MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG TRUYỀN THÔNG MARKETING - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế
MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG
TRUYỀN THÔNG MARKETING
Họ và tên sinh viên : Vũ Ngọc Lan
Mã sinh viên : 1001010538
Lớp : Anh 6
Khóa : 49
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG 4
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING CỦA
DOANH NGHIỆP THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK 4
1.1.Mạng xã hội Facebook 4
1.1.1.Tổng quan về mạng xã hội 4
1.1.1.1.Khái niệm 4
1.1.1.2.Lịch sử phát triển 5
1.1.1.3.Đặc trưng 5
1.1.1.4.Vai trò 7
1.1.2.Mạng xã hội Facebook 11
1.1.2.1.Sự phát triển của Facebook 11
1.1.2.2.So sánh Facebook với một số mạng xã hội tiêu biểu tại Việt Nam 13
1.2.Hoạt động truyền thông marketing 15
1.2.1.Khái niệm 15
1.2.2.Vai trò 16

2.2.7.Những nội dung thường được xuất hiện trên trang Facebook 39
Bảng 2.3: Những nội dung thường được xuất hiện trên trang Facebook của
doanh nghiệp 39
Bảng 2.4: Chi phí cho việc quảng cáo của doanh nghiệp bằng Facebook 40
Bảng 2.5: Bảng đánh giá các yếu tố theo mức độ đồng ý với nhận xét 41
Bảng 2.6: Khảo sát việc sử dụng các phương tiện khác cho hoạt động truyền
thông marketing của doanh nghiệp 42
2.3.Đánh giá chung về việc sử dụng Facebook trong hoạt động truyền thông
marketing của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 44
2.3.1.Thành công 44
2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân 47
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC SỬ
DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN
THÔNG MARKETING CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở
VIỆT NAM 50
3.1.Cơ sở đưa ra giải pháp 50
3.1.1.Xu hướng phát triển Facebook 50
3.1.2.Dựa trên ý kiến người tiêu dùng về việc sử dụng Facebook trong hoạt động truyền thông
marketing của doanh nghiệp 52
Bảng 3.1: Thống kê mục đích mỗi khi truy cập mạng xã hội Facebook của
người dùng 53
Bảng 3.2: Thống kê người dùng theo mức độ quan tâm đến sự xuất hiện của
các mẩu quảng cáo trên Facebok 54
Hình 3.1: Mức độ quan tâm đến sự xuất hiện của các mẩu quảng cáo trên
Facebook 54
Bảng 3.3: Đánh giá các mẩu quảng cáo 55
Hình 3.2: Biểu đồ đánh giá các mẩu quảng cáo 55
Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn mối quan hệ tương quan giữa tần suất xuất hiện
của các mẩu quảng cáo và mức độ quan tâm của người dùng 57
Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn mức độ quan trọng của các yếu tố khi mua hàng

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING CỦA
DOANH NGHIỆP THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK 4
Hình 1.1: Quá trình truyền thông 18
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 29
Bảng 2.1: Bảng thống kê lĩnh vực sản phẩm 33
Bảng 2.1: Bảng thống kê lĩnh vực sản phẩm 33
Hình 2.1: Hình ví dụ về mẫu quảng cáo thông thường 34
Hình 2.2: Hình ví dụ về mẫu quảng cáo hiển thị trong Newfeed 35
Hình 2.3: Hình ví dụ về mẫu quảng cáo hiển thị bên phải trang Facebook 36
Hình 2.4: Hình ví dụ mẫu quảng cáo trên thiết bị di động 36
Bảng 2.2: Cách thức doanh nghiệp dùng để sử dụng Facebook 38
Bảng 2.2: Cách thức doanh nghiệp dùng để sử dụng Facebook 38
Bảng 2.3: Những nội dung thường được xuất hiện trên trang Facebook của
doanh nghiệp 39
Bảng 2.3: Những nội dung thường được xuất hiện trên trang Facebook của
doanh nghiệp 39
Bảng 2.4: Chi phí cho việc quảng cáo của doanh nghiệp bằng Facebook 40
Bảng 2.4: Chi phí cho việc quảng cáo của doanh nghiệp bằng Facebook 40
Bảng 2.5: Bảng đánh giá các yếu tố theo mức độ đồng ý với nhận xét 41
Bảng 2.5: Bảng đánh giá các yếu tố theo mức độ đồng ý với nhận xét 41
Bảng 2.6: Khảo sát việc sử dụng các phương tiện khác cho hoạt động truyền
thông marketing của doanh nghiệp 42
Bảng 2.6: Khảo sát việc sử dụng các phương tiện khác cho hoạt động truyền
thông marketing của doanh nghiệp 42
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC SỬ
DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN

mọi người. Từ em nhỏ mấy tuổi, cho đến các cụ già ai cũng đều sử dụng Facebook.
Những khái niệm quen thuộc “check in”, “tự sướng”… chúng ta được nghe thấy
thường ngày. Mạng xã hội Facebook xuất hiện đã đem lại xu hướng mới thật “ghê
gớm”. Vậy, khi mạng xã hội Facebook được sử dụng cho hoạt động truyền thông
marketing của doanh nghiệp, thì chúng ta sẽ gặt hái được những gì?
Với ưu điểm vốn có của mình là lượng người sử dụng lớn, tính lan truyền
và tương tác cao, giao diện đơn giản, tạo lập miễn phí, liệu đây sẽ là lợi thế lớn của
bất kỳ doanh nghiệp vừa và nhỏ nào biết tận dụng mạng xã hội Facebook làm công
cụ truyền thông marketing cho mình?
Để trả lời câu hỏi trên, em đã chọn đề tài “MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG
TRUYỀN THÔNG MARKETING”, qua đó tìm hiểu những thông tin cơ bản
nhất về mạng xã hội nói chung, Facebook nói riêng, đánh giá những thế mạnh và
hạn chế của nó trong hoạt động truyền thông marketing của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Việt Nam, từ đó giúp doanh nghiệp tìm ra những giải pháp để phát triển
và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về hoạt động truyền thông marketing của
doanh nghiệp dựa vào mạng xã hội Facebook.
- Đánh giá tình hình sử dụng Facebook trong hoạt động truyền thông
marketing của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
- Xác định xu thế phát triển của mạng xã hội, đưa ra những bước đi và giải
pháp cho doanh nghiệp Việt Nam để phù hợp và phát triển trong xu thế
chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1
- Đối tượng nghiên cứu: Mạng xã hội Facebook trong hoạt động truyền
thông marketing của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian nghiên cứu: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động
truyền thông marketing thông qua Facebook của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của

Facebook trong hoạt động truyền thông marketing của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng hết sức song do hạn chế về kiến thức cũng như những
khó khăn trong việc thu thập tài liệu, nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để khóa
luận được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo
trường Đại học Ngoại thương nói chung và các thầy cô giáo khoa Quản trị kinh
doanh nói riêng đã cung cấp những kiến thức bổ ích cho chúng em trong suốt bốn
năm qua. Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã tận
tình hướng dẫn, giúp em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014.
3
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG
MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP THÔNG QUA
MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
1.1. Mạng xã hội Facebook
1.1.1. Tổng quan về mạng xã hội
1.1.1.1. Khái niệm.
Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng Anh: social network
1
) là
dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với mục đích
khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào
mạng xã hội được gọi là cư dân mạng.
Mạng xã hội có tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ
file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau
và trở thành một phần tất yếu mỗi ngày của hàng trăm triệu thành viên khắp thế
giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối
tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá

mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không nhỏ cho con số
trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi ngày.
1.1.1.3. Đặc trưng
Đặc trưng thông thường
Theo bài viết của Boyd và Ellison (2007), “Why Youth (Heart) Social
Network Sites: Vai trò của mạng xã hội trong đời sống của lứa tuổi teen”, các trang
web mạng xã hội chia sẻ một loạt những công cụ kỹ thuật cho phép các cá nhân có
thể: xây dựng một trang hồ sơ cá nhân công cộng hoặc bán công cộng, kết nối với
một loạt những người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối với và theo dõi được danh
sách kết nối ấy trong một hệ thống. Điều cơ bản đây là những hồ sơ được chia sẻ
với một danh sách “bạn bè” người cũng là thành viên của trang. Trong một bài viết
2
Linton Freeman, 2006, The Development of Social Network Analysis, Empirical Press, Vancouver
5
có tựa đề “Trang mạng xã hội: Định nghĩa, lịch sử và Mở rộng”, Boyd và Ellison
thừa nhận mô tả của Sunden (2003) về hồ sơ cá nhân như là một trang duy nhất nơi
người ta có thể “gõ thể hiện bản thân vào đó”
3
. Một trang cá nhân được tạo ra từ
việc trả lời cho câu hỏi, như là tuổi, địa chỉ, sở thích,… Một vài trang cho phép
người dùng tải lên ảnh, các nội dung đa phương tiện hoặc thay đổi cái nhìn và cảm
giác về hồ sơ cá nhân. Ví dụ, Facebook cho phép người dùng nổi bật hồ sơ của họ
bằng việc thêm vào các module hoặc “Ứng dụng”. Nhiều trang cho phép người
dùng viết trang nhật ký, tìm kiếm những người khác có cùng sở thích, sưu tập và
chia sẻ danh sách liên lạc. Hồ sơ người dùng thường có một phần ý kiến riêng cho
nhận xét từ bạn bè hoặc những người dùng khác. Để bảo vệ sự an toàn của người
dùng, mạng xã hội thường có sự điều khiển cho phép những người sử dụng có thể
lựa chọn ai có thể nhìn thấy hồ sơ của họ, liên lạc với họ, thêm họ vào trong danh
sách liên lạc,…
Đặc trưng bổ sung

Mỹ , với mục tiêu là để đảm bảo rằng các quốc gia đang trên con đường mạnh mẽ
và bền vững để đạt được nguyện vọng táo bạo nhất của nó trong không gian. Tại
Việt Nam, mạng xã hội cũng có vai trò tương tự. Nhờ mạng xã hội mà những thông
tin, chính sách nhà nước được phổ biến một cách nhanh chóng và rộng rãi; đồng
thời mọi thông tin cũng như diễn biến tình hình đời sống của nhân dân được nắm
bắt dễ dàng. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội cũng phần nào khiến cho thông
tin an ninh quốc gia bị rò rỉ, vì vậy mà có lúc mạng xã hội Facebook đã từng bị cấm
và chặn tại Việt Nam. Hiện giờ, Facebook đã không còn bị cấm, tuy nhiên vấn đề
an ninh bị tác động bời mạng xã hội vẫn còn là nguy cơ đối với Chính phủ.
Vai trò đối với doanh nghiệp
Việc sử dụng các dịch vụ mạng xã hội trong bối cảnh doanh nghiệp đưa ra
các tiềm năng có một tác động lớn đến thế giới kinh doanh và làm việc. Mạng xã
hội kết nối mọi người với chi phí thấp , điều này có thể có lợi cho các doanh nhân
và doanh nghiệp nhỏ tìm cách mở rộng mạng lưới khách hàng tiềm năng của họ .
Các mạng lưới này được theo dõi dưới một công cụ quản lý quan hệ khách hàng
cho các công ty bán các sản phẩm và dịch vụ. Các công ty cũng có thể sử dụng các
mạng xã hội để quảng cáo trong các hình thức biểu ngữ và quảng cáo văn bản . Kể
từ khi các doanh nghiệp hoạt động trên toàn cầu, các mạng xã hội có thể làm cho
7
mọi thứ dễ dàng hơn để giữ liên lạc với khách hàng trên toàn thế giới. Các ứng
dụng cho các trang web mạng xã hội đã mở rộng thêm về phía các doanh nghiệp và
thương hiệu được tạo ra , các trang web được mở theo một mức độ hoạt động cao
hơn tạo thành một khu vực được gọi là mạng thương hiệu . Đây là ý tưởng rằng một
thương hiệu có thể xây dựng mối quan hệ khách hàng của mình bằng cách kết nối
người tiêu dùng của họ để xây dựng hình ảnh thương hiệu trên một nền tảng cung
cấp cho khách hang những nội dung liên quan , các yếu tố tham gia, và một hệ
thống xếp hạng hoặc điểm số để đánh giá thương hiệu . Mạng thương hiệu là một
cách mới để tận dụng xu hướng xã hội như một công cụ tiếp thị. Sức mạnh của
mạng xã hội này bắt đầu thấm vào văn hóa nội bộ của doanh nghiệp mà họ đang tìm
kiếm sử dụng cho sự hợp tác , chia sẻ tập tin và chuyển giao kiến thức . Thuật ngữ

người kết nối với bạn bè, chia sẻ với họ và cập nhật mọi thứ trong cuộc sống của
họ, ngoài mạng xã hội. Những mối quan hệ này không chỉ là một sự mở rộng của
những mối quan hệ mà người tiêu dùng có trong đời thực, mà ngày càng nhiều mối
quan hệ được tạo ra, và chỉ tồn tại trên mạng xã hội.
Đối với người tiêu dùng, mạng xã hội còn ảnh hưởng đến cả sức khỏe của
họ. Với tần suất online liên tục bằng các thiết bị máy tính và di động hàng ngày,
một phần sức khỏe của người dùng sẽ bị giảm sút, với một tác động không khác khi
bạn ngồi trước máy tính chơi game hàng giờ. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng có tác
động tích cực. Lấy ví dụ, Facebook từng tiến vào các lĩnh vực liên quan đến sức
khoẻ. Chẳng hạn, hãng đã hợp tác với tổ chức Chống Tự tử Mỹ để đưa ra những hỗ
trợ trực tuyến cho những người dùng có khả năng sẽ tự tử. Trong đó, bạn bè và gia
đình của những người dùng Facebook muốn tự tử có thể đưa ra những bình luận về
tình trạng tự tử trên Facebook, và họ cũng đưa ra những hỗ trợ về tinh thần chống tự
tử. Nói cách khác, Facebook đã tiến vào những phần riêng tư nhất trong cuộc sống
của mỗi người – sức khoẻ - và có vẻ như họ đang thành công.
Ngoài sức khỏe, mạng xã hội còn có một tác động khác đến người tiêu
dùng, nó là một kho lưu giữ kỉ niệm tuyệt vời cho người sử dụng. Mạng xã hội
Facebook cho biết người dùng của họ tải trung bình 300 triệu bức ảnh mỗi ngày, và
máy chủ của họ chứa hơn 100 tỷ bức ảnh. Đó là chưa kể những ứng dụng bên thứ
ba của hãng cũng giữ ảnh, như Instagram chẳng hạn.Kết hợp cơ sở dữ liệu ảnh
9
khổng lồ của Facebook với tính năng mới Timeline – kiểu thiết kế hồ sơ mới liệt kê
các sự kiện cuộc sống như ngày sinh, tốt nghiệp và lễ cưới – Facebook đang nắm
giữ những kỷ niệm của chúng ta. Ngày nay Facebook như một gia phả trực tuyến
của gia đình và bạn bè, nhưng nó có thể trở thành nơi mà mọi người tìm kiếm
những người họ hàng xa mất tích lâu ngày.
Về quảng cáo, dù quảng cáo online trên Facebook có thể không hiệu quả
bằng quảng cáo trên Google, nhưng Facebook cũng đang tác động cuộc sống của
người dùng về mặt quảng cáo. Đó là bởi họ liên tục nhìn thấy các quảng cáo trên
Facebook. Facebook cũng liên tục “oanh tạc” người dùng bằng các quảng cáo “siêu

website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của
cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh
viên mới vào trường, phòng ban và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại
khuôn viên trường.
Facebook mở đầu là một phiên bản Hot or Not của Đại học Harvard với tên
gọi Facemash. Mark Zuckerberg, khi đang học năm thứ hai tại Harvard, đã dựng
nên Facemash vào ngày 28 tháng 10 năm 2003. Zuckerberg đang viết blog về một
cô gái và cố gắng nghĩ ra một thứ gì đó để bớt nghĩ về cô ấy. Theo tờ Harvard
Crimson, Facemash “đã dùng những bức ảnh lấy từ cuốn lưu bút trực tuyến của
chín Nhà, đặt hai cái kế bên nhau và yêu cầu người dùng chọn ai là người là “hot”
nhất”. Trang này nhanh chóng được chuyển đến vài máy chủ danh sách của nhóm
campus nhưng bị những người quản lý Harvard tắt vài ngày sau đó. Zuckerberg bị
ban quản lý phạt vì vi phạm an ninh, xâm phạm bản quyền tự do cá nhân và phải
đối mặt với việc bị đuổi học, nhưng sau đó đã được hủy bỏ các cáo buộc. Học kỳ
tiếp theo, Zuckerberg thành lập “The Facebook”, ban đầu đặt tại Thefacebook.com,
vào ngày 4 tháng 2 năm 2004.
Việc đăng ký thành viên ban đầu giới hạn trong những sinh viên của Đại
học Harvard, và trong vòng một tháng đầu tiên, hơn một nửa số sinh viên đại học tại
Harvard đã đăng ký dịch vụ này. Eduardo Saverin (lĩnh vực kinh doanh), Dustin
Moskovitz (lập trình viên), Andrew McCollum (nghệ sĩ đồ họa), và Chris Hughes
nhanh chóng tham gia cùng với Zuckerberg để giúp quảng bá website. Vào tháng 3
năm 2004, Facebook mở rộng sang Standford, Columbia và Yale. Việc mở rộng
4
http://vi.wikipedia.org/wiki/Facebook
11
tiếp tục khi nó mở cửa cho tất cả các trường thuộc Ivy League và khu vực Boston,
rồi nhanh chóng đến hầu hết đại học ở Canada và Hoa Kỳ. Vào tháng 6 năm 2004,
Facebook chuyển cơ sở điều hành đến Palo Alto, California. Công ty đã bỏ chữ The
ra khỏi tên sau khi mua được tên miền facebook.com vào năm 2005 với giá 200.000
USD.

Người dùng rất dễ tìm thấy được các chức năng cơ bản của Facebook khi sử
dụng Zing Me như: bình luận (comment), thích, tag bạn bè, các gợi ý kết bạn, hội
nhóm… đến cách thể hiện dòng tin hoạt động của bạn bè (feed) và màu sắc chủ đạo
của toàn trang.
Có thể nói, nhà phát triển Zing Me rất khéo kết hợp những ứng dụng dịch
vụ của mình vào giao diện “kiểu Facebook”. Điểm nổi bật tại Zing Me là sự kết hợp
về game xã hội vốn là “món khoái khẩu” của cộng đồng game thủ hiện tại của
VNG.
Nhận thức rõ được sức mạnh của các mối quan hệ trên Facebook, Zing đã
bắt tay xây dựng các chức năng gợi ý với đặc điểm mang tính chất địa phương của
Việt Nam, bắt đầu từ quá trình đăng kí: Kết nối bạn bè, trường lớp, cùng cơ quan
thế mạnh mà Facebook không thể có.
Tuy nhiên, mặt trái của sự tích hợp quá nhiều dịch vụ vào “giao diện kiểu
Facebook” làm cho toàn bộ trang trở nên “vụn vỡ” và bị chia nhỏ với 4 cột nội
dung. Font hiển thị nhỏ bạn sẽ cảm giác trang cá nhân dường như được bao vây bởi
mạng dịch vụ rộng lớn bao gồm các dịch vụ giải trí của Zing Me và hướng người
dùng vào việc chơi game thay vì kết nối bạn bè như chức năng chính của một mạng
xã hội.
5
5
http://inet.edu.vn/tin-tuc/100/diem-mat-mang-xa-hoi-sung-so-tai-viet-nam.html
13
Mạng Việt Nam – go.vn
Được chính thức thử nghiệm phiên bản Beta vào ngày 19/5/2010 và đạt
mốc 2,5 triệu thành viên vào cuối tháng 12/2010 – một kết quả khá bất ngờ trong
tình thế khá im ắng của mạng xã hội này. Trong suốt thời gian qua, Go.vn gần như
“im hơi lặng tiếng” ngoài một số sự kiện nổi bật như nâng cấp phiên bản mới
"Dòng chảy thời gian" và cuộc thi Olympic tiếng Anh trên mạng Internet (IOE).
Cho đến bây giờ, mặc dù đã có nhiều thay đổi đáng kể từ phiên bản đầu
tiên, Go.vn chưa có thông tin nào về phiên bản chính thức. Từ khi ra bản thử

dung số, Tầm tay chiếm cảm tình đặc biệt của cộng đồng sinh viên khi tổ chức trên
100 sự kiện hướng vào nhóm đối tượng này.
Người dùng thường gặp một số vấn đề về tìm kiếm bạn bè trong thời gian
đầu gia nhập mạng xã hội này bởi Tầm tay chưa tiếp thu được các gợi ý thông minh
và liên kết người dùng theo nhóm thường thấy ở Facebook. Muốn kết bạn, bạn chỉ
có thể gửi link trang cá nhân để yêu cầu kết bạn.Tuy nhiên, nếu Tầm Tay tập trung
nâng cấp những tính năng này trong thời gian tới, có thể họ sẽ là một đối thủ nặng
kí trên thị trường mạng xã hội.
1.2. Hoạt động truyền thông marketing
1.2.1. Khái niệm
Theo Philip Kotler, truyền thông marketing (marketing communication) là
các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản
thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp
cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp.
15
(Marketing communications are the means by which firms attempt to
inform, persuade, and remind consumers, directly or indirectly, about the products
and brands they sell-Philip Kotler
6
)
Truyền thông marketing có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục
và nhắc nhở đối tượng nhận tin về sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp. Qua
các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của
doanh nghiệp, của sản phẩm trên thị trường, thuyết phục họ về các ưu việt của sản
phẩm so với sản phẩm cạnh tranh, và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu
cầu.
Truyền thông marketing còn được gọi bằng thuật ngữ tương đương là xúc
tiến ( marketing promotion), là một trong bốn thành tố của marketing mix.
Có nhiều hình thức truyền thông marketing khác nhau. Doanh nghiệp có thể
truyền thông một cách trực tiếp, mặt đối mặt, sử dụng đội ngũ bán hàng, hoặc thông

Đặc biệt, trong các trường hợp như cầu âm, cầu bằng không, hay cầu đối
với những hàng hóa độc hại như thuốc lá, rượu bia, ma túy… thì vai trò của truyền
thông marketing đặc biệt quan trọng.
Ví dụ: Mặc dù đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, hay bảo vệ môi trường sống
khỏi sự ô nhiễm thực sự cần thiết cho cuộc sống của con người , nhưng Nhà nước
phải chi rất nhiều tiền cho các chương trình truyền thông marketing rộng rãi nhằm
làm cho người dân hiểu và có ý thức tự giác
7
.
1.2.3. Quá trình truyền thông marketing
Mô hình truyền thông:
Quá trình truyền thông marketing tuy rất đa dạng, tuy nhiên có những đặc
điểm chung. Để khái quát quá trình truyền thông marketing, chúng ta có mô hình
sau:
7
TS. Nguyễn Thượng Thái. 2010, Bài giảng Truyền thông marketing. Học viện Công nghệ bưu chính viễn
thông, Hà Nội.
17
Hình 1.1: Quá trình truyền thông
(Nguồn: Philip Kotler, Marketing Management)
÷ Người gửi: là chủ thể của quá trình truyền thông marketing. Đó là
doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông marketing hướng tới
khách hàng.
÷ Thông điệp chủ định: là thông điệp nhằm mục đích tác động vào
khách hàng mục tiêu để mong nhận được điều gì đó ở khách hàng của người gửi tin.
÷ Mã hóa thông điệp: là việc dùng các ngôn ngữ truyền thông để
chuyển các ý tưởng truyền thông thành các hình thức có tính biểu tượng sao cho
thuận tiện cho người nhận tin lĩnh hội được ý tưởng đó.
Ví dụ: Để quảng cáo dầu ăn Neptune, người gửi muốn cho khách hàng tiềm
năng thấy lợi ích của dầu ăn này là mang lại không khí ấm cúng gia đình. Muốn vậy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status