I
LỜI CẢM ƠN
Trong quá thực hiện và hoàn thành luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản
thân, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Bộ môn Công
nghệ kỹ thuật Môi trường - Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường - Trường Đại
học Nha Trang đã tận tình giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian thực hiện
khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn TS. Trần Quang
Ngọc đã tận tình hướng dẫn, tư vấn và giúp đỡ em trong quá suốt trình thực hiện đề
tài này. Trong quá trình thực tập tốt nghiệp và làm báo cáo thầy đã chỉ bảo và góp ý
giúp em nắm bắt được những công việc cần thực hiện và kịp thời sửa chữa những
thiếu sót để hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn cô ThS. Trần Nguyễn Vân Nhi đã tận tình
giúp đỡ, chỉ dẫn em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Và em cũng xin cảm ơn các thầy cô ở Trung tâm thí nghiệm thực hành - Viện
Công nghệ Sinh học và Môi trường đã tư vấn và trợ giúp máy móc, thiết bị thí
nghiệm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên tại Trung
tâm cấp nước sạch Khu Công nghiệp Suối Dầu đã tận tình giúp đỡ, quan tâm và tạo
cho em nhiều cơ hội học tập và tiếp xúc với thực tế, truyền đạt cho em những bài
học kinh nghiệm trong công việc.
Cảm ơn gia đình và các bạn đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Đỗ Phúc Khuê
II
1.2.3.7 Quá trình khuấy trộn hóa chất 17
1.2.3.8 Quá trình keo tụ và phản ứng tạo bông cặn 18
1.2.3.9 Quá trình lắng 18
1.2.3.10 Quá trình lọc 20
1.2.3.11 Dùng than hoạt tính để hấp thụ chất gây mùi, màu của nước. 20
1.2.3.12 Khử trùng nước 21
1.2.3.13 Ổn định nước 22
1.2.4 Một số quy trình công nghệ xử lý nước cấp. 22
1.2.4.1 Khi nguồn nước là nước ngầm 22
1.2.4.2 Khi nguồn nước là nước mặt 23
1.2.4.3 Một số sơ đồ xử lý nước khác 23
1.2.5 Cơ sở lý thuyết về phương pháp keo tụ. 24
1.2.5.1 Phân loại các tạp chất trong nước theo kích thước. 24
1.2.5.2 Cơ chế keo tụ - tạo bông 26
1.2.5.3 Hóa chất keo tụ PAC và PAFC 31
1.2.5.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình keo tụ 34
1.3 Cơ sở lý thuyết của quá trình tối ưu hóa theo phương án trục giao cấp hai 36
1.3.1 Phương pháp thiết kế thí nghiệm theo phương án trực giao cấp hai 36
1.3.2 Xác định điều kiện tối ưu 38
1.4 Tổng quan về Trung tâm cấp nước sạch. 39
1.4.1 Giới thiệu tổng quan về Trung tâm 39
IV 1.4.2 Hoạt động cấp nước sạch 40
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Đối tượng nghiên cứu, hóa chất, thiết bị và dụng cụ 43
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.1.2 Hóa chất sử dụng 43
2.1.3 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 43
3.1.3.3 Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm 64
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đầu vào 64
3.3 Kết quả thí nghiệm 65
3.3.1 Kết quả thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của liều lượng PAC và pH đến
khả năng keo tụ 65
3.3.1.1 Kết quả thí nghiệm 1 65
3.3.1.2 Kết quả thí nghiệm 2 67
3.3.1.3 Kết quả thí nghiệm 3 69
3.3.1.4 Kết quả thí nghiệm 4 71
3.3.2 Kết quả thí nghiệm tối ưu hóa 73
3.3.2.1 Kết quả thí nghiệm tối ưu hóa đối với chất keo tụ PAC. 73
3.3.2.2 Kết quả thí nghiệm tối ưu hóa đối với chất keo tụ PAFC. 81
3.3.3 Kết quả thử nghiệm trên mô hình 89
3.3.3.1 Kết quả kiểm tra hiệu suất keo tụ của PAC và PAFC trên mô hình
thực nghiệm 89
VI 3.3.3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đầu ra 90
3.3.4 Khai toán kinh tế. 93
3.3.5 Đề xuất cải tạo công nghệ xử lý cho nhà máy. 93
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 95
Tài liệu tham khảo 96
Bảng 3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đầu vào 65
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của liều lượng PAC đến
khả năng keo tụ. 66
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến hiệu suất keo tụ. 68
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của liều lượng PAFC đến
khả năng keo tụ. 70
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến hiệu suất keo tụ. 72
Bảng 3.7 Bảng thiết kế quy hoạch thực nghiệm 73
Bảng 3.8 Bảng kế hoạch thực nghiệm tối ưu hóa 74
VIII Bảng 3.9 Bảng kết quả thực nghiệm tối ưu hóa 75
Bảng 3.10 Các hệ số hồi quy thu được từ thực nghiệm 76
Bảng 3.11 So sánh hiệu suất keo tụ theo thực nghiệm và theo mô hình
hồi quy cấp hai 77
Bảng 3.12 Các thông số cơ bản của mô hình hồi quy cấp hai 78
Bảng 3.13 Bảng thiết kế quy hoạch thực nghiệm 82
Bảng 3.14 Bảng kế hoạch thực nghiệm tối ưu hóa 82
Bảng 3.15 Bảng kết quả thực nghiệm tối ưu hóa 83
Bảng 3.16 Các hệ số hồi quy thu được từ thực nghiệm 84
Bảng 3.17 So sánh hiệu suất keo tụ theo thực nghiệm và theo mô hình
hồi quy cấp hai 85
Bảng 3.18 Các thông số cơ bản của mô hình hồi quy cấp hai 86
Bảng 3.19 Kết quả thử nghiệm trên mô hình của chất keo tụ PAC 89
Bảng 3.20 Kết quả thử nghiệm trên mô hình của chất keo tụ PAFC 90
Bảng 3.21 So sánh kết quả phân tích các chỉ tiêu trên mô hình thực nghiệm đối với
chất keo tụ PAC, PAFC và hàm lượng tại KCN sau quá trình lắng 90
Bảng 3.22 Kết quả phân tích nước đầu ra của Trung tâm cấp nước sạch KCN Suối
Dầu tháng 01/2013 92
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến hiệu suất keo tụ 69
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng PAFC đến hiệu suất keo tụ 71
X Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến hiệu suất keo tụ 72
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện kết quả của quá trình tối ưu hóa 79
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng PAC và pH đến
hiệu suất keo tụ. 80
Hình 3.9 Hình chiếu biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng PAC và pH đến
hiệu suất keo tụ 81
Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện kết quả quá trình tối ưu hóa 87
Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng PAFC và pH đến
hiệu suất keo tụ 88
Hình 3.12 Hình chiếu biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng PAFC và pH đến hiệu
suất keo tụ 89
XI DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
QĐ : Quyết định
BYT : Bộ y tế
STT : Số thứ tự
PAC : Poly Aluminium Cloride
PAFC : Poly Aluminium Ferric Cloride
KCN : Khu Công nghệp
1
đến các lâu đài của nhà quyền quý và đến bể chứa công cộng cho người dân sử
dụng.
Năm 1600, việc sử dụng phèn nhôm để keo tụ đã được các chuyên gia Tây
Ban Nha áp dụng tại Trung Quốc.
Vào năm 1800, các thành phố ở châu Âu, châu Mỹ đã có những hệ thống cấp
nước khá đầy đủ các thành phần như công trình thu, trạm xử lý, mạng lưới, …
Ngày nay, kỹ thuật cấp nước đã đạt tới trình độ cao và còn tiếp tục phát triển.
Từng hạng mục công trình trong các dây chuyền công nghệ xử lý cũng rất đa dạng
và phong phú. Ngoài việc cải tiến các bể lắng ngang cổ điển thành các bể lắng
ngang thu nước bề mặt, bể lắng ngang có các tấm lamen, còn có một số bể lắng
khác như bể lắng đứng, bể lắng ly tâm, lắng pulsator, lắng accelator, lắng trong có
tầng cặn lơ lửng, Ngoài các bể lọc chậm, lọc nhanh kiểu trọng lực, lọc áp lực, lọc
một lớp và hai lớp vật liệu, còn có các loại lọc qua màng, siêu lọc, lọc vật liệu
nổi,…Trước đây, khử trùng nước bằng nhiệt, hợp chất của Clo. Ngày nay, việc khử
trùng nước đa dạng hơn với việc sử dụng ozone, tia cực tím, màng lọc nano… Các
thiết bị dùng nước trong nhà cũng luôn được cải tiến để phù hợp và thuận tiện cho
người sử dụng. Kỹ thuật điện tử và tự động hóa cũng được áp dụng rộng rãi trong
ngành cấp thoát nước từ những thiết bị nhỏ nhất như một vòi nước đến các hệ thống
tự động điều khiển cả một nhà máy nước. Có thể nói kỹ thuật cấp nước đã đạt đến
trình độ rất cao về công nghệ xử lý, máy móc trang thiết bị và hệ thống cơ giới hóa,
tự động hóa trong vận hành quản lý.
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Năm 1894, hệ thống cấp nước đô thị đã được bắt đầu từ việc khoan giếng
mạch nông tại Hà Nội và tại thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1896, hệ thống xử lý nước đầu tiên của Hà Nội được chính thức đưa
vào vận hành. Hiện nay, hệ thống cấp nước của thành phố Hà Nội đã được cải tạo
và xây dựng mới với trang thiết bị hiện đại, nâng công suất lên 390 000 m
3
/ngày.
Đối với các thành phố khác ở miền Bắc, nhiều hệ thống cấp nước cũng đã được cải
Nước mặt: bao gồm các nguồn nước trong các ao, đầm, hồ chứa, sông suối.
Do kết hợp từ các dòng chảy, trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí
nên các đặt trưng của nước là:
Chứa khí hòa tan đặc biệt là oxy,
Chứa nhiều chất rắn lơ lửng, riêng trường hợp nước chứa trong các ao đầm,
hồ xảy ra quá trình lắng cặn nên chất rắn lơ lửng còn lại trong nước có nồng
độ tương đối thấp và chủ yếu ở dạng keo,
4 Có hàm lượng chất hữu cơ cao,
Có sự hiện diện của nhiều loại tảo,
Chứa nhiều vi sinh vật.
Nước ngầm: được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất, chất lượng
nước ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nước
thấm qua. Do vậy nước chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit
và chứa ít chất khoáng. Khi nước ngầm chảy qua địa tầng chứa đá vôi thì nước
thường có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao. Ngoài ra đặc trưng chung
của nước ngầm là:
Độ đục thấp.
Nhiệt độ và thành phần tương đối ổn định.
Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như: CO
2
, H
2
S…
Chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là Sắt, Mangan, Canxi, Magie, Flo.
Không có hiện diện của vi sinh vật.
Nước biển: nước biển thường có độ mặn rất cao (độ mặn ở Thái Bình
Dương là 32 – 35g/l). Hàm lượng muối trong nước biển thay đổi tùy theo vị trí địa
oxyt lưu huỳnh sẽ tạo nên các trận mưa axit.
Hệ thống thu gom nước mưa dùng cho mục đích sinh hoạt gồm hệ thống
mái, máng thu gom dẫn vào bể chứa. Nước mưa có thể dự trữ trong các bể chứa có
mái che để dùng quanh năm.
1.2.2 Các chỉ tiêu về chất lượng nước [4,9]
Chất lượng nước thiên nhiên có thể được phân loại và đánh giá theo các chỉ
tiêu sau đây: các chỉ tiêu lý học, các chỉ tiêu hóa học, các chỉ tiêu vi sinh.
1.2.2.1 Các chỉ tiêu vật lý
Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước là đại lượng phụ thuộc vào điều kiện môi trường và khí
hậu. Nhiệt độ có ảnh hưởng không nhỏ đến các quá trình xử lý nước và nhu cầu tiêu
thụ. Nước mặt thường có nhiệt độ thay đổi thổi theo nhiệt độ môi trường. Ví dụ: ở
miền Bắc Việt Nam, nhiệt độ nước thường dao động từ 13 – 34
o
C, trong khi đó
nhiệt độ trong các nguồn nước mặt ở miền Nam tương đối ổn định hơn (26 – 29
o
C).
Độ màu
Độ màu thường do các chất bẩn trong nước tạo nên. Các hợp chất sắt,
mangan không hoà tan làm nước có màu nâu đỏ, các chất mùn humic gây ra màu
6 vàng, còn các loại thuỷ sinh tạo cho nước màu xanh lá cây. Nước bị nhiễm bẩn bởi
nước thải sinh hoạt hay công nghiệp thường có màu xanh hoặc đen.
Đơn vị đo độ màu thường dùng là độ theo thang màu platin – coban. Nước
thiên nhiên thường có độ màu thấp hơn 200 độ (Pt-Co). Độ màu biểu kiến trong
nước thường do các chất lơ lửng trong nước tạo ra và dễ dàng loại bỏ bằng phương
pháp lọc. Trong khi đó, để loại bỏ màu thực của nước (do các chất hoà tan tạo nên)
o
C có độ dẫn điện là
4,2μS/m (tương ứng điện trở 23,8 MΩ/cm). Độ dẫn điện của nước tăng theo hàm
lượng các chất khoáng hoà tan trong nước và dao động theo nhiệt độ.
Thông số này thường được dùng để đánh giá tổng hàm lượng chất khoáng
hoà tan trong nước.
Tính phóng xạ
Tính phóng xạ của nước là do sự phân huỷ các chất phóng xạ trong nước tạo
nên. Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, các chất này có thời
gian bán phân huỷ rất ngắn nên nước thường vô hại. Tuy nhiên khi bị nhiễm bẩn
phóng xạ từ nước thải và không khí thì tính phóng xạ của nước có thể vượt quá giới
hạn cho phép.
Hai thông số tổng hoạt độ phóng xạ α và β thường được dùng để xác định
tính phóng xạ của nước. Các hạt α bao gồm 2 proton và 2 nơtron có năng lượng
xuyên thấu nhỏ, nhưng có thể xuyên vào cơ thể sống qua đường hô hấp hoặc tiêu
hoá, gây tác hại cho cơ thể do tính ion hoá mạnh. Các hạt β có khả năng xuyên thấu
mạnh hơn, nhưng dễ bị ngăn lại bởi các lớp nước và cũng gây tác hại cho cơ thể.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu hóa học
Độ pH
Độ pH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H
+
có trong dung dịch, thường
được dùng để biểu thị tính axit và tính kiềm của nước.
Khi pH = 7 nước có tính trung tính;
pH < 7 nước có tính axit;
pH > 7 nước có tính kiềm.
Độ pH của nước có liên quan đến sự hiện diện của một số kim loại và khí
hoà tan trong nước. Ở độ pH < 5, tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất, trong một số
nguồn nước có thể chứa sắt, mangan, nhôm ở dạng hoà tan và một số loại khí như
CO
14 mđlg/l.
Trong sinh hoạt, nước có độ cứng cao sẽ gây lãng phí chất tẩy rửa do canxi
và magiê phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan. Trong công
nghiệp tùy theo chức năng của các thiết bị dùng nước, độ cứng được quy định cụ
thể và nghiêm ngặt theo yêu cầu đảm bảo hoạt động tốt và bền vững của chúng.
Khi phản ứng phân hủy xảy ra trong cơ thể sinh vật, các muối này kết tủa
trong cơ thể sinh vật sẽ gây hại không nhỏ. Ở con người, chúng là nguyên nhân gây
ra sỏi thận và 1 trong các nguyên nhân gây tắc động mạch do đóng cặn vôi ở thành
trong của động mạch. Lưu ý là các muối CaCO
3
và MgCO
3
là các muối kết tủa và
chúng không thấm qua niêm mạc hệ tiêu hóa của chúng ta được, chỉ các muối hòa ta
mới thấm được thôi. Vì vậy nước cứng chỉ có tác hại do các muối bicarbonat.
Các đơn vị đo độ cứng: Hiện nay chưa có đơn vị quốc tế thống nhất để đo độ
cứng, các nước khác nhau quy ước dùng đơn vị đo riêng của mình, cụ thể:
Đơn vị đo của Đức (
o
dH): 1
o
dH = 10 mg CaO hoặc 7,14 mg MgO hòa tan
trong 1 lít nước.
9 Đơn vị đo của Pháp (
o
f ): 1
o
bằng số miligam oxy.
Độ oxy hóa 1 mg/l O
2
tương ứng với 0,253 mg/l KMnO
4
.
Các hợp chất chứa Nitơ
Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tạo ra amoni (
), nitrit (
), và
nitrat (
), Do đó các hợp chất này thường được xem là những chất chỉ thị dùng
để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước. Khi mới bị nhiễm bẩn, ngoài các
chỉ tiêu có giá trị cao như độ oxy hoá, amoni, trong nước còn có một ít nitrit và
nitrat. Sau một thời gian
,
bị oxy hoá thành
. Phân tích sự tương
>
250 mg/l và Cl
-
từ 50 – 3000 mg/l thì nước có tính xâm thực đối với bêtông và xi
măng pooclăng. Khi nghiên cứu các quá trình công nghệ xử lý nước cần phải tính
đến ảnh hưởng của nồng độ Cl
-
và SO
, đến sự nâng cao độ hòa tan của một số
hợp chất trong nước (CaSO
4
, CaCO
3
, Mg(OH)
2
, Al(OH)
3
, Fe(OH)
3
), do tăng lực ion
của dung dịch và giảm độ hoạt tính của ion.
Các hợp chất photpho
Trong nước tự nhiên, thường gặp nhất là photphat. Đây là sản của quá trình
phân huỷ sinh học các chất hữu cơ. Cũng như nitrat là chất dinh dưỡng cho sự phát
triển của rong tảo. Nguồn photphat đưa vào môi trường nước là từ nước thải sinh
hoạt, nước thải một số ngành công nghiệp và lượng phân bón dùng trên đồng ruộng.
Các hợp chất của Mangan
Trong các nguồn nước thiên nhiên mangan tồn tại dưới dạng hòa tan của các
hợp chất hydrocacbonat hóa trị II Mn(HCO
3
)
2
nhưng với hàm lượng ít hơn và hiếm
hơn sắt. Khi nước ngầm tiếp xúc với không khí trong nước xuất hiện cặn hydroxit
sắt sớm hơn vì sắt dễ bị oxy hóa hơn mangan và phản ứng oxy hóa sắt bằng oxy hòa
tan trong nước xảy ra ở trị số pH thấp hơn so với mangan. Để oxy hóa mangan trị số
pH cần thiết > 9,5. Cặn mangan hóa trị cao là chất xúc tác rất tốt trong quá trình oxy
hóa khử mangan cũng như khử sắt. Trong các nguồn nước mặt, đặc biệt là nước có
màu thì mangan tồn tại trong các hợp chất hữu cơ hay chất keo.
Trong thực tế cặn và chất lắng đọng trong đường ống, trên các công trình là
do hợp chất sắt và mangan tạo nên, vì vậy tùy thuộc vào tỷ số của chúng, cặn có thể
có màu từ hung đỏ đến màu đen.
Cặn màu đen trong ống và trong các công trình còn do sunfit sắt gây ra.
Trong nước ăn uống theo quy phạm hàm lượng sắt ≤ 0,3 mg/l. Một số ngành công
nghiệp có yêu cầu nghiêm ngặt đối với hàm lượng sắt như dệt, giấy, sản xuất phim
ảnh…
Khí hòa tan
Các loại khí hoà tan thường thấy trong nước thiên nhiên là khí cacbonic
(CO
2
), khí oxy (O
2
) và sunfua hyđro (H
2
S).
Nước ngầm không có oxy. Khi độ pH < 5,5, trong nước ngầm thường chứa
- Clo hữu cơ;
- Cacbarmat.
Hầu hết các chất này đều có độc tính cao đối với người. Đặc biệt là clo hữu
cơ, có độ bền vững cao trong môi trường và khả năng tích luỹ trong cơ thể con
người. Việc sử dụng khối lượng lớn các hoá chất này trên đồng ruộng đang đe doạ
làm ô nhiễm các nguồn nước.
Các kim loại nặng có độc tính cao
Asen: là kim loại có thể tồn tại dưới dạng hợp chất vô cơ và hữu cơ. Trong
nước asen thường ở dạng asenic hay asenat, các hợp chất asenmetyl có trong môi
trường do chuyển hóa sinh học. Asen có khả năng gây ung thư biểu bì da, phế quản,
phổi và các xoang…
Crom: có trong nguồn nước tự nhiên là do hoạt động nhân tạo và tự nhiên
(phong hóa). Hợp chất Cr
+6
là chất oxy hóa mạnh và độc. Các hợp chất của Cr
+6
dễ
gây viêm loét da, xuất hiện mụn cơm, viêm gan, viêm thận, ung thư phổi
Thủy ngân còn có trong nước mặt và nước ngầm ở dạng vô cơ. Thủy ngân vô
cơ tác động chủ yếu đến thận, trong khi đó metyl thủy ngân ảnh hưởng chính đến hệ
thần kinh trung ương.
13 Chì: Trong nguồn nước thiên nhiên chỉ phát hiện hàm lượng chì 0,4 – 0,8
mg/l. Tuy nhiên do ô nhiễm nước thải công nghiệp hoặc hiện tượng ăn mòn đường
ống nên có thể phát hiện chì trong nước uống ở mức độ cao hơn. Khi hàm lượng chì
trong máu cao có thể gây tổn thương não, rối loạn tiêu hóa, yếu cơ, phá hủy hồng
cầu. Chì có thể tích lũy trong cơ thể đến mức cao và gây độc. Tiêu chuẩn nước uống
và nước sạch đều quy định hàm lượng chì nhỏ hơn 0,01 mg/l.
, CO
2
, H
2
O) nhờ ánh sáng mặt trời. Tảo
không trực tiếp gây bệnh cho người và động vật nhưng có thể sản sinh ra các độc tố.
1.2.3 Lý thuyết về các quá trình xử lý nước cấp [4]
Xử lý nước là quá trình làm thay đổi thành phần, tính chất nước tự nhiên theo
yêu cầu của các đối tượng sử dụng phụ thuộc vào thành phần, tính chất của nước
nguồn và yêu cầu chất lượng của nước, của đối tượng sử dụng.
Trong quá trình xử lí nước cấp, cần phải thực hiện các biện pháp như sau:
Biện pháp cơ học: dùng các công trình và thiết bị làm sạch như: song chắn
rác, lưới chắn rác, bể lắng, bể lọc.
Biện pháp hoá học: dùng hoá chất cho vào nước để xử lí nước như: dùng
phèn làm chất keo tụ, dùng vôi kiềm hoá nước, cho Clo vào nước để khử trùng.
Biện pháp lí học: dùng các tia vật lí để khử trùng nước như tia tử ngoại,
sóng siêu âm. Điện phân nước biển để khử muối. Khử khí CO
2
hoà tan trong nước
bằng phương pháp làm thoáng.
Trong ba biện pháp xử lí nêu ra trên đây thì biện pháp cơ học là biện pháp xử
lí nước cơ bản nhất. Có thể dùng biện pháp cơ học để xử lí nước một cách độc lập
hoặc kết hợp với các biện pháp hoá học và lý học để rút ngắn thời gian và nâng cao
hiệu quả xử lí nước. Trong thực tế để đạt được mục đích xử lí một nguồn nước nào
đó một cách kinh tế và hiệu quả nhất phải thực hiện quá trình xử lí bằng việc kết
hợp của nhiều phương pháp.
1.2.3.1 Hồ chứa và lắng sơ bộ
Chức năng của hồ chứa và lắng sơ bộ là tạo điều kiện thuận lợi cho các quá
trình tự làm sạch như: lắng bớt cặn lơ lửng, giảm lượng vi trùng do tác động của các