Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của Chitosan từ xương mực đối với vi khuẩn Erwinia sp. gây bệnh thối ướt trên cà chua nguyên liệu sau thu hoạch - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

PHẠM VĂN TRUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA
CHITOSAN TỪ XƯƠNG MỰC ĐỐI VỚI VI KHUẨN
ERWINIA SP. GÂY BỆNH THỐI ƯỚT TRÊN CÀ CHUA
NGUYÊN LIỆU SAU THU HOẠCH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. TRANG SĨ TRUNG
ThS. NGUYỄN CÔNG MINH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu

Chữ viết tắt

CTS

Chitosan

DD

Độ deacetyl

VS

Vi sinh vật

MIC

Nồng độ thấp nhất để ức chế vi sinh vật
iii

MỤC LỤC
Trang

2.2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát 26
2.2.2. Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và độ deacetyl
của chitosan đến khả năng kháng Erwinia sp. 27
2.2.3. Bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thời gian bảo quản của dung
dịch chitosan đến khả năng kháng Erwinia sp 30
2.3. Phương pháp phân tích 31
2.3.1. Xác định độ nhớt biểu kiến của chitosan được đo bằng nhớt kế Rôto
Brookfield 31
2.3.2. Xác định hàm lượng ẩm và khoáng theo phương pháp của AOAC 31
2.3.3. Phương pháp xác định khối lượng phân tử 31
2.3.4. Xác định độ deacetyl theo phương pháp quang phổ 31
2.3.5. Phương pháp xác định trọng lượng phẩn tử trung bình 31
2.3.6. Xác định khả năng kháng khuẩn của chitosan bằng phương pháp đục
lổ 32
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Xác định các tính chất ban đầu của chitosan từ xương mực 33
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và độ deacetyl của Chitosan đến
khả năng kháng Erwinia sp 34
3.4. Kết quả nghiên cứu xác định độ bền về khả năng kháng Erwinia sp. của
chitosan khi bảo quản chitosan theo thời gian ở nhiệt độ lạnh (tº< 4ºC) 39
3.5. Kết quả nghiên cứu xác định độ bền về khả năng kháng Erwinia sp. của
chitosan khi bảo quản theo thời gian ở nhiệt độ thường (t º phòng) 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49
I. Kết luận 49
II. Đề xuất ý kiến 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 56
v


Hình 1.1. Xương mực 1
Hình 1.2. Công thức cấu tạo Chitosan 3
Hình 2.1. Chitosan dạng hạt 24
Hình 2.2. Vi khuẩn Erwinia sp. 25
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát 26
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ và độ deacetyl
của chitosan đến khả năng kháng Erwinia sp 27
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thời gian bảo quản của
dung dịch chitosan đến khả năng kháng Erwinia sp 30
Hình 3.1. Đường kính vòng kháng khuẩn của chitosan C và chitosan C1 35
Hình 3.2. Hình ảnh kháng Erwinia sp. của dung dịch CTS C và CTS C1 38
Hình 3.3. Sự thay đổi về độ nhớt và khả năng kháng Erwinia sp. của chitosan C và
chitosan C1 theo thời gian bảo quản ở nhiệt độ lạnh 40
Hình 3.4. Kết quả kháng Erwinia sp. của CTS C và CTS C1 bảo quản theo thời gian
ở nhiệt độ lạnh (tº < 4ºC) 43
Hình 3.5. Sự thay đổi về độ nhớt và khả năng kháng Erwinia sp. của chitosan C và
chitosan C1 theo thời gian bảo quản ở nhiệt độ thường (tº phòng) 44
Hình 3.6. Kết quả kháng Erwinia sp. của CTS C và CTS C1 bảo quản theo thời gian
ở nhiệt độ thường (tº phòng) 48
vii

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia ven biển Đông Nam Á, có 3260 km bờ biển từ
Móng Cái đến Hà Tiên và là vùng biển nhiệt đới nên Việt Nam có một tiềm năng
phong phú về nguồn lợi thủy sản.
Là một trong những ngành kinh tế trọng tâm của nền kinh tế quốc dân, ngành

nhiều nghiên cứu về chitosan từ nguồn nguyên liệu là vỏ tôm, còn chitosan được sản
xuất từ xương mực thì chưa có nhiều. Do đó, tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu khả
năng kháng khuẩn của chitosan từ xương mực đối với vi khuẩn Erwinia sp. gây bệnh
thối ướt trên cà chua nguyên liệu sau thu hoạch ” nhằm đánh giá khả năng sử dụng
loại chitosan này trong việc ức chế vi khuẩn Erwinia sp. gây bệnh trên cà chua cũng
như bảo quản cà chua sau thu hoạch.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đánh giá khả năng kháng khuẩn của chitosan
từ xương mực đối với vi khuẩn Erwinia sp gây bệnh thối ướt trên cà chua nguyên
liệu sau thu hoạch.
Nội dung nghiên cứu:
- Xác định ảnh hưởng của nồng độ dung dịch chitosan đến khả năng kháng
Erwinia sp.
- Xác định ảnh hưởng của độ deactyl của dung dịch chitosan đến khả năng
kháng Erwinia sp.
- Xác định ảnh hưởng của thời gian bảo quản của dung dịch chitosan đến khả
năng kháng Erwinia sp.

1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về chitosan từ xương mực
1.1.1. Xương mực
Gần đây, xương mực, một nguồn giàu β-chitin có chứa hàm lượng thấp của
các hợp chất vô cơ, đã trở thành có sẵn với số lượng xem xét việc phát triển như
một rác thải của các ngành công nghiệp thủy sản ở Brazil. Vì vậy, mục đích của
công việc này là sử dụng xương mực từ Loligo sanpaulensis và Loligo plei, loài

[49]. Tuy nhiên, nó cũng đã được gợi ý rằng γ-chitin có thể được giải thích hơn là
một biến dạng đơn giản của α và β các cấu trúc hơn là đa hình khác nhau [47].
Chitin và các dẫn xuất của nó, chủ yếu là chitosan, đã thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu và các ngành công nghiệp trong 30 năm qua để sở hữu vật lý-
hóa học của nó. Các polyme hiển thị hoạt động kháng khuẩn biocompatibility, phân
hủy sinh học và nó cũng tương tác mạnh với thuốc trừ sâu và các ion kim loại trong
dung dịch nước Solu chức [31], [42]. Do đó, họ có tiềm năng hữu ích cho các ứng
dụng trong y học, dược phẩm và nông nghiệp, và cũng như các tài liệu sinh học hấp
thụ cho sự hấp thu của các ion kim loại trong nước thải cũng như cho các ứng dụng
phân tích [16], [45].
Phế thải của ngành công nghiệp hải sản, chủ yếu là vỏ cua và tôm, là nguyên
liệu quan trọng nhất để tách chitin. Thật vậy, một lượng lớn vỏ cua và tôm được cấp
từ các ngành công nghiệp thủy sản và chúng được sử dụng để trích xuất các α-
chitin, các đa hình phổ biến nhất của chitin thương mại. Tuy nhiên, do cấu trúc nhỏ
gọn của nó, α- chitin là không hòa tan trong hầu hết các dung môi và nó chỉ hạn chế
lên trong các giải pháp độc hại có tính kiềm [47]. Do đó, thay đổi hóa học của
3

chitin, bao gồm deacetyl xảy ra của nó để sản xuất chitosan, phải được thực hiện
trong các hệ thống không đồng nhất mang đến cho các phản ứng không đầy đủ và
sản phẩm không đồng nhất. Mặt khác, β-chitin trình bày một cấu trúc mở hơn và nó
gần đây đã thu hút được sự quan tâm ngày càng tăng về việc cho phép một khả năng
tiếp cận tốt hơn với thuốc thử [18], [31]. Do đó, β-chitin là nhiều hơn phản ứng và
thuận lợi như một nguyên liệu ban đầu để chuẩn bị chitin thay thế hoàn toàn một
cách đơn giản [32]. Xương mực là những nguồn giàu nhất nguồn gốc của β-chitin,
nhưng hiện tại họ đang được coi là một từ chối không hấp dẫn từ việc xử lý mực
trong các ngành công nghiệp thủy sản.
1.1.2. Chitosan
Chitosan được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1859 bởi Rouget [56].
1.1.2.1. Cấu trúc phân tử của chitosan

tím. Đây là phản ứng dùng trong phân tích định tính chitosan.
+ Chitosan là một polymer mang điện tích dương nên được xem là một
polycationic (pH<6,5), có khả năng bám dính trên bề mặt có điện tích âm như
protein, aminopoly saccharide ( alginate), acid béo và phospholipid nhờ sự có mặt
của nhóm amino (-NH
2
).
+ Chitosan có tính kháng nấm, kháng khuẩn cao [7], [12], [26].
+ Trên mỗi mắt xích của phân tử chitosan có ba nhóm chức, các nhóm chức
này có khả năng kết hợp với chất khác tạo ra các dẫn xuất có lợi khác nhau của
chitosan (O-acetylchitosan, N- acetylchitosan, N-phatylchitosan).
+ Chitosan có tính chất cơ học tốt, không độc, dễ tạo màng, có thể tự phân hủy
sinh học, có tính hòa hợp sinh học cao với cơ thể [2], [12].
1.1.2.3. Đặc tính và cơ chế kháng khuẩn của chitosan
 Đặc tính kháng khuẩn của chitosan
Sau khi Allan, Kendra và Uchida phát hiện ra khả năng kháng khuẩn của
Chitosan và muối của nó, nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp tục đi sâu vào khía cạnh
này. Nhiều công trình đã được công bố và đã tạo ra nhiều cơ sở cho nhiều ứng dụng
trong y học và nhiều lĩnh vực khác. Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nghiên cứu
chính thức nào hoặc có rất ít các công trình đề cập đến vấn đề này. Chitosan có khả
năng ức chế nhiều loại vi sinh vật khác nhau. Tùy vào đặc tính của chitosan, loại vi
khuẩn và điều kiện nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã cho những kết luận khác
nhau:
5

Nghiên cứu của Wang (1992), dung dịch Chitosan (pH 5,5 và ) ở nồng độ 1-
1,5% thì ức chế hoàn toàn S.aureus sau hai ngày. Chang cũng nhận thấy rằng nồng
độ lớn hơn 0,005% có khả năng ức chế hoàn toàn S.aureus. Điều này cũng phù hợp
với kết quả có được của Darmadji và Izumimoto trong nghiên cứu về tác dụng của
chitosan trong bảo quản thịt. Nhiều nghiên cứu trên một số chủng vi khuẩn khác

đủ về khả năng kháng khuẩn đối với tất cả các đối tượng vi sinh vật, nhưng hầu hết
đều cho rằng khả năng kháng khuẩn liên quan đến mức độ hấp phụ chitosan trên bề
mặt tế bào. Trong đó, chitosan hấp phụ lên bề mặt vi khuẩn Gram (–) tốt hơn vi
khuẩn Gram (+). Một số cơ chế đã được giải thích như sau:
- Nhờ tác dụng của những nhóm
3
NH

trong chitosan lên các vị trí mang điện
âm ở trên màng tế bào vi sinh vật, dẫn tới sự thay đổi tính thấm của màng tế bào.
Quá trình trao đổi chất qua màng tế bào bị ảnh hưởng. Lúc này, vi sinh vật không
thể nhận các chất dinh dưỡng cơ bản như glucose cho sự phát triển bình thường dẫn
đến mất cân bằng giữa bên trong và bên ngoài màng tế bào. Cuối cùng dẫn đến sự
chết của tế bào. Theo giải thích của một số tác giả thì chính sự tác động giữa
polycation chitosan sẽ liên kết với polyme mang tính axit (polyanion) trên bề mặt tế
bào vi sinh vật tạo nên polyelectrolic đã gây khó khăn trong quá trình trao đổi chất.
- Chitosan có thể cản trở và làm mất cân bằng sự phát triển của vi sinh vật do
có khả năng lấy đi các ion kim loại đóng vai trò quan trọng trong thành phần
enzyme như
2
Cu

,
2
Co

,
2
Cd


1.1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng khuẩn của chitosan
Khả năng kháng khuẩn của chitosan phụ thuộc vào một vài yếu tố như loại
chitosan sử dụng (độ deacetyl, khối lượng phân tử ), pH môi trường, nhiệt độ, sự có
mặt của một số thành phần thực phẩm.
 Ảnh hưởng của pH môi trường:
pH có ảnh hưởng đến sự ion hóa của nhóm –NH
2
trên mạch phân tử chitosan.
pH càng cao mức độ ion hóa của nhóm –NH
2
càng thấp làm giảm khả năng kháng
khuẩn của chitosan. Nghiên cứu của Byung và cộng sự trên hai loại chitosan và hai
dẫn xuất
cho thấy Cadida albicans càng ít bị ức chế khi môi trường pH trở nên kiềm tính,
hiệu quả ức khuẩn cao nhất trong khoảng pH= (5-5,57).
 Ảnh hưởng bởi các loại vi khuẩn:
Joen (2001) cho rằng khả năng ức khuẩn của chitosan 0,1% đối với Gram(+)
hiệu quả hơn so với Gram(–). Một vài tác giả khác cho rằng chitosan hấp phụ lên bề
mặt vi khuẩn Gram(–) tốt hơn vi khuẩn Gram(+), điều này có thể phù hợp với
nghiên cứu của Lê Văn Khẩn trên Escherichia coli và V.parahaemolyticus. Theo
Chen và cộng sự (2001), nồng độ ức chế tối thiểu của chitosan (DD69) và các dẫn
xuất đối với một số vi khuẩn như sau [7], [9]:
8

Bảng 1.1. MIC của Chitosan và dẫn xuất đối với một số vi khuẩn
MIC (ppm)
Loại Chitosan

Chủng vi khuẩn



> 2000
> 2000

Trong đó: MIC : Nồng độ ức chế tối thiểu
DD69 : Chitosan có DD =69%
SC1 : Chitosan sulphonate 0,63%
SC2 : Chitosan sulphonate 13,03%
 Ảnh hưởng bởi trọng lượng phân tử hay độ nhớt của chitosan
Thí nghiệm kiểm tra khả năng kháng khuẩn của 6 loại chitosan và 6 loại
chitosan oligme với M
w
khác nhau đã được thực hiện trên 4 loại vi khuẩn Gram(–)
và 7 loại Gram (+) cho thấy chitosan thể hiện đặc tính kháng khuẩn hiệu quả hơn
chitosan oligome. Cho và cộng sự (1998) cho rằng khả năng kháng khuẩn của
chitosan đối với Escherichia coli và Bacillus spp tăng cùng với sự giảm độ nhớt
chitosan từ 1000 đến 10 cp. Một nghiên cứu khác đã kết luận sự phát triển của
Escherichia coli và Bacillus spp bị ức chế hiệu quả bởi chitosan (M
w
746 và
470kDa) hơn loại chitosan (M
w
1671 hay 1106 kDa). Tuy nhiên sự giảm trọng
lượng hơn nữa lại giảm hoạt tính kháng khuẩn của chitosan đối với 2 loại vi khuẩn
này. Đối với S.typhimurium, Wang (1992) kết luận chitosan với M
w
1106 và 224
9

kDa thể hiện yếu hoặc không thể hiện tính kháng khuẩn (M


, các nhóm -
3
NH

liên kết với các
nhóm chức mang điện tích âm trên bề mặt tế bào vi sinh vật, từ đó ức chế khả năng
phát triển của vi sinh vật [54].

 Ảnh hưởng bởi nồng độ chitosan:
Nồng độ chitosan càng cao khả năng ức khuẩn sẽ tăng. Tuy nhiên nồng độ
chitosan hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng chitosan.
10

 Ảnh hưởng bởi các tác nhân khác:
Dung môi hòa tan chitosan và các hợp chất bổ sung có thể tăng cường hiệu quả
ức khuẩn của chitosan. Thí nghiệm của Uchida (1989) cho thấy heptose tăng cường,
trong khi triose có liên quan đến sự mất hoạt tính kháng khuẩn của chitosan. Một số
nghiên cứu khác cũng cho thấy làm tăng kháng khuẩn của dung dịch của chitosan
nếu dùng các dung môi là acid citric, lactic và acetic. Nghiên cứu của Matsuhashi
và Kume cho thấy chitosan chiếu xạ có khả năng ức chế cao nhất đối với sự phát
triển của E.coli.
Một số nghiên cứu khác đã chứng tỏ khả năng kháng vi sinh vật tăng lên khi
sử dụng thêm phụ liệu tạo dẻo cho màng chitosan là Sorbitol trong bao gói thịt bò.
Tỷ lệ vi sinh vật tổng số giảm so với mẫu đối chứng là 73,86%, so với mẫu ban đầu
là 77% trong khi đó khả năng làm giảm vi sinh vật tổng số lại giảm đi cùng phụ liệu
tạo dẻo là glycerin. Ngoài ra hiệu quả kháng khuẩn của chitosan còn phụ thuộc vào
số lượng vi sinh vật trong thực phẩm và thời kì sinh trưởng và phát triển của vi sinh
vật [6], [7], [10].
1.1.2.5. Ứng dụng của chitosan

mềm, nang cứng… dùng làm chất mang sinh học để gắn thuốc, tạo ra thuốc
polymer có tác dụng chậm kéo dài [10].
 Trong công nghiệp
Các kỹ nghệ làm giấy, chế biến gỗ, điện tử, mực in, phim ảnh: Chitosan làm
phụ gia để tăng cường chất lượng sản phẩm.
Trong công nghiệp giấy, do cấu trúc tương tự cellulose nên chitosan được
nghiên cứu bổ sung vào làm nguyên liệu sản xuất giấy. Chitosan làm tăng độ bền,
dai của giấy, đồng thời việc in trên giấy cũng tốt hơn [12].
Trong công nghiệp dệt, dung dịch chitosan có thể thay hồ tinh bột để hồ vải.
Nó có tác dụng làm sợi tơ bền, mịn, bóng đẹp, cố định hình in, chịu được acid và
kiềm nhẹ. Chitosan có thể kết hợp với một số thành phần khác để sản xuất vải chịu
nhiệt, vải chống thấm, sản xuất vải cold [12].
12

Trong hóa mỹ phẩm: Chitosan được sử dụng để sản xuất kem giữ ẩm chống
khô da, làm mềm da do tính chất của chitosan là có thể cố định dễ dàng trên biểu bì
của da nhờ các nhóm
4
NH

. Các nhóm này liên kết với tế bào sừng hóa của da, nhờ
vậy mà các nhà khoa học đã nghiên cứu sử dụng chitosan làm các loại kem dưỡng
da ngăn ngừa tia cực tím [12].
Trong công nghiệp xử lý nước, nhờ khả năng làm đông tụ các thể rắn lơ lửng
giàu protein và nhờ khả năng kết dính tốt với các ion kim loại như:
2
Pb

,
Hg

Đức. Nhật được coi là nước dẫn đầu về công nghệ sản xuất và buôn bán chitin,
chitosan. Người ta ước tính sản lượng chitosan sẽ đạt tới 118 tấn/năm, trong đó
Nhật, Mỹ là nước sản xuất chính.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và sản xuất chitin, chitosan và ứng dụng của
chúng trong sản xuất phục vụ đời sống là một vấn đề tương đối mẻ. Vào những năm
1978-1980, trường Đại Học Nha Trang đã công bố quy trình sản xuất chitosan của
tác giả Đỗ Minh Phụng mở đầu bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, tuy
nhiên chưa có ứng dụng nào thực tế trong sản xuất.
Hiện nay nhiều cơ sở khoa học đang nghiên cứu sản xuất chitosan như:
Trường Đại Học Nha Trang, Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trung
tâm nghiên cứu polymer – Viện khoa học Việt Nam, Viện hóa thuộc Viện khoa học
Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Công nghệ và sinh học Thủy sản
- Viện nghiên cứu môi trường thủy sản 2,…Trong đó, các kết quả công bố gần đây
của các nhà khoa học thuộc trường Đại Học Nha Trang đã đi sâu nghiên cứu hoàn
thiện quy trình sản xuất ở bước cao hơn theo hướng giảm thiểu sử dụng hóa chất
trong xử lý, ứng dụng công nghệ enzyme.
Đáng kể nhất là các công trình nghiên cứu của Trần Thị Luyến và các cộng sự
đã sử dụng enzym papain, chitinase và vi khuẩn Lactic trong công nghệ sản xuất
chitosan. Những kết quả đó đã góp phần đáp ứng những yêu cầu cấp bách xử lý phế
liệu tôm đông lạnh và trước những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng chitin,
chitosan trên thị trường đầy tiềm năng hiện nay.
Chitosan đang được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm
nghiên cứu để nâng cao và mở rộng khả năng ứng dụng của nó.
Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên – Trung Tâm Khoa Học Tự Nhiên và
Công nghệ Quốc Gia, Học viện Quân y – Bộ Quốc phòng và Khoa hóa, Đại học
14

Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp cùng nghiên cứu tác dụng
hạ cholesterol trong máu của N,N,N-Trimethylchitosan (TMC). Theo tác giả tác
dụng hạ cholesterol của TMC là do trong phân tử của nó có chứa nhóm –

được đặt ra. Chitosan là hợp chất được điều chế từ nguồn thiên nhiên, chúng được
ghi nhận có tính bảo vệ niêm mạc. Đặc biệt ở nước ta chitosan cũng đã được nghiên
cứu về tác dụng kháng khuẩn đối với chủng vi khuẩn H.pylori với kết quả khả quan.
15

Các nhà khoa học Nguyễn Thị Ngọc Tú – Viện Hóa học, Trung tâm khoa học
và Công nghệ Quốc gia và Lê Hải Yến, Trần Bình Nguyên – Công ty Dược liệu
Trung Ương I hợp tác nghiên cứu tạo ra thuốc polymer có tác dụng chẩm kéo dài.
Các nhà khoa học thuộc khoa Dược – Dại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
nghiên cứu một dẫn xuất của chitosan ứng dụng trong kĩ thuật bao phim thuốc.
Hiện nay, nước ta cũng đã chế tạo được màng chữa tổn thương về da có tên là
Vinachitin do các ngành khoa học thuộc Viện Hóa học - Trung tâm khoa học Tự
nhiên và Công nghệ Quốc gia cùng các bác sĩ Trường Đại học Y khoa Hà Nội – Bộ
y tế phối hợp nghiên cứu. Màng vinachitin được dùng để chữa các viết thương ở
diện rộng và tương đối sâu. Chúng có khả năng hòa hợp sinh học rất cao và thúc
đẩy việc gắn liền vết thương, chúng bị phân hủy sau hai tuần. Nó có tác dụng bảo
vệ, chống nhiễm trùng, chống mất nước, tăng khả năng tái tạo da và đặc biệt khi vết
thương lành không để lại sẹo.
Qua nghiên cứu của Châu Văn Minh và cộng sự thuộc Viện Hóa học các hợp
chất tự nhiên, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia đã điều chế
được chế phẩm BQ-1 với nguyên liệu chính là chitosan có tác dụng bảo quản quả
tươi (cà chua, nho, vải…) rất tốt. Chế phẩm này có tác dụng chống mốc, chống sự
phá hủy của một số nấm men, vi sinh vật Gram (–) trên các loại hoa quả. Từ kết quả
nhận được, Châu Văn Minh tiếp tục khả năng bảo quản thực phẩm tươi sống của
BQ-1 đã kéo dài được thời gian sử dụng của sản phẩm trong một thời gian nhất
định.
Ở Việt Nam, chitosan cũng đã được sử dụng thay hàn the trong sản xuất chả
giò, bánh cuốn, banh su sê… với vai trò như một chất phụ gia thực phẩm. Sở
thương mại Hà Nội, Viện dinh dưỡng, Viện Hóa học và Hội khoa học Kỹ thuật an
toàn thực phẩm hợp tác nghiên cứu và sản xuất phụ gia chitosan – PDP (có

chất lượng cảm quan đòng thời đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu
dùng [4], [6], [7].
1.2. Tổng quan về cà chua, bệnh thối ướt ở cà chua
1.2.1. Giới thiệu về cà chua
Cà chua đem lại cho con người một nguồn dồi dào các vitamin như vitamin C,
vitamin A, vitamin K, vitamin B cùng một số chất khoáng như K, Mg, Cr, Cu, Fe,

Trích đoạn Tổng quan về cà chua, bệnh thối ướt ở cà chua Thành phần hóa học của cà chua Bệnh thối ướt ở cà chua Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và độ deacetyl của Chitosan đến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status