Nghiên cứu áp dụng mô hình mike flood để khoanh vùng nguy cơ ngập lụt cho địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Phùng Đức Chính

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MÔ HÌNH MIKE FLOOD ĐỂ KHOANH
VÙNG NGUY CƠ NGẬP LỤT CHO ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Mã số : 604490 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS. NGUYỄN TIỀN GIANG HÀ NỘI – 2012
3
MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
MỤC LỤC HÌNH 5
MỤC LỤC BẢNG 7
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 9

CƠ NGẬP LỤT CHO ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 59
3.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu 59
3.2. Thiết lập mô hình một chiều MIKE 11 59
3.2.1. Thiết lập mô hình thủy lực mạng sông 59
3.2.2. Tính toán các biên đầu vào cho mô hình MIKE 11 bằng mô hình NAM 62
3.2.3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE 11 64
3.3. Thiết lập mô hình hai chiều MIKE 21 69
3.3.1. Thiết lập miền tính, lưới tính 69
3.3.2. Thiết lập địa hình miền tính 71
3.3.3. Tính toán các biên đầu vào cho mô hình MIKE 21 bằng mô hình NAM 72
3.4. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE FLOOD 76
3.4.1. Hiệu chỉnh mô hình 76
3.4.2. Kiểm định mô hình 80
3.5. Khoanh vùng nguy cơ ngập lụt khu vực Hà Nội 81
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

5
MỤC LỤC HÌNH

Hình 1.1. Bản đồ địa hình Hà Nội 10
Hình 1.2. Phân bố lượng mưa trung bình tháng trạm Láng (1961-2010) 15
Hình 1.3. Phân bố lượng mưa trung bình tháng trạm Sơn Tây (1961-2010) 15
Hinh 1.4. Sơ đồ hệ thống các hồ chứa phía thượng nguồn sông Hồng 18
Hình 1.5. Tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người (GDP) của Hà Nội 21
Hình 1.6. Dân số trung bình khu vực Hà Nội từ năm 2005 đến 2009 22
Hình 1.7. Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản trên toàn Hà Nội từ 2005-2010 24
Hình 1.8. Thống kê giá trị sản xuất công nghiệp trên toàn Hà Nội từ 2005-2010 24
Hình 1.9. Bản đồ mạng lưới sông khu vực Hà Nội 27
Hình 1.10. Sơ đồ hệ thống thoát nước lưu vực sông Tô Lịch và bắc sông Nhuệ 30

Hình 3.14. Vị trí các biên dạng điểm trong mô hình MIKE 21 74
Hình 3.15. Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM cho lưu vực Lâm Sơn từ 24/VIII/1975
– 31/VIII/1975 75
Hình 3.16. Kết quả kiểm định mô hình NAM cho lưu vực Lâm Sơn 75
Hình 18. Kết quả hiệu chỉnh mực nước tại Ba Thá 77
Hình 3.19: Kết quả mô phỏng ngập lụt ngày 05/XI/2008 78
Hình 3.20: Ngập lụt chụp từ ảnh vệ tinh ngày 05/XI/2008 78
Hình 3.21. Kết quả mô phỏng ngập lụt ngày 07/XI/2008 78
Hình 3.22. Ngập lụt chụp từ ảnh vệ tinh ngày 07/XI/2008 78
Hình 3.23. Kết quả kiểm định mực nước tại Ba Thá (từ 16 đến 31/VIII năm 2006)80
Hình 3.24. Bản đồ khoanh vùng nguy cơ ngập lụt địa bàn thành phố Hà Nội ứng với
mưa thiết kế 1% 83

7
MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1.1. Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm (1961-2010) 12
Bảng 1.2. Độ ẩm trung bình tháng tại các trạm (1961-2010) 13
Bảng 1.3. Lượng mưa trung bình tháng các trạm (1961 - 2010) 14
Bảng 1.4. Bốc hơi trung bình tháng tại các trạm (1961 - 2010) 15
Bảng 1.5. Lưu lượng trung bình tại các trạm 1961-2010 (m
3
/s) 17
Bảng 1.6. Dung tích các hồ chứa phía thượng nguồn sông Hồng 17
Bảng 1.7. Các hồ trong nội thành Hà Nội 29
Bảng 3.1. Số liệu mặt cắt, chiều dài lòng sông của khu vực nghiên cứu 60
Bảng 3.2. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM tại Ba Thá 64
Bảng 3.3. Hệ số nhám tại một số vị trí mặt cắt trong hệ thống sông 65
Bảng 3.4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình MIKE 11 66
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định mô hình MIKE 11 67

của các thầy cô, của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, học viên xin chân thành cảm ơn. 9
CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Hà Nội nằm ở phía tây bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng có tọa độ từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ
Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang và Bắc
Ninh, phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hòa
Bình, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội có diện
tích tự nhiên khoảng 3.344,7 km² gồm: thị xã (thị xã Sơn Tây), 10 quận nội thành
(Ba Đình, Cầu Giấy, Tây Hồ, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Long Biên,
Hoàng Mai, Hoàn Kiếm, Hà Đông) và 18 huyện ngoại thành (Đông Anh, Sóc Sơn,
Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Ba Vì, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thạch
Thất, Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ
Đức và Mê Linh).
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông với ba phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai
bên sông Hồng và chi lưu các sông khác. Phần diện tích đồi núi chủ yếu nằm ở các
huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Da
Dê (thuộc dãy núi Ba Vì) cao 707 m, núi Hàm Lợn hay còn gọi là núi Chân Chim
(huyện Sóc Sơn) cao 462 m, Thiên Trù (huyện Mỹ Đức) cao 378 m
Tiếp giáp với vùng núi cao là một vùng đồi núi thấp chạy dài từ chân núi Ba
Vì xuống đến Chương Mỹ. Tính phân bậc của địa hình đồi gò không rõ ràng, gồm
những bậc có độ cao 200-150m, 150-100m, 100-50m, 50-20m và nhỏ hơn 25m.
Địa hình vùng đồng bằng không phức tạp, song cũng không hoàn toàn bằng

thích hợp với nhiều loại cây trồng.
Đất phù sa ngoài đê là loại đất rất màu mỡ, tập trung chủ yếu ở các bãi bồi
ven sông và các bãi giữa sông. Hàng năm chúng được bồi đắp khi lũ về.
12
Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai
huyện Đông Anh và Sóc Sơn. Đây là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, thành phần
cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô cạn, kết dính khi gặp nước.
Nhóm đất đồi núi tập trung chủ yếu ở các huyện Ba Vì, Sóc Sơn, Thạch
Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, và thị xã Sơn Tây. Trong đó khu vực đất đồi
núi tập trung chủ yếu ở các huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn, phổ biến là đất feralit
với tầng đất mỏng, thích hợp trồng rừng phòng hộ, cây công nghiệp dài ngày và cây
dược liệu. Khu vực đất gò đồi tập trung chủ yếu ở các huyện còn lại, phổ biến là đất
feralit lẫn với nhóm bạc màu và feralit phát triển trên đá trầm tích.
1.1.4. Đặc điểm khí tượng, thủy văn
1) Đặc điểm khí tượng
Hà Nội nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm có mùa Hè nóng ẩm,
mưa nhiều với nền nhiệt độ không khí cao và mùa Đông lạnh, ít mưa với nền nhiệt
độ không khí tương đối thấp. Theo chuỗi số liệu quan trắc các trạm khí tượng Hà
Nội (trạm Láng) và Hà Đông từ năm 1971 đến 2009, đặc điểm chính của khí tượng
Hà Nội như sau:
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm ở trạm Láng là 23.7
0
C và ở Hà Đông là 23.5
0
C.
Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè (V-X) ở trạm Láng là 27.8
0
C và ở Hà Đông là
27.4

28.9

29.2

28.6

27.5

25.0

21.5

18.2

23.7

Sơn Tây
16.3

17.3

20.1

23.8

27.1

28.6

28.9

26.9

24.5

21.1

17.6

23.4 13
Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình năm tại Láng là 82% và tại Hà Đông là 85%.
Thời kỳ cuối mùa hè đến đầu mùa Đông (XI-XII) là thời kỳ tương đối khô, độ ẩm
trung bình tháng tại Láng chỉ 78% và tại Hà Đông từ 82%. Thời kỳ từ tháng II-III là
thời kỳ ẩm ướt do có mưa phùn nên đây là các tháng có độ ẩm trung bình cao nhất
trong năm, tại Láng độ ẩm đạt 86%, tại Hà Đông độ ẩm đạt 89%. Biên độ độ ẩm
trong ngày chỉ từ 20-30%, các tháng giữa mùa mưa độ ẩm tương đối lớn, trung bình
từ 82-84% tại Hà Nội và 87% tại Hà Đông (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Độ ẩm trung bình tháng tại các trạm (1961-2010)
Đơn vị: %
Trạm I II III IV V VI VII

VIII

IX X XI XII

Năm
Láng

86.6

87.6

84.1

83.1

82.8

85.6

85.0

83.9

78.8

77.9

83.6
Hà Đông
84.5

85.6

87.9

89.3


dao động trong khoảng từ 250-300mm, với 12-15 ngày mưa (Bảng 1.3).
14
Bảng 1.3. Lượng mưa trung bình tháng các trạm (1961 - 2010)
Đơn vị: mm
Trạm
I II III IV V VI VII VIII

IX X XI XII

Năm

Láng
19.4

26.7

46.4

94.2

185.6

249.5

277.4

295.3

223.9



19.4

1759.0

Thạch
Thất
18.4

25.0

41.5

96.1

213.1

268.5

283.2

256.7

213.5

159.1

55.7

16.4

1591.0

Gia
Lâm

22.4

24.9

44.7

81.3

155.0

228.2

219.1

260.9

185.8

130.7

62.6

9.7 1425.3

Sóc Sơn

nhỏ. Tháng I là tháng có lượng mưa nhỏ nhất chỉ khoảng 15-20mm và 5-7 ngày
mưa. Nửa cuối mùa khô là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt. Tuy lượng mưa không tăng
nhiều so với đầu mùa (cũng chỉ khoảng 20-40mm/tháng) song số ngày mưa thì
nhiều hơn rõ rệt mỗi tháng có10-15 ngày có mưa.
Lượng mưa ở Hà Nội biến động khá mạnh theo mùa và từ năm này qua năm
khác. Những năm nhiều mưa nhất, lượng mưa có thể vượt quá 2500mm, những năm
ít mưa nhất không quá 1000mm. Chênh lệch lượng mưa giữa năm cực đại và cực
tiểu lên tới 1500mm và có thể cao hơn. Trong những tháng mùa mưa, lượng mưa
trung bình đạt khoảng 250-350mm/tháng, nhưng lượng mưa tháng lớn nhất có thể
vượt quá 500-800mm và lượng mưa tháng nhỏ nhất không tới 40-50mm. Trong
những tháng mùa khô lượng mưa thay đổi từ 3-5mm (năm ít mưa) đến hơn 100mm
(năm mưa nhiều), Hình 1.2, Hình 1.3.
15
Hình 1.2. Phân bố lượng mưa trung
bình tháng trạm Láng (1961-2010)
Hình 1.3. Phân bố lượng mưa
trung bình
tháng trạm Sơn Tây (1961-2010)
Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình năm ở trạm Láng là 61,4 mm, trạm Hà Đông 44, 2
mm. Các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm là các tháng mùa hè và đầu
mùa đông (V-XII), lượng bốc hơi trung bình tháng từ 49,3 – 69,0 mm.
Các tháng có lượng bốc hơi ít nhất là tháng I-IV, lượng bốc hơi trung bình
tháng từ 34,5 – 46,1 mm (Bảng 1.4).
Bảng 1.4. Bốc hơi trung bình tháng tại các trạm (1961 - 2010)
Đơn vị: mm
Trạm I II III IV V VI VII VIII

IX X XI XII TB
Láng


33.2

33.1

45.4

58.2

62.7

44.2

40.1

48.7

48.3

46.4

44.2

Gió
Hướng gió thịnh hành ở khu vực Hà Nội là hướng Đông Nam (mùa hè), với
tần suất khoảng 21.91%, tiếp đó là hướng Đông Bắc (mùa đông) chiếm 11.76%.
Các hướng Đông, Đông Đông Bắc, Bắc và Tây Bắc có tần suất từ 5,22 – 6,73%.
Tốc độ gió trung bình năm ở Hà Nội là 1.9 m/s. Tốc độ gió trung bình từng
tháng biến đổi không nhiều (từ 1.6 m/s đến 2.2 m/s). Các tháng từ I-V có tốc độ gió
16

3
/s (1989), Bảng 1.5.
Mùa lũ trên sông Hồng tại Hà Nội thường xuất hiện từ tháng VI đến tháng X
với tổng lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 72,7% tổng lượng dòng chảy năm, ba tháng
có dòng chảy lớn nhất thường xuất hiện vào các tháng VII, VIII, IX với tổng lượng
dòng chảy 3 tháng lớn nhất chiếm 52,4% tổng lượng dòng chảy năm, tháng có dòng
chảy lớn nhất thường là tháng VIII có tổng lượng dòng chảy chiếm 19.9% tổng
17
lượng dòng chảy năm. Lưu lượng lớn nhất đo được tại trạm thủy văn Hà Nội là
22.200 m
3
/s (20/VIII/1971). Tốc độ dòng chảy lớn nhất là 2,81m/s (21/VIII/1971).
Mùa cạn trên sông Hồng tại Hà Nội thường bắt đầu từ tháng XI đến tháng V
(8 tháng) với tổng lượng dòng chảy chiếm 27,3% tổng lượng dòng chảy năm. Ba
tháng có dòng chảy nhỏ nhất là tháng I, tháng II và tháng III với tổng lượng dòng
chảy 3 tháng nhỏ nhất chiếm 8,7% tổng lượng dòng chảy năm, tháng có dòng chảy
nhỏ nhất (III) chiếm 2,7% tổng lượng dòng chảy năm. Lưu lượng nhỏ nhất đo được
tại trạm thủy văn Hà Nội là 350m
3
/s (09/V/1960).
Bảng 1.5. Lưu lượng trung bình tại các trạm 1961-2010
Đơn vị: m
3
/s
Trạm I II III IV V VI VII VIII

IX X XI XII Năm

Hà Nội
1014


8028

8345

5728

3823

2588

1584

3467
Thượng Cát
549 498 547 544 533 1359

2293

2532

1992

1190

953 604 1133
* Ảnh hưởng của điều tiết của hệ thống hồ chứa phía thượng nguồn đến chế
độ dòng chảy sông Hồng ở khu vực Hà Nội
Hệ thống hồ chứa phía thượng nguồn sông Hồng (phần lãnh thổ Việt Nam)
gồm các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và hồ Thác Bà, các hồ này có nhiệm

năm, nên sự điều tiết của hồ có ảnh hưởng đáng kể đến sự phân phối dòng chảy theo
các tháng trong năm. Về mùa lũ, hồ phải giữ lại một lượng nước lớn để giảm lũ cho
hạ lưu và để điều tiết bổ sung cho mùa cạn phục vụ cho phát điện, tưới cho nông
nghiệp và tăng cường năng lực cho giao thông đường sông. Vì vậy, từ 1995-2002
(thời kỳ hồ Hoà Bình đã vận hành ổn định) lượng dòng chảy mùa cạn đã tăng lên so
với giai đoạn từ 1956-1994 (thời kỳ chưa có hồ Hoà Bình và đã có hồ nhưng chưa
vận hành ổn định).
Kết quả tính toán so sánh cho thấy về mùa cạn (XI-IV), lưu lượng trung bình
thời kỳ 1995-2002 (1370m
3
/s) tăng lên 13% so với thời kỳ 1956-1994 (1210m
3
/s),
mực nước trung bình tăng hơn 12cm (344cm và 322cm).
Trong ba tháng cạn nhất II-IV, lưu lượng trung bình tăng lên 36% (1170m
3
/s
và 860m
3
/s) và mực nước trung bình tăng cao hơn 39cm (315cm và 276cm). Trong
tháng kiệt nhất (III), lưu lượng trung bình tăng lên tới 44% (1131m
3
/s và 786m
3
/s)
và mực nước trung bình tăng cao hơn tới 45cm (308cm và 263cm). Lưu lượng kiệt
nhất trung bình tăng cao hơn 17% (703m
3
/s và 600m
3

thành nên một phần của hệ thống thu hồi nước thải và điều hoà thoát nước.
1.1.5. Đặc điểm kinh tế - xã hội trên khu vực
Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế của
cả nước nên tập trung các cơ quan đầu não của Chính phủ, các sứ quán nước ngoài
và các tổ chức quốc tế; có nhiều đầu mối giao thông, dễ thông thương với bên
ngoài.
Hà Nội có nguồn và chất lượng lao động khá tốt và đồng đều, có tiềm lực
khoa học kỹ thuật lớn mạnh, có nền tảng và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt
cùng với nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, có khả năng thu hút và hấp dẫn lượng
khác du lịch trong và ngoài nước, hội tụ đầy đủ điều kiện và tiềm lực hội nhập với
khu vực tam giác phát triển của châu Á và trên thế giới. Điều đó được thể hiện trong
biểu đồ giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) tính trên đầu người từ năm 2005 đến
2009, chưa rõ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Hà Nội trong những năm gần đây
(Hình 1.5).
1) Dân số
Theo Niên giám thống kê Hà Nội năm 2009, tính đến ngày 1/4/2009 dân số
Hà Nội đạt 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2009 là 6.472.200 người, trong
đó dân số khu vực thành thị xấp xỉ 2.632.087 người (chiếm 41,1% tổng số dân toàn
21
thành phố), dân số vùng nông thôn xấp xỉ 3.816.750 người (chiếm 58,1% tổng số
dân toàn thành phố). Dân tộc Kinh chiếm chủ yếu trong thành phần dân số của thủ
đô, chiếm khoảng 98,73%, ngoài ra còn các dân tộc khác (Mường chiếm 0,76 %,
Tày chiếm 0,23 % ) chiếm tỷ lệ nhỏ trong cộng đồng dân cư thành phố.

0
5
10
15
20
25

Hình 1.6. Dân số trung bình khu vực Hà Nội từ năm 2005 đến 2009
2) Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng theo xu thế hiện đại hóa, cơ cấu kinh
tế dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp đã hình thành rõ nét. Quan hệ giữa các
ngành kinh tế bước đầu có sự thay đổi về chất.
a) Nông nghiệp – Lâm Nghiệp – Thủy sản
Nông nghiệp
Ở thành phố Hà Nội, kinh tế nông nghiệp được coi trọng nhất ở huyện Từ
Liêm và huyện Thanh Trì. Tổng diện tích đất nông nghiệp của hai huyện này chiếm
khoảng 35% diện tích đất thành phố Hà Nội. Cư dân sản xuất nông nghiệp khoảng
2,5 triệu người.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn thành phố là 317.576 ha, vụ
đông xuân trồng được 193.752 ha. Vụ mùa toàn thành phố trồng được 123.823 ha.
Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 1/10/2010, đàn trâu toàn Thành
phố hiện có 26.900 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.451 tấn. Tổng đàn lợn
hiện có 1.625.165 con, số lợn xuất chuồng trong năm là 4.120.207 con, sản lượng
thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 308.217 tấn.
Lâm nghiệp
23
Năm 2010 diện tích rừng trồng mới ước đạt 296 ha, tăng 6,9% cùng kỳ. Diện
tích rừng được chăm sóc 627,2 ha, diện tích rừng được giao khoán, bảo vệ 5.545,6
ha, số cây trồng phân tán ước đạt 753 ngàn cây. Sản lượng gỗ khai thác đạt 10 037
m
3
, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2009 và đều được khai thác từ rừng trồng (Hình
1.7).
Thủy sản
Theo kết quả điều tra thuỷ sản 1/11/2010 của các huyện, quận, thị xã: Diện
tích nuôi trồng thuỷ sản toàn Thành phố đạt 20.554,5 ha, sản lượng thuỷ sản nuôi
trồng đạt 56.734,8 tấn, Tổng sản lượng thuỷ sản khai thác năm nay đạt 2.653,1 tấn.

thứ hai trong cả nước, tỷ trọng ngành công nghiệp có chiều hướng gia tăng (Hình
1.8).
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
tỷ đồng
2005 2006 2007 2008 2009 2010
năm

Hình 1.8. Thống kê giá trị sản xuất công nghiệp trên toàn Hà Nội từ 2005-2010
Cơ cấu công nghiệp gồm nhiều ngành, đặc biệt quan trọng là ngành cơ khí
sửa chữa, lắp ráp, chế biến, ngành chế biến lương thực thực phẩm, ngành dệt kim,
đồ da và sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng.
d) Du lịch – dịch vụ
25
Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng
quốc gia trên 900 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được sáp
nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh
thắng nổi tiếng. Ngoài ra còn có các làng nghề thủ công truyền thống và trên dưới
260 lễ hội dân gian, thu hút lượng khách du lịch tăng bình quân 15,2% hằng năm.
Theo thống kê đến năm 2006, lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt 3,89 triệu lượt,
trong đó khách nước ngoài đạt xấp xỉ 0,86 triệu lượt.
Dịch vụ được mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên, các ngành dịch
vụ tăng bình quân 10,5% năm. Một số lĩnh vực dịch vụ phát triển khá, ứng dụng
công nghệ hiện đại, ngày càng đáp ứng nhu cầu nền kinh tế thị trường và xu thế hội
nhập như: dịch vụ viễn thông, thông tin, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status