lập,
tồn tại vì mục đích tự thân mà PPDH là hình thức vận động của một hoạt
động đặc thù – hoạt động dạy học. Do đó trong lí luận dạy học có khá nhiều
định nghĩa về PPDH, có thể nêu một vài định nghĩa về PPDH:
Trong cuốn sách: Lí luận dạy học – sách dịch 1978, các nhà giáo dục
học Kazanky và Nazarova định nghĩa: “Phương pháp dạy học là cách thức
hoạt động làm việc của giáo viên và học sinh để học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo” [32, tr.174].
Trong cuốn sách: Lí luận dạy học đại cương của tác giả Nguyễn Ngọc
Quang, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội năm 1989, phương pháp dạy học được
định nghĩa như sau: “Phương pháp dạy học là con đường chính yếu, cách thức
làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội
dung trí dục để trên cơ sở đó và thông qua đó chỉ đạo sự học của trò; còn trò
lĩnh hội và tự chỉ đạo sự học tập của bản thân để cuối cùng đạt tới mục đích
dạy học” [27, tr.47].
Cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa tuyệt đối chính xác về PPDH.

cơ sở lí luận đến các biện pháp tiến hành, từ mục đích chức năng, tính chất,
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
16
nguyên tắc, cách thức triển khai các biện pháp cho đến những gợi ý có tính
chất linh hoạt khi sử dụng các PPDH. Nội dung lí luận của PPDH cũng đề cập
đến việc đánh giá ưu điểm và hạn chế của PPDH, phạm vi sử dụng, hiệu quả,
những yêu cầu về phía người dạy và người học. Khi tiến hành các PPDH cần
hiểu sâu sắc và thấu đáo nội dung lí luận của phương pháp sẽ giúp người dạy
và người học có cơ sở lí luận vững chắc để triển khai các biện pháp dạy và
học trong thực tiễn. Ví dụ: Phương pháp thảo luận có nguyên tắc then chốt là
sự tiếp xúc trực diện giữa người học và người dạy, giữa người học với nhau,
và có sự tự do trao đổi ý tưởng hay quan điểm giữa các bên; phương pháp tìm
tòi thực nghiệm có nguyên tắc là sự biến đổi của đối tượng học tập để phát
hiện và tích lũy các sự kiện thực chứng, khái quát hóa chúng để tiến đến hình
thành khái niệm chứ không chỉ tri giác và ghi nhận thông tin có sẵn và đã
được tổ chức từ trước. Phương pháp tìm tòi nghiên cứu có nguyên tắc cốt lõi
là sự lĩnh hội độc lập nội dung học vấn của cá nhân người học.
 Tầng kĩ thuật
Nội dung lí luận của phương pháp dù đầy đủ, sâu sắc đến đâu cũng mới
chỉ là hình thái lí luận chứ chưa phải là PPDH trong thực tiễn. Điều quyết
định cho sự tồn tại trong hiện thực và hiệu quả của PPDH là hệ thống các biện
pháp dạy học. Đó là toàn bộ cách thức tác động cụ thể của người dạy và
người học vào đối tượng dạy học, qua đó để thực hiện được nhiệm vụ dạy
học. Toàn bộ cách thức tác động này gắn liền với hệ thống các công cụ kĩ
thuật (sơ đồ, bản đồ, mô hình và các phương tiện kĩ thuật khác) và được phân
thành các tiểu hệ thống, trong đó các biện pháp cụ thể kết hợp với nhau theo
một logic, tạo thành quy trình chặt chẽ. Vì vậy, trong thực tiễn dạy học, một
mặt phải xác định đầy đủ các bình diện thao tác đồng thời phải thiết lập được
quy trình các thao tác trong từng bình diện đó. Ví dụ: Phương pháp thảo luận

thấy được đặc trưng của từng phương pháp và phản ánh yêu cầu tất yếu của
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
18
việc tìm tòi các phương pháp, PTDH hiệu quả hơn đáp ứng xu thế phát triển
của dạy học hiện đại.
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại PPDH, nguyên nhân là do cách
tiếp cận và tiêu chí phân loại có sự khác nhau.
 Căn cứ vào thời gian xuất hiện có:
 PPDH hiện đại
 PPDH truyền thống.
 Căn cứ vào tam giác dạy học với ba đỉnh: người dạy, người học và
khách thể, các PPGD có bốn hướng chính:
 Phương pháp giáo điều: khách thể (mục tiêu học đường) được xác
định một lần cho mãi mãi, thầy giữ vai trò ưu thế tuyệt đối, là người nắm
vững quyền lực và tri thức; trò thụ động và mờ nhạt.
 Phương pháp cổ truyền: khách thể tái hiện; thầy giữ vai trò gợi mở
đối với HS; trò được định hướng.
 Phương pháp tích cực: khách thể sáng tạo; thầy giữ vai trò trọng tài;
trò chủ động vào cuộc.
 Phương pháp không gò bó: khách thể được sáng tạo, thầy mờ nhạt,
trò được giải phóng.
 Căn cứ vào mức độ tham gia và tính chất của hoạt động nhận thức
của người dạy và người học trong QTDH thì chia các nhóm phương pháp sau:
 Nhóm phương pháp chủ yếu dùng lời
 Nhóm phương pháp trao đổi
 Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động của người học
 Nhóm phương pháp làm việc độc lập của người học có sự trợ giúp
của giáo viên
 Nhóm phương pháp kích thích động cơ học tập của người học.

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
20
phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm phát hiện những quy luật của
QTDH môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và PPDH
để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường THPT.
1.2. Đặc điểm cơ bản của môn GDCD ở trường THPT
1.2.1. Đặc thù tri thức của môn GDCD ở trường THPT
Môn GDCD là môn học thuộc khoa học xã hội nhân văn, có vị trí quan
trọng trong trường THPT. Các tri thức của môn GDCD được truyền thụ cho
HS có thể mang nhiều nội dung khác nhau nhưng đều là tri thức lí luận chính
trị. Những tri thức đó được xây dựng trên các môn khoa học cơ bản như: Triết
học, Đạo đức học, Kinh tế chính trị học, CNXH khoa học, Pháp luật học và
các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước Việt Nam ta
hiện nay. Tri thức của môn GDCD được sắp xếp hợp lí, kết cấu chặt chẽ,
logic, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS, thể hiện rõ tính đặc thù, riêng
biệt, đồng thời khuynh hướng tư tưởng cũng rất rõ ràng và nổi trội so với các
môn học khác.
Nội dung tri thức môn GDCD bao gồm phạm vi tri thức rộng lớn, bao
quát toàn bộ đời sống xã hội. Những tri thức này được khát quát từ những vấn
đề gần gũi, thiết thực trong đời sống thường nhật của cá nhân công dân, gia
đình và xã hội đến những vấn đề lớn lao hơn của quốc gia, dân tộc, nhân loại.
Các tri thức của môn GDCD mang tính khái quát cao, tính trừu tượng,
tính quy luật, tính logic chặt chẽ. Đây là những tri thức mang tính định hướng
chính trị sâu sắc nó trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị tư tưởng của
giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp xác lập củng cố
định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa cho HS. Toàn bộ nội dung môn GDCD
ở THPT tập trung vào việc xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan
cộng sản, phương pháp luận đúng đắn với những biện pháp và hình thức khác
nhau.

SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD
22
Trang bị cho HS một cách tương đối có hệ thống những tri thức phổ
thông cơ bản, thiết thực của các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí
Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của nhà
nước Việt Nam.
Bước đầu giáo dục cho HS những quan điểm khoa học và cách mạng,
tư duy mới về thế giới và thời đại về con người và cộng đồng, về các quá
trình xã hội diễn ra trên thế giới và trên đất nước ta, về cuộc đấu tranh trên tất
các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ lạc hậu. Trên
cơ sở đó hình thành niềm tin có cơ sở khoa học về chế độ xã hội chủ nghĩa - lí
tưởng cao đẹp mà con người luôn mong ước.
Bước đầu phát triển ở HS phương pháp tư duy biện chứng trong nhận
thức và hành động, biết phân tích đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan
điểm khoa học và tiến bộ, kế thừa những giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân
loại, biết ủng hộ cái mới đúng đắn và tích cực đấu tranh chống cái lỗi thời, lạc
hậu. Từng bước hình thành ở HS thói quen và kĩ năng vận dụng những tri
thức khoa học vào cuộc sống, có định hướng đúng đắn về chính trị, tư tưởng,
đạo đức trong các hoạt động xã hội, trong cuộc sống hiện tại và sau này.
Nhận thức đúng đắn và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của môn
GDCD sẽ giúp GV tránh được những sai lầm có thể phạm phải như đơn giản
hóa, tầm thường hóa những tri thức khoa học của môn GDCD, thiếu tự tin,
sáng tạo trong dạy học bộ môn này.
1.2.3 Mục tiêu của môn GDCD
Mục tiêu của toàn bộ nội dung và phương pháp dạy học môn GDCD là
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông: Phát triển nhận thức, tâm hồn, ý
thức của học sinh nhằm thực hiện tốt phát triển cả về trí tuệ, tâm hồn và nhân
cách của học sinh. Mục tiêu cụ thể của môn GDCD ở trường THPT là:
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: K33A – GDCD

24
Mục tiêu của quá trình dạy học cụ thể thường rất đa dạng và phong phú
nhưng tập trung chủ yếu ở cả ba lĩnh vực: Cung cấp cho học sinh các tri thức
khoa học và phương pháp nhận thức các khoa học đó; hình thành và phát triển
kĩ năng hoạt động trí óc và thực tiễn cho HS; khơi dậy và phát triển các nhu
cầu tiềm năng của HS giúp các em làm chủ đời sống của mình. Trên cơ sở các
mục tiêu dạy học đã được xác định sẽ hình thành NDDH và PPDH phù hợp.
Trước đây quan niệm phổ biến cho rằng quan hệ giữa mục tiêu, nội
dung và PPDH là quan hệ tuyến tính theo sơ đồ sau:
Mục tiêu dạy học Nội dung dạy học Phương pháp dạy học
Trong mối quan hệ đó, GV thường dựa vào mục tiêu để cấu trúc
NDDH, sau đó căn cứ vào NDDH để soạn thảo và sử dụng PPDH thích hợp.
Trong trường hợp NDDH của môn học ổn định và tường minh thì sơ đồ trên
tạo thuận lợi nhất cho GV và HS lựa chọn phương pháp dạy và học.
Hiện nay, do mục tiêu và NDDH thường xuyên thay đổi và có tính độc
lập nhất định nên việc lựa chọn PPDH không chỉ căn cứ trực tiếp vào nội
dung môn học mà còn trực tiếp từ mục tiêu môn học. Đây là trường hợp mà
nội dung khá mới mẻ khi đó GV thường căn cứ vào mục tiêu và thực trạng
của HS để chọn PPDH phù hợp. Trong trường hợp này sự tương tác chặt chẽ
giữa mục tiêu, nội dung và PPDH theo sơ đồ sau:
M NH

N P Chú thích:
M : Mục đích dạy học

toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, nội dung của môn học này có sự đan
xen tri thức của các môn Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Pháp luật học, Đạo đức học… Vì vậy việc lựa chọn những PPDH

Trích đoạn Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD Một số biện pháp đổi mới PPDH môn GDCD trong trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status