i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận
đƣợc sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân và cơ quan đoàn thể. Qua đây tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
ThS. Trần Văn Dũng, ngƣời đã giúp tôi định hƣớng nghiên cứu, hƣớng dẫn tôi
trong quá trình thực tập và hoàn thành bài luận văn này.
KS. Trần Thị Thúy, ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong quá trình làm đề tài.
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Nuôi trồng Thủy
sản, trƣờng Đại học Nha Trang đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong những năm học vừa
qua. Thƣ viện trƣờng Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi mƣợn tài liệu
tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè là những ngƣời đã luôn bên
cạnh tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn đặc biệt đến gia đình và ngƣời thân đã luôn
cổ vũ, động viên tôi vƣợt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập.
Nha Trang, tháng 6 năm 2013
Sinh viên
Trần Thị Huyền Trang
ii
DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
CW : Chiều rộng giáp đầu ngực.
Wtb : Khối lƣợng trung bình toàn thân.
Z1-5 : Ấu trùng cua giai đoạn Zoea 1 - 5.
C1 : Cua bột 1.
1.1.6.4. Các giai đoạn phát triển buồng trứng 9
1.1.6.5. Hoạt động đẻ trứng, thụ tinh và phát triển của phôi 12
1.1.6.6. Các giai đoạn phát triển ấu trùng 13
1.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua xanh trên thế giới và
Việt Nam 14
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 16
1.2.3. Một số vấn đề cần quan tâm trong sản xuất giống cua xanh 17
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tƣợng nghiên cứu 21
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 21
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu 21
iv
2.2.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu thứ cấp 21
2.2.2.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu sơ cấp 21
2.2.2.3. Một số công thức tính toán các thông số kỹ thuật 22
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Điều kiện tự nhiên và hệ thống công trình phục vụ sản xuất giống 24
3.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 24
3.1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình 24
3.1.1.2. Khí hậu 24
3.1.2. Hệ thống công trình phục vụ sản xuất giống 25
3.1.2.1. Giới thiệu về trại sản xuất giống 25
3.1.2.2. Sơ đồ trại 26
3.1.2.3. Hệ thống công trình phụ trợ sản xuất giống 26
3.1.2.4. Hệ thống công trình sản xuất giống 27
3.1.2.5. Các dụng cụ và thiết bị khác 27
3.2. Kỹ thuật cho sinh sản nhân tạo cua xanh 28
Bảng 3.4: Kết quả nuôi vỗ cua mẹ 33
Bảng 3.5: Tƣơng quan giữa nhiệt độ, độ mặn và thời gian phát triển phôi của cua . 35
Bảng 3.6: Kết quả ấp nở trong 3 đợt sản xuất 36
Bảng 3.7: Các yếu tố môi trƣờng trong quá trình ƣơng nuôi 39
Bảng 3.8: Kết quả ƣơng nuôi ấu trùng từ Zoea1 – Zoea5 40
Bảng 3.9: Diễn biến môi trƣờng trong bể ƣơng Z5 – cua bột 45
Bảng 3.10: Kết quả ƣơng nuôi ấu trùng Z5 đến cua bột 46
vi
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Hình thái cua biển (Scylla paramamosain) 4
Hình 1.2: Vòng đời cua biển 5
Hình 1.3: Cấu tạo mô từ giai đoạn I - V 9
Hình 1.4: Sự thay đổi hình dạng bụng của cua biển ở các giai đoạn thành thục 11
Hình 1.5: Hình dạng buồng trứng khác nhau từ giai đoạn I - V 12
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21
Hình 3.1: Sơ đồ trại 26
Hình 3.2: Cua mẹ đạt tiêu chuẩn khi tuyển chọn cho nuôi vỗ 28
Hình 3.3: Cua mẹ có gạch nhiều (trái) và gạch ít (phải) 29
Hình 3.4: Cua mẹ có yếm bầu và lớn (trái) và cách xem gạch cua mẹ (phải) 29
Hình 3.5: Bể nuôi cua mẹ đáy có lớp cát 33
Hình 3.6: Cua mẹ ôm trứng sau khi đẻ 3 ngày và 5 ngày 34
Hình 3.7: Cua mẹ ôm trứng sau khi đẻ 7, 9 và 11 ngày 34
Hình 3.8: Bể ƣơng ấu trùng Zoea 37
Hình 3.9: Phân chia thức ăn theo giai đoạn từ Z1-Z5 37
Hình 3.10: Bể ƣơng ấu trùng Z5 - cua bột 42
Hình 3.11: Giá thể xƣơng cá 42
Hình 3.12: Hút nƣớc để thu ấu trùng (trái) và tắm ấu trùng (phải) 43
triển rất mạnh mẽ nhƣng khó khăn của nghề nuôi cua hiện nay là vấn đề giải quyết con
giống. Nguồn cua giống cung cấp cho các mô hình nuôi cua từ trƣớc đến nay chủ yếu
khai thác từ tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn giống từ tự nhiên biến động theo mùa vụ, kích
thƣớc không đồng đều, trộn lẫn nhiều loại với nhau nên khó đáp ứng đƣợc yêu về chất
lƣợng cho các mô hình nuôi cua thƣơng phẩm. Mặt khác do bị khai thác quá mức nên
nguồn lợi cua tự nhiên đang có chiều hƣớng suy giảm.
Để giải quyết vấn đề cua giống cung cấp cho nghề nuôi, năm 1998 Trung tâm
Nghiên cứu Thủy sản III (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III) và một số
2
trƣờng đại học đã cho sinh sản nhân tạo giống cua xanh thành công nhƣng hầu hết tỉ lệ
sống ở các cơ sở sản xuất giống từ giai đoạn Zoea 1 đến Cua bột 1 dƣới 10% và vẫn
còn tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình.
Năm 2004, trung tâm sản xuất giống hải sản ở Giao Thuỷ, Nam Định tiếp nhận
công nghệ sản xuất giống cua xanh từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III Nha
Trang và bƣớc đầu cho sinh sản thành công nhƣng tỉ lệ sống ở các giai đoạn ấu trùng
còn thấp.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nghề nuôi nhằm vận dụng kiến thức đã học
vào thực tế sản xuất và hoàn thành khóa học, đƣợc sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng
Thủy sản – Trƣờng Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu quy trình kỹ
thuật sản xuất giống nhân tạo cua xanh (Scylla paramamosain Estampador, 1949) tại
Trung tâm Sản xuất giống hải sản ở Giao Thủy, Nam Định” với các nội dung sau:
1. Hệ thống công trình phục vụ và chuẩn bị sản xuất.
2. Kỹ thuật tuyển chọn, nuôi vỗ thành thục và cho đẻ cua mẹ.
3. Kỹ thuật ƣơng nuôi ấu trùng.
4. Các biện pháp quản lý môi trƣờng và phòng trừ dịch bệnh.
5. Thu hoạch và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu:
1. Làm quen với phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã
học vào thực tiễn.
Loài S. paramamosain có kích thƣớc tƣơng đối lớn và có thể đạt đƣợc khối lƣợng
2kg. Cua có màu xanh lục hoặc màu vàng sẫm, mặt bụng thƣờng có màu sáng hơn mặt
lƣng.
Toàn bộ cơ thể đƣợc bao bọc trong lớp vỏ kitin dày, cơ thể cua dẹp theo hƣớng
lƣng bụng và chia làm 2 phần, phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua),
phần bụng nhỏ và gập lại dƣới giáp đầu ngực (yếm cua).
4
Hình 1.1: Hình thái cua biển (Scylla paramamosain)
Phần đầu ngực là sự liên hiệp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực nằm phía dƣới mai. Do
ranh giới giữa các đốt không rõ ràng, nên việc phân biệt các đốt có thể dựa vào số bộ
phụ trên các đốt. Đầu gồm 5 đốt: có mắt, anten và các phần phụ miệng. Ngực gồm 8
đốt: có mang, chân hàm và các chân bò. Mai cua to và phía trƣớc có nhiều răng. Trƣớc
mai có hai hố mắt, có hai mắt nằm trên cuống mắt. Giữa hai hố mắt: mỗi bên mép
trƣớc của giáp đầu ngực có 9 gai nằm liên tiếp nhau. Mặt trên của giáp đầu ngực phân
chia thành từng vùng nhỏ ngăn cách bởi rãnh và gờ rõ rệt. Phía trƣớc là vùng trán, kế
tiếp là vùng dạ dày ngăn cách với nhau bởi hai gờ, kế là vùng tim và sau vùng tim đến
vùng ruột. Hai bên vùng dạ dày là vùng gan và ngoài cùng là vùng mang. Mặt bụng
của phần đầu ngực có các tấm bụng, các tấm bụng làm thành vùng lõm ở giữa chứa
phần bụng gập vào. Ở con cái có đôi lỗ sinh dục nằm ở tấm bụng thứ ba đƣợc phần
bụng gập lại che lấp [3], [7].
Phần bụng gồm 7 đốt với các phần phụ bị tiêu giảm nằm gấp lại dƣới phần đầu
ngực làm cho cua thu ngắn chiều dài và gọn lại giúp cua bò đƣợc dễ dàng. Ở con cái
hạ triều [5], [8], [12]. Đến giai đoạn thành thục sinh dục cua di cƣ ra vùng gần bờ để
sinh sản rồi tiếp tục lặp lại vòng đời.
Ấu trùng Zoea thích hợp với nồng độ mặn từ 25 - 30‰, cua con và cua trƣởng
thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2 - 38‰. Tuy nhiên, trong thời kỳ đẻ
trứng đòi hỏi độ mặn từ 22 - 32‰ [3], [4], [6], [13].
Cua sống ở vùng nƣớc lợ có độ pH trong khoảng 7,5 - 9,2, thích hợp nhất là từ
7,5 - 8,8. Tuy nhiên, cua có thể chịu đựng đƣợc trong nƣớc có độ pH thấp hơn 6,5.
Cua có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi độ mặn trong môi trƣờng nƣớc, cũng có
thể sống trong vùng gần nhƣ ngọt cho đến độ mặn trên 33‰ [7], [14].
Ở Việt Nam cua xanh phân bố rất rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao, cua chịu
đựng nhiệt độ nƣớc thấp rất tốt. Ở vùng biển nƣớc ta cua biển thích nghi với nhiệt độ
nƣớc từ 25 - 29
0
C. Nhiệt độ cao thƣờng ảnh hƣởng xấu đến các hoạt động sinh lý của
cua và là một trong những nguyên nhân gây chết hàng loạt khi nuôi thƣơng phẩm [7].
6
1.1.4. Đặc điểm dinh dƣỡng
Tính ăn của cua xanh thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng
cua thích ăn thực vật và động vật phù du (luân trùng, Nauplius của Artemia, Artemia
sinh khối…). Khác với cua có kích thƣớc lớn hoạt động về đêm, ấu trùng cua có tính
hƣớng quang mạnh, có thể dùng ánh sáng để kích thích chúng bắt mồi. Cua con
chuyển sang ăn tạp và kiếm ăn vào ban đêm. Thức ăn tự nhiên của chúng chứa 50%
động vật thân mềm, 21% giáp xác, phần còn lại là cá tạp. Tập tính kiếm ăn của chúng
cũng thay đổi theo tuổi, cua con 2-7 cm chủ yếu ăn giáp xác, cua từ 7-13 cm thích ăn
động vật thân mềm, cua lớn hơn thƣờng ăn cua nhỏ, ghẹ, cá… Cua là loài bắt mồi tích
cực thời gian bắt mồi thƣờng nhiều hơn thời gian vùi mình dƣới đáy hoặc trong hang.
Cua thƣờng trú ẩn vào ban ngày và bắt mồi vào ban đêm. Cua thƣờng ăn rất nhiều
nhƣng cũng có thể nhịn đói từ 10 - 15 ngày trong những điều kiện bất lợi [3], [26].
1.1.5. Đặc điểm sinh trƣởng
khác nhau. Vùng biển phía Bắc thì gặp cua ôm trứng nhiều vào tháng 4 - 7, các tỉnh
duyên hải Nam Trung bộ thƣờng bắt gặp cua ôm trứng từ tháng 4 - 10. Ở vùng biển
phía Nam nƣớc ta, cua thƣờng bắt đầu di cƣ vào tháng 7, 8 và mùa sinh sản thƣờng bắt
đầu từ tháng 10 - 2 năm sau. Tuy vậy, cũng có thể bắt gặp cua ôm trứng sớm hơn [7].
Mùa vụ sinh sản
Ở Việt Nam, thời gian sinh sản của cua xanh khác nhau tùy vào từng vùng khác
nhau. Cua xanh đẻ trứng quanh năm, tuy vậy chúng vẫn thể hiện tính mùa vụ rất rõ
nét, mùa vụ sinh sản chính tập trung từ tháng 2 - 3 và từ tháng 7 - 8 trong năm. Theo
Hoàng Đức Đạt (1992) thì ở vùng biển phía bắc Việt Nam, mùa đẻ trứng của cua xanh
tập trung từ tháng 4 - 7, ở vùng biển phía nam Việt Nam cua xanh bắt đầu di cƣ vào
tháng 7 - 8 và mùa sinh sản chính bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Nhìn
chung, mùa vụ sinh sản chính chi phối bởi yếu tố nhiệt độ, vì vậy có thể nói ở những
vùng địa lý khác nhau thì mùa vụ sinh sản chính xuất hiện theo thời gian khác nhau
trong năm [7], [12], [14].
1.1.6.2. Kích thƣớc thành thục và sức sinh sản
Kích thƣớc và khối lƣợng của cua xanh ở giai đoạn thành thục: cua cái có khối
lƣợng trên 250g và chiều rộng giáp đầu ngực (CW) từ 11,5 – 12,0 cm, cua đực có khối
lƣợng từ trên 350g và chiều rộng của giáp đầu ngực từ 10 – 11 cm trở lên. Theo nghiên
cứu thì toàn bộ cá thể loài S. paramamosain có CW ≥ 10 cm tƣơng ứng với khối lƣợng
trung bình toàn thân trên 267g đều thành thục và có khả năng tham gia sinh sản. Tuy
nhiên, kích thƣớc thành thục thay đổi theo loài và trong cùng một loài thay đổi do ảnh
hƣởng của các điều kiện khí hậu theo từng vùng địa lý. Cua cái S. Serrata thành thục
8
lần đầu tiên khoảng 12 cm và CW đạt tối đa là 24 cm, trong khi đó loài S.
paramamosain lột xác thành thục ở cỡ 8 - 9 cm và có thể đạt CW tối đa là 14 – 15 cm
[11]. Cua xanh ở khu vực miền Bắc Việt Nam có kích thƣớc thành thục CW ≥ 10 cm.
So sánh với kích thƣớc thành thục của cua xanh ở một số nƣớc, chúng ta thấy kích
thƣớc thành thục cua xanh ở khu vực miền Bắc Việt Nam ở mức độ trung bình.
Bảng 1.1: Kích thƣớc thành thục tối thiểu của loài cua xanh ở một số vùng địa lý
N
22
o
N – 8
o
S
13
o
N
24
o
S
Ong (1996)
Norman (1987)
Escitor (1970)
Varikul và ctv. (1972)
Nguyễn Cơ Thạch (????)
Raja (1955)
Hill (1975)
Nghiên cứu về mối tƣơng quan giữa kích thƣớc cơ thể và sức sinh sản cho thấy
chúng có sự tƣơng quan tỷ lệ thuận. Nhóm có kích thƣớc CW 10 – 11 cm có sức sinh
sản thực tế khoảng 1.200.000 trứng/lần đẻ, trong khi đó nhóm có kích thƣớc CW 12,1
– 13,0 cm thì sức sinh sản thực tế khoảng 1.800.000 trứng/lần đẻ [4].
1.1.6.3. Hoạt động giao phối
Trƣớc khi lột xác khoảng 2 - 10 ngày, cua đực và cua cái sẽ ghép đôi với nhau.
Trƣớc khi giao vĩ cua cái tiết ra một loại pheromone để thu hút con đực. Cua đực dùng
3 đôi chân bò ôm lấy mặt lƣng của con cái và cùng di chuyển với nhau khoảng 3 - 4
ngày. Đến khi con cái sắp lột xác, con đực mới rời con cái ra nhƣng vẫn ở bên cạnh,
con cái vừa lột xác xong con đực liền ôm con cái, cua đực và cái áp sát mặt bụng vào
10
Bảng 1.2: Hình dạng bề ngoài của buồng trứng ở các giai đoạn thành thục [10]
Giai đoạn
Đặc điểm
I
Chƣa thành thục; tuyến sinh dục mỏng và trong suốt, khó phân biệt, dễ
lẫn lộn với mô.
II
Tuyến sinh dục đang phát triển; tuyến sinh dục mỏng, nhƣng noãn sào
có màu trắng hay cam vàng.
III
Đang thành thục; noãn sào nở rộng; màu vàng hay cam nhạt.
IV
Thành thục; noãn sào tăng kích thƣớc; màu cam nhạt hoặc đậm.
V
Thành thục; noãn sào nở rộng chiếm hết diện tích; màu cam đậm.
VI
Sau đẻ; noãn sào mỏng, giống nhƣ giai đoạn II và III.
Bảng 1.3: Cấu tạo mô ở các giai đoạn khác nhau của buồng trứng [10]
Giai đoạn
buồng trứng
Đặc điểm mô
Kích thƣớc tế
bào trứng (μm)
I
Noãn nguyên bào phân cắt ở nhiều giai đoạn
VI
Noãn nguyên bào, trứng ƣu baze và phần còn
lại của trứng trƣởng thành bị phân hủy có thể
quan sát đƣợc.
63,62
7,92
Phạm Thị Tuyết Ngân (2005) đã phân tích sự liên hệ giữa cấu trúc mô và hình
dạng bên ngoài của cua ở các giai đoạn thành thục khác nhau đã cho thấy mối tƣơng
quan giữa sự phát triển của buồng trứng và hình dạng bên ngoài (Bảng 1.4). Tỷ lệ
chiều cao/chiều rộng mai tăng dần từ giai đoạn I đến V (0,415 - 0,424 mm), tỷ lệ chiều
dài bụng/chiều rộng bụng giảm dần từ giai đoạn I - V (1,14 - 0,94 mm), sự thay đổi
này rõ rệt nhất ở giai đoạn I và II, nhƣng sau đó ổn định ở giai đoạn IV và V [10]. 11
Bảng 1.4: Tỷ lệ số đo các kích cỡ mai, bụng ở các giai đoạn thành thục [10]
Giai đoạn
Chiều cao/rộng mai
(mm)
Chiều dài/rộng mai
(mm)
Chiều dài bụng/rộng
bụng (mm)
I
0,415
0,020
0,700
0,013
0,94
0,05
V
0,424
0,015
0,707
0,022
0,94
0,05 (a)
(b)
Hình 1.4: Sự thay đổi hình dạng bụng của cua biển ở các giai đoạn thành thục
(a)
(b) (c)
(d)
C, độ mặn 28 – 33‰, pH từ 7 –
8,5 thì quá trình phát triển diễn ra bình thƣờng [6].
(c)
(d)
(e)
13
Bảng 1.5: Tóm tắt quá trình phát triển phôi cua biển [2], [4]
Quá trình phát triển
Màu sắc – kích thƣớc
Sau 1 giờ trứng bắt đầu phân cắt
Vàng da cam (270µm )
Quá trình phôi vị sau 5 – 7 ngày
Vàng xám (320µm)
Xuất hiện điểm mắt sau 7 ngày
Xám vàng nâu (390µm)
Xuất hiện nhịp tim sau 10 ngày
Xám đen (480µm)
Xuất hiện đày đủ các phần phụ, nhịp tim đập
nhanh, mạnh đến khi vỏ trứng nở ra xuất hiện ấu
trùng sau 13 – 14 ngày (kể từ khi đẻ)
Đen
Sự phân cắt diễn ra nhƣ sau: Sự phân cắt và phôi vị hoá đều xảy ra trong 5 ngày
đầu, khi trứng ngả sang màu xám thì bắt đầu xuất hiện mầm chân mắt. Lúc đầu mắt có
dạng mảnh dài, màu sáng, đối xứng hai bên, xung quanh xuất hiện các đốm hình sao
và cuối cùng hình thành đôi mắt kép màu đen [7], [8].
chân hàm II mang 9 lông tơ, có 6 đốt bụng, gai
bên của đốt bụng 3 - 5 dài hơn.
Zoea 4
8 – 11
3,54
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 10 lông tơ,
chân hàm II mang 10 lông dài, 1 - 2 lông ngắn,
mầm chân bụng xuất hiện trên các đốt bụng 2 -
6.
Zoea 5
10 – 16
4,50
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 11 lông dài,
1 - 4 lông ngắn, nhánh ngoài của chân hàm II
14
mang 12 lông dài và 2 - 3 lông ngắn, chân bụng
trên đốt bụng 2 - 6 rất phát triển, nhánh ngoài
của chân bụng có thể mang 1 - 2 lông tơ.
Megalop
15 – 23
4,01
Mất gai lƣng, gai trán rất ngắn, mắt to Telson
không còn chẻ 2 mà dạng bầu dục và có nhiều
lông trên chân đuôi, chân bụng rất phát triển và
có nhiều lông trên các nhánh, ấu trùng mang 2
càng.
Cua con
(Cua 1)
23 – 30
15
giữa thuốc kháng sinh – tảo - Nauplius của Artemia. Tảo Chlorella có tác dụng làm
tăng tỉ lệ sống của ấu trùng Zoea, Nauplius của Artemia đƣợc coi là thức ăn thích hợp
nhất [17].
Heasman và Fielder (1983) đã thử nghiệm cho cua đẻ ở phòng thí nghiệm và
nuôi đại trà cua biển từ giai đoạn Zoea đến cua bột. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần
duy trì chất lƣợng nƣớc bằng hệ thống lọc nƣớc tuần hoàn, với các điều kiện môi
trƣờng, nhiệt độ nƣớc 27
o
C, độ mặn 28 – 32‰, mật độ thức ăn nauplius Artemia 5 –
30 con/L đƣợc coi là điều kiện thích hợp cho quá trình ƣơng nuôi ấu trùng. Với điều
kiện này tỷ lệ sống đạt 1 – 4% [20].
Trong suốt quá trình thành thục, cua di cƣ ra ngoài cửa biển. Qua phân tích tỉ lệ
giới tính của cua ở vùng nƣớc lợ và nƣớc ngọt, Prasad (1987) thấy rằng tỉ lệ phần trăm
con đực và con cái tƣơng đƣơng nhau ở hai vùng nƣớc [29]. Theo Ong (1964), tỉ lệ
con cái trƣởng thành giảm đáng kể ở vùng nƣớc lợ tại thời điểm đỉnh cao của mùa sinh
sản và tăng lên trong các quần thể cua ở nƣớc mặn và cua có trứng chỉ tìm thấy ở vùng
biển của Ấn Độ [28].
Nghiên cứu ảnh hƣởng các yếu tố môi trƣờng nhƣ nhiệt độ, độ mặn lên tỷ lệ sống
và phát triển của ấu trùng một số giống loài cua đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu ở
những môi trƣờng khác nhau và đã đƣợc báo cáo. Prasad (1989) giả thuyết rằng độ
mặn, nhiệt độ và khả năng cung cấp thức ăn là những nhân tố quan trọng kích thích cơ
thể đẻ trứng [29].
Nghiên cứu của Prasad (1989) chỉ ra độ mặn và nhiệt độ không cao cũng không
thấp vào mùa sinh sản rộ là điều kiện rất lý tƣởng cho quá trình ấp trứng và phát triển
của ấu trùng [29]. Trong thí nghiệm đánh giá về ảnh hƣởng của nhiệt độ và độ mặn
đến ấu trùng Zoea đầu tiên, Hill (1974) thấy rằng tỷ lệ chết của ấu trùng Zoea gia tăng
đáng kể khi ƣơng trong điều kiện nhiệt độ 25
o
C hoặc độ mặn dƣới 17,5‰, qua đó, tác
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam có nguồn lợi cua biển phong phú và có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi cua nói riêng.
Để giải quyết vấn đề con giống, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao
nhiệm vụ cho các Viện Nghiên cứu triển khai thực hiện từ những năm 1980. Tuy
nhiên, tại thời điểm đó các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về định loài và nghiên
cứu đặc điểm sinh học làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo sau này. Trong
những năm đầu của thập kỷ 90, các tác giả nhƣ Hoàng Đức Đạt, Đoàn Văn Đẩu,
Nguyễn Cơ Thạch nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống, với mong
muốn tìm ra quy trình sản xuất giống nhân tạo, kết quả đạt đƣợc vẫn còn hạn chế.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hải (1997) khi nuôi vỗ cua cắt mắt trong bể 1m
3
,
cua có thể đẻ trong vòng 5 ngày sau khi cắt mắt và thả nuôi. Tuy nhiên, cũng có
trƣờng hợp kéo dài đến 111 ngày mới đẻ và một số con không đẻ. Cua đẻ trứng không
luôn luôn xảy ra vào những ngày trăng kém hay trăng rằm mà bất kỳ ngày nào trong
tháng. Cua thƣờng đẻ trứng vào ban đêm, song cũng có lúc đẻ trứng vào buổi sáng hay
chiều. Cua cái tham gia đẻ trứng thƣờng có kích cỡ 200 - 300g, cua có thể đẻ lại sau
20 - 30 ngày.
Năm 1998, Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trƣờng đã giao cho Viện nghiên cứu
Nuôi truồng Thủy sản III thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng
quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua Xanh loài S. paramamosain” sự thành
công của đề tài này đã giúp giải quyết phần nào nguồn cua giống cho nghề nuôi cua.
Năm 2003, lƣợng cua giống sản xuất nhân tạo là 0,5 triệu con và con số này đã tăng
lên 10 triệu con vào năm 2004 [3], [5], [6].
17
Cũng trong thời gian này, Trƣờng Đại học Cần Thơ cũng nghiên cứu sinh sản
nhân tạo thành công cua xanh và bƣớc đầu thử nghiệm nuôi cua xanh thƣơng phẩm từ
nguồn giống nhân tạo [10].
18
thành cao mà nó còn là nguồn mang mầm bệnh rất nhiều làm ảnh hƣởng tới quá trình
ƣơng cua nếu nhƣ chúng ta không quản lý, chăm sóc cẩn thận trong quá trình chuẩn bị
thức ăn sống. Vấn đề đặt ra là phải tìm nguồn thức ăn thay thế thức ăn tƣơi sống mà
vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dƣỡng cho ấu trùng cua.
Tập tính ăn nhau trong giai đoạn ƣơng ấu trùng
Hiện tƣợng ăn thịt lẫn nhau thƣờng xảy ra ở tất cả các giai đoạn ấu trùng cua
biển, làm giảm tỉ lệ sống đặc biệt là giai đoạn chuyển từ Zoea 5 sang Megalop.
Nguyên nhân là do sự lột xác không đều, ấu trùng lột xác trƣớc ăn ấu trùng chƣa lột
xác [28] hoặc do thức ăn chƣa phù hợp [15]. Khi chuyển sang giai đoạn Megalop ấu
trùng đã xuất hiên đôi càng, trở nên năng động, bơi lội tự do và bắt mồi sống. Nếu
ƣơng với mật độ dày xảy ra hiên tƣợng Megalop cắn Zoea 5, điều này thể hiên rõ khi tỉ
lệ sống từ Zoea 5 sang Megalop rất thấp. Sự phong phú thức ăn tự nhiên trong môi
trƣờng nuôi và mật độ ƣơng thƣa có thể khắc phục đƣợc tình trạng này [20].
Các điều kiện môi trƣờng trong ƣơng cua
Trong tự nhiên cũng nhƣ trong điều kiện nuôi, nhiệt độ, độ mặn và ánh sáng là
những yếu tố môi trƣờng ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, lột xác và tỉ lệ sống của ấu trùng.
Hill (1974) thấy rằng ấu trùng Zoea thích hợp sống trong điều kiện vùng cửa sông là
do độ mặn thấp [21]. Còn Heasman và ctv (1983) lại nhận thấy tần số bắt mồi của ấu
trùng tăng lên khi nhiệt độ tăng trên khoảng 20 – 27
0
C và chậm lại khi nhiệt độ thấp
dƣới 20
0
C [20]. Nguyễn Cơ Thạch (2003) đã xác định nhiệt độ từ 26 – 30
0
C, độ mặn
25 – 30‰ là điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng cua biển. Giai
đoạn ấu trùng cua biển có quá trình di cƣ (trôi theo dòng nƣớc) theo chiều hƣớng độ
mặn giảm dần, giai đoạn Megalop có khuynh hƣớng lớn nhanh khi độ mặn giảm còn
nghiên cứu từ những năm 1990. Kết quả quan sát cua đẻ trong ao cho thấy cua thƣờng
bị nhiễm nhiều động vật nguyên sinh hoặc các sinh vật khác dẫn đến tỷ lệ nở thấp.
Trong thí nghiệm sử dụng formalin 25 ppm để khử sự nhiễm nấm của trứng cua cho
thấy nó gây độc cho trứng một ngày sau khi đẻ và độc với cả cua mẹ nếu giữ cua một
thời gian lâu hơn. Do đó, nên xử lý nhiễm nấm bằng formaline ở các giai đoạn đầu của
ấu trùng tốt hơn là ở giai đoạn cua mang trứng. Sử dụng 50 ppm formaline ngâm cua
mẹ và trứng trong 1 giờ mỗi ngày có thể diệt và ngăn chặn nấm và ký sinh trùng có
hiệu quả (Trƣơng Trọng Nghĩa và ctv. 2001) [11].
Kết quả nghiên cứu của Zafran và ctv. (1993) đã tìm thấy nấm Lagenidium ở ấu
trùng Zoea. Tác giả đề xuất sử dụng formalin (10 ppt trong 24 giờ) để phòng và trị sự
lây lan của nấm ở ấu trùng cua. Prastowo và Wagimsam (1996) đã tìm thấy trong bể
cua mẹ và sau khi ấp nở kí sinh trùng có thể lây lan sang ấu trùng Zoea mới nở làm ấu
trùng chết rất nhiều. Nhiều biện pháp phòng trị bằng cách sử dụng hóa chất hoặc