ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ LÒ SIÊU TỚI HẠN CHO
CÁC NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THAN ĐỂ GIẢM
PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Nguyễn Thị Thu Huyền
iii LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế hầu hết thành công đều gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ ít
hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của ngƣời khác. Là một cử nhân Môi trƣờng cách
đây hơn 10 năm và suốt hơn hai năm học cao học 2011-2013 tại Khoa Môi trƣờng
của trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại Học Quốc gia Hà Nội, tôi luôn ghi nhớ
và biết ơn các Thầy cô giáo trong khoa, những ngƣời đã dành tâm huyết và kiến
thức của mình truyền dạy và tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo cho những thế hệ học trò
nhƣ tôi trong quá trình học tập tại trƣờng cũng nhƣ giúp đỡ trong quá trình công tác
sau này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Môi trƣờng của
trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, đặc biệt xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Lƣu
Đức Hải, ngƣời đã tận tình giúp đỡ và hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận
văn “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ lò siêu tới hạn cho các nhà máy nhiệt điện
than để giảm phát thải khí nhà kính”. Đồng thời, xin chân thành cảm ơn đến Ban
lãnh đạo Trung tâm Tƣ vấn Nhiệt điện, Điện Hạt nhân và Môi trƣờng cũng nhƣ Ban
lãnh đạo Viện Năng lƣợng nơi tôi công tác và gia đình tôi đã tạo điều kiện cho tôi
học tập và thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Kết quả nghiên cứu và luận văn này đƣợc thực hiện trong khoảng thời gian
gần 1 năm, xuất phát từ nhu cầu thực tế về tiết kiệm nhiên liệu, đổi mới công nghệ
và giảm phát thải KNK trong sản xuất nhằm góp phần giảm tác động do biến đổi
khí hậu. Đây là một hƣớng tiếp cận khá chuyên sâu và đặc thù, nên dù đã cố gắng
hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhƣng chắc chắn không
tránh đƣợc những thiếu sót. Kính mong nhận đƣợc sự đóng góp quý báu của các
Thầy, Cô và các bạn.
1.2.5. Những thách thức trong phát triển công nghệ SC tại Việt Nam 28
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 31
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát thu thập thông tin 31
2.2.2. Phƣơng pháp chuyên gia 31
2.2.3. Phƣơng pháp kế thừa 32
2.2.4. Phƣơng pháp tính toán 33
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
v
2.2.5. Phƣơng pháp phân tích so sánh 38
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. HIỆN TRẠNG PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TỪ CÁC NHÀ MÁY NHIỆT
ĐIỆN THAN 39
3.2. TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG GIẢM PHÁT THẢI KNK KHI ÁP DỤNG
CÔNG NGHỆ SIÊU TỚI HẠN 40
3.2.1. Tính toán lƣợng giảm nhiên liệu tiêu thụ khi áp dụng công nghệ SC 40
3.2.2. Tính toán mức giảm phát thải khí nhà kính khi áp dụng công nghệ SC . 44
3.2.3. Phân tích khía cạnh kinh tế của việc ứng dụng công nghệ siêu tới hạn 49
3.3. PHÂN TÍCH CÁC RÀO CẢN TRONG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
SIÊU TỚI HẠN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 53
3.3.1. Các rào cản về kỹ thuật 53
3.3.2. Các rào cản về kinh tế và quản lý 56
3.3.3. Rào cản về quản lý 57
3.3.4. Giải pháp khắc phục 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
Bảng 3.7. So sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa các loại lò (trƣờng hợp Không có điều
kiện về tài chính và tín dụng CO
2
) 50
Bảng 3.8. So sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa các loại lò (trƣờng hợp Có điều kiện về
tài chính và tín dụng CO
2
[8, 15]) 51 Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
vii DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Dự báo mức tăng phát thải KNK từ lĩnh vực phát điện [11] 5
Hình 1.2. Phân loại nguồn điện theo chủ sở hữu 10
Hình 1.3. Cơ cấu công suất đặt và điện năng các năm từ 2009 đến 2011 11
Hình 1.4. Sơ đồ cấu tạo của lò than phun PC 13
Hình 1.5. Cấu tạo lò CFB của nhà máy điện Cao Ngạn theo thiết kế của Alstom 15
Hình 1.6. Sơ đồ nguyên lý nhà máy nhiệt điện áp dụng lò hơi trên tới hạn 17
Hình 1.7. Đồ thị T-S chu trình nhà máy nhiệt điện áp dụng lò hơi trên tới hạn 18
Hình 1.8. Hiệu suất của các các nhà máy (Cơ sở nhiệt trị thấp) 18
Hình 1.9. Lò hơi trực lƣu 2 dòng khói của nhà chế tạo Mitsui Babcock 21
Hình 1.10. Lò hơi trực lƣu kiểu tháp của nhà chế tạo Mitsui Babcock 21
Hình 1.11. So sánh về hiệu suất của các nhà máy dƣới tới hạn, siêu tới hạn và trên
siêu tới hạn 23
2
capture and storage)
CFB
Lò hơi lớp sôi tuần hoàn (Circulation fluidise Bed)
CO
2
Khí Các bon níc
EVN
Tập đoàn Điện lực Việt Nam
IGCC
Công nghệ khí hóa chu trình hỗn hợp
(The integrated gasification combined cycle)
IPCC
Ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
LNG
Khí thiên nhiên đƣợc hóa lỏng (Liquefied Natural Gas)
KNK
Khí nhà kính
MW
Mega Watt (1.000.000 watt)
NMĐTN
Nhà máy điện tích năng
PC
Lò đốt than phun (Pulverised combustion)
PNG
Khí tự nhiên theo đƣờng ống
(QHĐ 7) cho thấy tốc độ phát triển của nhiệt điện đặc biệt là nhiệt điện than chiếm
tỷ lệ lớn, lên tới trên 56% tổng công suất nguồn điện vào năm 2030 so với gần 19%
hiện nay. Tƣơng ứng với tỷ lệ tăng nguồn điện này, lƣợng nhiên liệu than cung cấp
cho điện sẽ tăng đáng kể từ 31,7 triệu tấn năm 2015 lên 77,7 triệu tấn năm 2020;
112 triệu tấn năm 2025 và lên đến 190,7 triệu tấn năm 2030. Giai đoạn sau năm
2015, nhu cầu nhập khẩu than phục vụ cho phát điện sẽ tăng nhanh khoảng hơn 37
triệu tấn than năm 2020 và gần 140 triệu tấn năm 2030. Tƣơng ứng với sự tăng
trƣởng tham vọng của lƣợng điện phát từ nguồn nhiên liệu là than thì lƣợng phát
thải CO
2
dự kiến tăng 443,8 triệu tấn so với 47.227 nghìn tấn hiện nay (tính cho
năm 2010).
Xét về mặt công nghệ, Việt Nam hiện chủ yếu sử dụng hai loại công nghệ lò
hơi có thông số hơi dƣới và cận tới hạn cho các nhà máy nhiệt điện than, tập trung ở
2 dạng (1) công nghệ đốt than phun (PC) và (2) công nghệ lò tầng sôi (CFB). Công
nghệ đốt than của Việt Nam thuộc dạng công nghệ truyền thống hiệu suất thấp, sửa
chữa nhiều gây tốn kém và phần lớn thiết bị điều khiển tự động theo công nghệ cũ
không đáp ứng đƣợc những yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Theo kế hoạch phát triển trong QHĐ 7, lƣợng than tiêu thụ lớn và lƣợng phát
thải khí nhà kính trở nên đáng ngại đặt ra nhu cầu cấp thiết trong việc cải tiến công
nghệ để nâng cao hiệu suất nhằm tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu phát thải khí
nhà kính đáp ứng mục tiêu “tăng trƣởng xanh” đặt ra trong kế hoạch phát triển kinh
tế quốc gia theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 trong đó nêu rõ
nhiệm vụ của từng giai đoạn về giảm cƣờng độ phát thải khí nhà kính, giảm tiêu hao
năng lƣợng và giảm lƣợng phát thải KNK trong các hoạt động năng lƣợng.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
2
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
3
Đây đƣợc coi là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nƣớc và là cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu này
cho một lĩnh vực đƣợc đánh giá có “đóng góp” đáng kể vào lƣợng phát thải KNK
của Việt Nam.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
a. Mục tiêu
+ Phân tích và so sánh mức giảm phát thải KNK khi áp dụng công nghệ
siêu tới hạn (đƣợc hiểu là siêu và trên siêu tới hạn SC và USC).
+ Đánh giá đƣợc tiềm năng và rào cản khi áp dụng công nghệ siêu tới hạn
vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Hệ thống điện VN từ nay đến 2030;
- Các nhà máy nhiệt điện đốt than.
3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu Công nghệ lò hơi siêu và trên siêu tới hạn.
- Đánh giá tình hình sử dụng và phát triển công nghệ siêu tới hạn trên thế
giới.
- Phân tích khả năng áp dụng công nghệ siêu tới hạn tại Việt Nam.
- Phân tích khả năng tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải KNK khi áp dụng
công nghệ siêu tới hạn.
- Phân tích rõ những thuận lợi và khó khăn, các rào cản khi áp dụng Công
nghệ siêu tới hạn ở Việt Nam.
Trong đó:
Than
27.976
72.671
157.139
233.467
379.938
Dầu
2.740
1.288
169
259
206
Khí
28.747
33.203
44.183
63.511
63.658
Kết quả dự báo phát thải CO
2
ở bảng 1.1. cho thấy:
- Tổng lƣợng phát thải CO
2
tăng nhanh, đến năm 2030 lƣợng CO
2
tăng lên
443.802 nghìn tấn, gấp khoảng 7,5 lần so với lƣợng CO
2
Hình 1.1. Dự báo mức tăng phát thải KNK từ lĩnh vực phát điện [11]
Mức phát thải nhƣ đƣợc dự báo cho thấy: lĩnh vực nhiệt điện sẽ đóng góp một
tỷ lệ phát thải KNK lớn trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là nhiệt điện than.
Điều này đồng nghĩa với việc sẽ góp phần không nhỏ vào những tổn hại do biến đổi
khí hậu gây ra.
Mức phát thải này đƣợc tính toán dựa trên kịch bản phát triển bình thƣờng có
xem xét đến những tiến bộ về công nghệ, trong đó một vài các nhà máy nhiệt điện
than đã có xem xét đến việc sử dụng công nghệ lò trên tới hạn SC.
Tuy nhiên, với tiến bộ hơn nữa của khoa học và công nghệ trong thời gian tới,
mức phát thải này có thể giảm hơn nữa. Đặc biệt nếu áp dụng đồng thời những
chính sách kiểm soát, giảm thiểu và công nghệ mới trong tƣơng lai. Giả thiết áp
dụng công nghệ tiên tiến USC, nhƣ kịch bản nghiên cứu của luận văn, để minh
chứng cho tiềm năng tiết kiện nhiên liệu, giảm phát thải KNK và phát triển thị
trƣờng tín dụng Cacbon.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
6
Kết quả tính toán giảm phát thải theo các phƣơng án giả thiết đƣợc trình bày ở
phần tiếp sau đây của báo cáo.
Lƣợng phát thải CO
2
và các loại KNK khác từ lĩnh vực nhiệt điện sẽ liên tục
gia tăng qua các giai đoạn phát triển trong QHĐ 7 tới năm 2030, từ mức phát thải
CO
2
dƣới 47,2 nghìn tấn năm 2010 tăng tới gần 444 triệu tấn năm 2030, gần 8 lần.
7
đông dân cƣ, có 2 đồng bằng lớn (đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long), nơi ở
của hơn một nửa dân số Việt Nam rất dễ bị tác động do nƣớc biển dâng (và liên
quan tới vấn đề xâm nhập mặn) [5]. Biến đổi khí hậu còn làm gia tăng tác động và
mức độ nghiêm trọng của các sự cố thời tiết nhƣ tăng giảm giá trị cực trị của nhiệt
độ không khí, thay đổi lƣợng mƣa, dòng chảy ở các vùng miền,
Tƣơng tự nhƣ vậy, nhiều vùng đất ở thƣợng nguồn, vốn là nhà của những
ngƣời nghèo nhất và sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì sự thay đổi khí hậu nhƣ
tính bất thƣờng của lƣợng mƣa và thời tiết làm cho những đối tƣợng này dễ bị tổn
thƣơng. Điều này cùng với những tác động lan rộng khác của biến đổi khí hậu có
thể hủy hoại những thành quả mà Việt Nam đã đạt đƣợc trong những thập kỷ vừa
qua.
Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đã xuất hiện thƣờng xuyên và rõ ràng
qua một số hiện tƣợng tự nhiên bất thƣờng mà bất kể ngƣời dân nào cũng có thể
nhận thấy đƣợc. Theo báo cáo Phát triển Thế giới năm 2010 của Ngân hàng Thế
giới thì Biến đổi khí hậu làm cho hành tinh ấm lên, các mô hình mƣa thay đổi, các
sự kiện cực đoan nhƣ hạn hán, lũ lụt, cháy rừng trở nên thƣờng xuyên hơn đang đe
dọa tất cả các nƣớc, trong đó các nƣớc đang phát triển dễ bị tổn thƣơng hơn cả. Ƣớc
tính các nƣớc đang phát triển sẽ phải chịu khoảng 75-80% chi phí tổn thất do biến
đổi khí hậu. Giả thiết nếu nhiệt độ Trái đất tăng khoảng 2
o
C so với thời kỳ tiền công
nghiệp – đây là mức tối thiểu mà Thế giới có thể đạt đƣợc – thì GDP của Châu Phi
và Nam Á sẽ giảm vĩnh viễn 4-5% trong khi đó tổn thất tối thiểu của các nƣớc có
thu nhập cao và GDP bình quân chỉ khoảng 1%. Và hầu hết các nƣớc đang phát
triển trong đó có Việt Nam, thiếu năng lực tài chính và kỹ thuật để quản lý các rủi
ro khí hậu ngày càng gia tăng. Các nƣớc này lệ thuộc vào các tài nguyên thiên nhiên
vốn đã nhạy cảm với khí hậu để tạo ra thu nhập và của cải vật chất và hầu hết các
nƣớc này đã bắt đầu gánh chịu sự biến đổi mạnh của điều kiện khí hậu. [5]
độ tăng cao bất thƣờng hoặc mùa đông khi thời tiết trở nên lạnh bất thƣờng. Sự quá
tải này diễn ra trong thời gian ngắn nhƣng bất thƣờng gây ảnh hƣởng lớn đến cơ sở
hạ tầng của ngành điện, ảnh hƣởng đến độ chính xác bài toán dự báo kế hoạch phát
triển điện.
- Giảm hiệu suất các nhà máy nhiệt điện, điều này nhận thấy khá rõ vào mùa
hè khi nhiệt độ nƣớc sông và nƣớc biển tăng cao hơn so bình thƣờng đồng nghĩa với
nhiệt độ dòng nƣớc làm mát tăng, hiệu quả làm mát bình ngƣng giảm làm giảm hiệu
suất nhà máy hoặc bắt buộc nhà máy phải giảm hiệu suất phát để đảm bảo các thông
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
9
số kỹ thuật thiết kế. Theo một nghiên cứu của Viện Năng lƣợng đã thực hiện 2011
“Điều tra, đánh giá tác động và đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
cho ngành điện” thì ảnh hƣởng do thay đổi của nƣớc làm mát trong dải từ 21
o
C đến
30
o
C là 1%. Nếu thời tiết cực đoan hơn thì mức độ sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng hơn
nhiều.
- Giảm sản lƣợng thuỷ điện do lƣợng mƣa và chế độ mƣa thay đổi theo kịch
bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên Môi trƣờng thực hiện năm 2012, thì cơ chế
mƣa ở các vùng miền sẽ thay đổi do đó lƣu lƣợng nƣớc trên các thủy vực cũng sẽ
biến động điều này rõ ràng sẽ tác động trực tiếp đến các nhà máy thủy điện là những
đối tƣợng phụ thuộc chính vào điều kiện tự nhiên.
- Ảnh hƣởng xấu đến cơ sở hạ tầng ngành điện, các hiện tƣợng khí hậu cực
đoan nhƣ bão, lụt, hạn hán… là nguyên nhân gây thiệt hại nặng nề cho các hệ thống
kWh năm 2011 ứng với tỷ trọng tăng từ 25,8% lên 38%. Sản lƣợng điện mua ngoài
tăng lên đáng kể từ 2,7 tỷ kWh năm 2001 lên 4,96 tỷ kWh năm 2011 (hình 1.2, 1.3,
bảng 1.2).
Phân loại theo chủ sở hữu
Tư nhân
2%
Cổ phần
12%
NĐT nước
ngoài
10%
PVN
11%
Nhập khẩu
5%
EVN
54%
Khác
0%
TKV
5%
Hình 1.2. Phân loại nguồn điện theo chủ sở hữu
Bảng 1.2. Công suất các nguồn điện trong hệ thống điện Việt Nam các năm
Năm
2009
2010
2011
Tổng công suất lắp đặt (MW)
17500
670 (3)
912 (4)
Khác MW (%)
490 (2.8)
511 (2)
456 (2) Hình 1.3. Cơ cấu công suất đặt và điện năng các năm từ 2009 đến 2011
(Nguồn: Công ty Mua bán điện)
Trong giai đoạn 2006-2009, trung bình hàng năm điện sản xuất của nguồn
nhiệt điện khí và diezel chiếm tỷ trọng 44-46% trong tổng điện sản xuất, thuỷ điện
chiếm khoảng 32-36%, còn lại 19-24% là tỷ trọng của nhiệt điện than, dầu và mua
điện Trung Quốc.
Nhƣng từ năm 2010 đến nay, tỷ trọng các nguồn điện có sự thay đổi đáng kể,
cụ thể tỷ lệ thủy điện tăng lên 40-42% tổng sản lƣợng điện, nhiệt điện than tăng
chiếm trên 18% trong khi đó nhiệt điện khí và dầu giảm chỉ còn khoảng 33% tổng
sản lƣợng điện. Điều này cho thấy vai trò và tỷ trọng đóng góp của nhiệt điện than
trong hệ thống điện ngày càng lớn và quan trọng.
a. Các nhà máy đốt than trong nước
Các nhà máy nhiệt điện đốt than trong nƣớc đã đi vào vận hành ở Việt Nam
đều là các nhà máy đốt than có thông số hơi dƣới tới hạn. Các nhà máy này, theo
công nghệ lò hơi có thể chia thành các nhà máy đốt than bột và nhà máy đốt than
tầng sôi tuần hoàn.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
12
một vấn đề đáng lƣu tâm đối với vận hành lò hơi. Với loại lò có thông số hơi cận tới
hạn, thông số hơi cao hơn so với các nhà máy điện cũ, hiệu suất các nhà máy điện
mới này đã cao hơn đạt đến khoảng 38-39%. Về cơ bản, các nhà máy nhiệt điện
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
13
than này đều vận hành tƣơng đối tốt, đáp ứng đƣợc yêu cầu về sản xuất điện, đảm
bảo phát thải ra môi trƣờng theo quy định. Hình 1.4. Sơ đồ cấu tạo của lò than phun PC
Chú giải: trống (1), van hơi chính (2), đƣờng nƣớc cấp (3), vòi phun (4),
buồng lửa (5), phễu tro lạnh (6) dùng làm nguội các hạt tro xỉ khi thải ra ngoài
trƣờng họrp thải xỉ khô, giếng xỉ (7), bơm nƣớc cấp (8), ống khói (9), bộ sấy không
khí (10), quạt gió (11), bộ hâm nƣớc (13), dàn ống nƣớc xuống (14), dàn ống nƣớc
lên (15), dãy phestôn (17), bộ quá nhiệt (18).
* Các nhà máy điện đốt tầng sôi tuần hoàn
Với khả năng đốt đƣợc các loại nhiên liệu có đặc tính thay đổi trong dải rộng
nên các lò hơi CFB hiện nay (hình 1.5) đang sử dụng các nhiên liệu than antraxit
chất lƣợng thấp, than nâu có hàm lƣợng lƣu huỳnh cao. Theo các số liệu của ngành
than, xu hƣớng nhiên liệu phẩm cấp thấp có khối lƣợng ngày càng lớn, và do đó
việc áp dụng lò hơi CFB sẽ là giải pháp tận dụng nguồn tài nguyên năng lƣợng của
đất nƣớc.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
đƣợc quan tâm trong thời gian tới do lƣợng tro xỉ sinh ra ngày một lớn (đốt than có
độ tro cao + sản phẩm phụ từ quá trình xử lý khói thải). Tuy nhiên, hiện nay chƣa
tái sử dụng đƣợc tro xỉ do chất lƣợng tro xỉ chƣa đáp ứng các yêu cầu đầu vào của
các dây chuyền tiêu thụ khác nhƣ sản xuất gạch, sản xuất xi măng, v.v.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
15
Kết quả thống kê vận hành lò CFB của TKV cho thấy: mặc dù có một số vấn
đề phát sinh trong quá trình vận hành nhƣng những sự cố này đã có thể kiểm soát
đƣợc. Số giờ vận hành của các lò luôn ổn định và ở mức cao, sản xuất lƣợng điện
vƣợt kế hoạch. Thống kê về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cũng cho thấy, lò hơi CFB
có hiệu suất cháy cao, kết quả là giảm đƣợc lƣợng cácbon không cháy hết trong tro
và do đó giảm tổn thất không cháy hết về cơ học. Lò hơi CFB đã không chỉ mang
lại hiệu quả là tận dụng đƣợc than chất lƣợng thấp để phát điện, bảo vệ môi trƣờng
mà còn cạnh tranh đƣợc về kinh tế, suất đầu tƣ ở gam công suất nhỏ hơn 300MW.
Hình 1.5. Cấu tạo lò CFB của nhà máy điện Cao Ngạn theo thiết kế của Alstom
b.Các nhà máy đốt than nhập khẩu
Hiện nay duy nhất chỉ có nhà máy điện Formosa Đồng Nai công suất
2x150MW đốt than bitum nhập khẩu từ Indonesia. Đây là nhà máy điện độc lập do
Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tƣ, vận hành năm 2006. Nhà máy điện chủ yếu
cung cấp điện cho các xí nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp Nhơn Trạch III,
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
16
EVN
4
Uông Bí mở rộng 1
1
300
EVN
5
Uông Bí mở rộng 2
1
300
EVN
6
Ninh Bình
4
100
Cổ phần
7
Na Dƣơng
2
110
TKV
8
Cao Ngạn
2
115
TKV
9
Formosa
2
300
ra từ quá trình cháy sẽ truyền cho nƣớc trong lò để biến nƣớc thành hơi. Nghĩa là
thực hiện quá trình biến đổi hoá năng của nhiên liệu thành nhiệt năng của dòng hơi.
Luận văn thạc sĩ khoa học - Khoa Môi trƣờng, Đại học KHTN
Nguyễn Thị Thu Huyền
17
Có nhiều cách phân loại lò hơi trong nhà máy điện nhƣ phân loại theo nhiên liệu sử
dụng trong lò hơi, phân loại theo chế độ đốt nhiên liệu trong buồng lửa, phân loại
theo chế độ tuần hoàn nƣớc trong lò hơi, phân loại theo thông số hơi nƣớc của lò
hơi.
Theo cách phân loại dựa trên thông số hơi, lò hơi đƣợc chia thành lò hơi dƣới
tới hạn, cận tới hạn, lò hơi trên tới hạn. Mốc phân chia là điểm tới hạn, đối với hơi
nƣớc điểm tới hạn có áp suất 221 bar. Lò hơi có áp suất hơi nhỏ hơn áp suất tới hạn
gọi là lò hơi dƣới tới hạn, áp suất cao hơn áp suất tới hạn gọi là lò hơi trên tới hạn.
Ngày nay với loại lò hơi có thông số hơi trên tới hạn, trên Thế giới đã phát
triển thành hai loại lò hơi có thông số trên tới hạn là siêu tới hạn (supercritical) và
trên siêu tới hạn (ultra-supecritical) và hiện đang phát triển thêm loại trên siêu tới
hạn cải tiến (advanced ultra-supecritical). Loại lò trên siêu tới hạn có nhiệt độ và áp
suất hơi lớn hơn loại thứ nhất. Loại lò hơi có thông số hơi trên tới hạn cũng đƣợc áp
dụng phổ biến cho các lò hơi đốt than phun. Đối với lò hơi tầng sôi tuần hoàn, thông
số hơi trên tới hạn đang ở giai đoạn đầu của quá trình thƣơng mại hoá. Vì vậy, trong
luận văn này sẽ tập trung giới thiệu về công nghệ lò hơi đốt than phun có thông số
hơi trên tới hạn của loại lò đốt than phun.
1.2.2.2. Chu trình Rankine sử dụng lò hơi trên tới hạn
Các hình sau mô tả đặc điểm và các thiết bị chính trong các nhà máy nhiệt
điện sử dụng lò hơi có thông số hơi trên tới hạn (hình 1.6 và 1.7).
Hình 1.6. Sơ đồ nguyên lý nhà máy nhiệt điện áp dụng lò hơi trên tới hạn