MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC HÌNH 3
MỤC LỤC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.1. Đặc điểm tự nhiên 7
1.1.1. Vị trí địa lý 7
1.1.2. Đặc điểm địa hình 7
1.1.3. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 9
1.1.4. Đặc điểm khí tượng, thủy văn 11
1.1.5. Đặc điểm kinh tế - xã hội trên khu vực 17
1.2. Mạng lưới sông ngòi và các công trình thủy lợi có liên quan đến tiêu thoát
nước trên địa bàn Hà Nội 21
1.2.1. Mạng lưới sông ngòi 21
1.2.2. Hiện trạng các công trình thủy lợi liên quan đến tiêu thoát nước trên địa
bàn thành phố Hà Nội 25
1.3. Khái quát tình hình ngập lụt trên địa bàn Hà Nội 27
1.3.1. Ngập lụt do vỡ đê 27
1.3.2. Ngập lụt do mưa lớn nội đồng 27
1.3.3. Ngập lụt do úng nội đồng kết hợp lũ lớn trên sông gây vỡ đê bối 28
CHƯƠNG 2. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP KHOANH VÙNG 29
NGUY CƠ NGẬP LỤT 29
2.1. Cơ sở lý thuyết một số pháp khoanh vùng nguy cơ ngập lụt 29
2.1.1. Một số khái niệm và định nghĩa 29
2.1.2. Một số phương pháp khoanh vùng nguy cơ ngập lụt 30
2.1.3. Lựa chọn phương pháp khoanh vùng nguy cơ ngập lụt địa bàn thành
phố Hà Nội 34
2.2. Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE FLOOD 35
2.2.1. Giới thiệu chung 35
2.2.2. Các nguyên tắc kết nối trong mô hình MIKE FLOOD 36
Hình 1.6. Tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người (GDP) của Hà Nội 18
Hình 1.7. Dân số trung bình khu vực Hà Nội từ năm 2005 đến 2009 18
Hình 1.8. Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản trên toàn Hà Nội từ 2005-2010
19
Hình 1.9. Thống kê giá trị sản xuất công nghiệp trên toàn Hà Nội từ 2005-2010
20
Hình 1.10. Bản đồ mạng lưới sông khu vực Hà Nội 24
Hình 1.12. Sơ đồ hệ thống thoát nước lưu vực sông Tô Lịch và bắc sông Nhuệ26
Hình 2.1. Sơ đồ các bước khoanh vùng nguy cơ ngập lụt bằng phương pháp sử
dụng bản đồ địa hình, địa mạo 31
Hình 2.2. Khoanh vùng nguy cơ ngập lụt sử dụng dòng chảy một chiều 32
Hình 2.3. Khoanh vùng nguy cơ ngập lụt sử dụng mô hình hồ 32
Hình 2.4. Khoanh vùng nguy cơ ngập lụt sử dụng dòng chảy hai chiều 33
Hình 2.5. Các thành phần theo phương x và y 36
Hình 2.6. Các ứng dụng trong kết nối tiêu chuẩn 37
Hình 2.7. Một ứng dụng trong kết nối bên 37
Hình 2.8. Một ví dụ trong kết nối công trình 38
Hình 2.9. a) Sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn Abbott; b) Sơ đồ sai phân 6 điểm
ẩn Abbott trong mặt phẳng x~t 40
Hình 2.10. Nhánh sông với các điểm lưới xen kẽ 40
Hình 2.11. a) Cấu trúc các điểm lưới xung quanh điểm nhập lưu; b) Cấu trúc
các điểm lưới trong mạng vòng 41
Hình 2.12. Cấu trúc của mô hình NAM 45
Hình 3.1. Sơ đồ tính toán thủy lực hệ thống sông chảy qua địa bàn Hà Nội 50
Hình 3.2. Mặt cắt ngang tại vị trí 6.062 m trên sông Nhuệ 51
Hình 3.3. Phân chia các lưu vực con trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy 52
Hình 3.4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM tại Ba Thá từ 07/IX/1976 –
15/IX/1976 53
Hình 3.5. Kết quả kiểm định mô hình NAM tại Ba Thá 54
Hình 3.6. Kết quả hiệu chỉnh mô hình MIKE 11 tại trạm Hà Nội 56
Bảng 3.3. Hệ số nhám tại một số vị trí mặt cắt trong hệ thống sông 55
Bảng 3.4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình MIKE 11 55
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định mô hình MIKE 11 57
Bảng 3.6. Kết quả phân chia lưu vực của các kết nối bên 63
Bảng 3.7. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM cho lưu vực Lâm Sơn
64
Bảng 3.8. Kết quả tính toán diện tích ngập các vùng 66
Bảng 3.9. Tổng lượng 3 ngày max tính toán trên các trạm (mm) 69
Bảng 3.10. Kết quả tính toán diện tích ngập các vùng 70
5
MỞ ĐẦU
Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị lớn của
đất nước. Do vị trí Hà Nội nằm ở bờ Hữu Sông Hồng, có nền địa hình không
bằng phẳng, thấp, trũng nhất là khu vực phía Nam thành phố nên thường bị
ngập lụt khi mùa mưa đến.
Người Hà Nội không thể nào quên trận mưa gây ngập lịch sử từ ngày
30/X/2008 đến ngày 07/XI/2008. Tổng lượng mưa từ ngày 30/X đến ngày
02/XI tại các khu vực như sau: Láng 563.2mm, Hà Đông 812.9mm, Hà Nội
541mm, Thượng Cát 593.2mm, Sóc Sơn 412mm, Trâu Quỳ 33.4mm, Đông Anh
566mm, Thanh Trì 499.9mm, Ứng Hòa 603 mm, Thanh Oai 914 mm. Tại khu
vực nội thành, mưa lớn chia cắt nhiều khu dân cư, tính đến ngày 03/XI/2008 có
63 điểm ngập úng nặng làm giao thông hỗn loạn, nhiều xe cộ ngập nước, đa số
các công sở ngừng hoạt động, nguy cơ bệnh tật bùng phát Trong trận mưa gây
ngập lụt này, Hà Nội có khoảng 20 người bị chết, ước tính thiệt hại ban đầu ít
nhất khoảng 3.000 tỷ đồng.
Luận văn “Nghiên cu p dụng mô hình MIKE FLOOD đ khoanh vùng
nguy cơ ngập lụt địa bàn thành phố Hà Nội” được hình thành với mục đích
khoanh vùng các các khu vực có nguy cơ ngập lụt để giúp các đơn vị quản lý,
các nhà chính sách… nắm được khả năng ngập lụt có thể xảy ra tại các khu vực
từ đó có những giải pháp kịp thời nhằm giảm thiểu thiệt hại do ngập lụt gây ra
Ba Vì xuống đến Chương Mỹ. Tính phân bậc của địa hình đồi gò không rõ ràng,
gồm những bậc có độ cao 200-150m, 150-100m, 100-50m, 50-20m và nhỏ hơn
25m.
Địa hình vùng đồng bằng không phức tạp, song cũng không hoàn toàn
bằng phẳng. Các huyện phía Nam là một vùng đất trũng tiếp liền với cánh đồng
chiêm trũng Hà Nam và Nam Định (Hình 1.1).
7
Hình 1.1. Bản đồ địa hình Hà Nội
8
1.1.3. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
1) Địa chất
Các thành tạo địa chất trên địa bàn Hà Nội gồm các đá biến chất, trầm
tích, trầm tích phun trào và trầm tích bở rời có tuổi từ Protezozoi đến hiện đại.
Theo các tài liệu địa chất từ trước đến nay, lịch sử phát triển địa chất Hà
Nội được chia làm 3 giai đoạn lớn:
Trong giai đoạn Neoproterozoi – Cambri sớm, khu vực Hà Nội trải qua
chế độ địa máng, hình thành các thành tạo phun trào và lục địa nguyên –
cacbonat. Đến paleozoi giữa, chế độ địa máng này kết thúc, diễn ra các quá trình
uốn nếp, granit hóa, các trầm tích bị biến chất thành các phiến đá thạch anh,
quariz và đá hoa để hình thành vỏ lục địa cổ.
Vào Neogen, do sự tái hoạt động mạnh mẽ của các đứt gãy sâu sông Lô
toàn vùng đã hình thành cấu trúc dạng khối tảng. Dọc các đứt gãy diễn ra quá
trình tách dãn tạo địa hình lún chìm, nước biển lấn sâu vào lục địa để lắng đọng
hệ tầng Vĩnh Bảo. Đến Đệ Tứ các quá trình lún chìm và nâng cao diễn ra có tính
chu kỳ dẫn đến biển tiến vào đầu Holocen muộn cùng với quá trình lắng đọng
trầm tích với những kiểu nguồn gốc khác nhau để hình thành các hệ tầng Hà
Nội, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình.
2) Thổ nhưỡng
Trên địa bàn Hà Nội có bốn loại đất chính: đất phù sa trong đê, đất phù sa
ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi (Hình 1.2).
C.
Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè (V-X) ở Hà Nội là 27.8
0
C và ở Hà Đông
là 27.4
0
C. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông (XI-XII,I-IV) ở Hà Nội là
19.6
0
C và ở Hà Đông là 19.4
0
C.
Bảng 1.1. Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm (1961-2010)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB
Láng
16.5 17.4 20.1 24.0 27.4 28.9 29.2 28.6 27.5 25.0 21.5 18.2 23.7
Sơn Tây
16.3 17.3 20.1 23.8 27.1 28.6 28.9 28.3 27.2 24.7 21.2 17.9 23.4
Hà Đông
16.4 17.4 20.0 23.7 26.7 28.7 29.0 28.3 26.9 24.5 21.1 17.6 23.4
Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình năm tại Hà Nội là 82% và tại Hà Đông là
85%. Thời kỳ cuối mùa hè đến đầu mùa Đông (XI-XII) là thời kỳ tương đối khô,
độ ẩm trung bình tháng tại Hà Nội chỉ 78% và tại Hà Đông từ 82%. Thời kỳ từ
tháng II-III là thời kỳ ẩm ướt do có mưa phùn nên đây là các tháng có độ ẩm
trung bình cao nhất trong năm, tại Hà Nội độ ẩm đạt 86%, tại Hà Đông độ ẩm
đạt 89%. Biên độ độ ẩm trong ngày chỉ từ 20-30%, các tháng giữa mùa mưa độ
ẩm tương đối lớn, trung bình từ 82-84% tại Hà Nội và 87% tại Hà Đông.
Bảng 1.2. Độ ẩm trung bình tháng tại các trạm (1961-2010)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB
18.4 25.0 41.5 96.1 213.1 268.5 283.2 256.7 213.5 159.1 55.7 16.4 1647.3
Hà Đông
22.3 23.9 42.1 83.6 167.4 244.9 259.5 287.4 206.5 157.5 76.5 19.4 1591.0
Gia Lâm
22.4 24.9 44.7 81.3 155.0 228.2 219.1 260.9 185.8 130.7 62.6 9.7 1425.3
Sóc Sơn
15.0 17.9 40.4 61.7 143.7 205.4 268.5 274.7 161.0 110.2 48.9 8.7 1356.0
Lượng mưa năm lớn nhất quan trắc được tại Sơn Tây là 2876.4mm (năm
1980), tại Thạch Thất là 2496.6 mm (năm 1980), tại Hà Đông là 2977.9 (năm
2008), tại Gia Lâm là 2316.2mm (năm 2008), tại Sóc Sơn là 2015.2 mm (năm
2008).
Từ tháng XI đến tháng IV năm sau là mùa ít mưa (mùa khô). Những
tháng đầu mùa đông là thời kỳ ít mưa nhất, mỗi tháng trung bình chỉ có 6-8 ngày
có mưa nhỏ. Tháng I là tháng có lượng mưa nhỏ nhất chỉ khoảng 15-20mm và
5-7 ngày mưa. Nửa cuối mùa khô là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt. Tuy lượng mưa
không tăng nhiều so với đầu mùa (cũng chỉ khoảng 20-40mm/tháng) song số
ngày mưa thì nhiều hơn rõ rệt mỗi tháng có10-15 ngày có mưa.
Lượng mưa ở Hà Nội biến động khá mạnh theo mùa và từ năm này qua
năm khác. Những năm nhiều mưa nhất, lượng mưa có thể vượt quá 2500mm,
những năm ít mưa nhất không quá 1000mm. Chênh lệch lượng mưa giữa năm
cực đại và cực tiểu lên tới 1500mm và có thể cao hơn. Trong những tháng mùa
mưa, lượng mưa trung bình đạt khoảng 250-350mm/tháng, nhưng lượng mưa
tháng lớn nhất có thể vượt quá 500-800mm và lượng mưa tháng nhỏ nhất không
12
tới 40-50mm. Trong những tháng mùa khô lượng mưa thay đổi từ 3-5mm (năm
ít mưa) đến hơn 100mm (năm mưa nhiều).
Hình 1.3. Biểu đồ phân bố lượng mưa
trung bình tháng trạm Láng
Hình 1.4. Biểu đồ phân bố lượng mưa
trung bình tháng trạm Sơn Tây
sông Cà Lồ, sông Cầu (đoạn chảy qua Hà Nội). Các sông đào (nhân tạo) như
sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét.
a) Đặc điểm thuỷ văn sông Hồng tại Hà Nội
* Đặc điểm chung
Sông Hồng là con sông chính chảy qua địa bàn Hà Nội. Dòng chảy trung
bình năm tại Sơn Tây vào khoảng 3600 m
3
/s, khoảng 40% lượng nước này bắt
nguồn từ Trung Quốc. Dòng chảy trên sông Hồng chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa
cạn và mùa lũ.
Theo số liệu đo đạc tại trạm thủy văn Hà Nội thì lưu lượng trung bình
nhiều năm tại Hà Nội là 2590m
3
/s, tương ứng với tổng lượng dòng chảy năm là
83.5 tỷ m
3
. Năm có lưu lượng trung bình năm lớn nhất là 3464m
3
/s (1971). Năm
có lưu lượng trung bình năm nhỏ nhất là 1960m
3
/s (1989).
Mùa lũ trên sông Hồng tại Hà Nội thường xuất hiện từ tháng VI đến tháng
X với tổng lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 72.7% tổng lượng dòng chảy năm, ba
tháng có dòng chảy lớn nhất thường xuất hiện vào các tháng VII, VIII, IX với
tổng lượng dòng chảy 3 tháng lớn nhất chiếm 52.4% tổng lượng dòng chảy năm,
tháng có dòng chảy lớn nhất thường là tháng VIII có tổng lượng dòng chảy
chiếm 19.9% tổng lượng dòng chảy năm. Lưu lượng lớn nhất đo được tại trạm
thủy văn Hà Nội là 22.200 m
3
độ dòng chảy sông Hồng ở khu vực Hà Nội
Hệ thống liên hồ chứa phía thượng nguồn sông Hồng (phần lãnh thổ Việt
Nam) gồm các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và hồ Thác Bà, các hồ này
có nhiệm vụ phát điện và phòng chống lũ cho hạ du (Hình 1.5). Dung tích hiệu
dụng và dung tích phòng lũ cho các hồ trích trong (bảng 1.6) .
Bảng 1.6. Dung tích các hồ chứa phía thượng nguồn sông Hồng
(phần lãnh thổ Việt Nam)
Hồ Hòa Bình Sơn La Tuyên Quang Thác Bà
Năm đưa vào vận hành 1994 2011 2006 1972
Dung tích hiệu dụng (tỷ m
3
) 9.45 6.5 2.2 3
Dung tích phòng lũ (tỷ m
3
) 3 4 1- 1.5 0.45
Hồ Hoà Bình trên sông Đà có dung tích khoảng 9,45 tỷ m
3
, có nhiệm vụ
chính là chống lũ cho hạ lưu sông Hồng và phát điện. Hồ được bắt đầu xây dựng
từ đầu những năm 70 và đã hoàn thành vào năm 1989. Kể từ 1989 hồ đã đi vào
vận hành điều tiết. Trong những năm đầu (1986-1994), hồ còn đang trong giai
đoạn vừa xây đập, vừa vận hành, điều chỉnh nên sự điều tiết của hồ tuy đã có
ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy ở hạ lưu nhưng còn chưa đáng kể, ổn định. Từ
năm 1995 trở đi, hồ Hoà Bình đã vận hành ổn định và đã ảnh hưởng rõ rệt đến
chế độ dòng chảy ở hạ lưu, trong đó có sông Hồng thuộc khu vực Hà Nội. Hồ
Hoà Bình là hồ điều tiết năm, nên sự điều tiết của hồ có ảnh hưởng đáng kể đến
sự phân phối dòng chảy theo các tháng trong năm. Về mùa lũ, hồ phải giữ lại
lượng nước lớn để giảm lũ cho hạ lưu và để điều tiết bổ sung cho mùa cạn phục
vụ cho phát điện, tưới cho nông nghiệp và tăng cường năng lực cho giao thông
đường sông. Vì vậy, từ 1995-2002 (thời kỳ hồ Hoà Bình đã vận hành ổn định)
3
/s và 350m
3
/s) và mực nước thấp
nhất tăng cao hơn 43cm (200cm và 157cm).
Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây do tình hình thời tiết khô hạn nặng,
nước trong hồ bị hạ thấp, nhưng lại phải cung cấp cho tưới và phát điện, vì vậy,
16
mực nước của sông Hồng đã xuống đến mức rất thấp, gây khó khăn cho việc sử
dụng nước cho các ngành, nhất là sản xuất nông nghiệp.
b) Đặc điểm thuỷ văn của các sông nhỏ, kênh, mương, hồ ao tiêu nước trong
nội thành Hà Nội
Hệ thống sông tiêu nước chủ yếu trong khu vực nội thành của Hà Nội bao
gồm sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét. Các sông này được nối
với nhau và đổ vào sông Nhuệ tại đập Thanh Liệt. Đến nay chúng là những con
sông tiêu nước mưa, nước thải của thành phố hơn là các con sông thuần tuý.
Tổng chiều dài của bốn con sông này khoảng 37 km. Tại khu vực thượng lưu,
các con sông này có độ cao khoảng 4-5 m. Độ dốc lòng dẫn nhỏ, lòng sông bị
bồi lấp, có nhiều bùn, rác rưởi nên tốc độ dòng chảy thường nhỏ. Tổng lưu
lượng của các sông này khoảng 70 m
3
/s.
Ngoài ra, có khoảng 25 kênh mương tiêu thoát nước với độ rộng từ
3 – 10 m, độ sâu từ 1,5 – 2,5 m, cốt đáy cao từ 3,5 – 4,5 m, trực tiếp thu nhận
các nguồn nước mưa, nước thải từ các cống rãnh của các khu dân cư, nhà máy…
Khu vực trung tâm lãnh thổ Hà Nội còn có trên 100 hồ, ao tự nhiên và
nhân tạo. Một số hồ ao nhân tạo nhận nước từ mạng lưới sông, kênh, mương và
hình thành nên một phần của hệ thống thu hồi nước thải và điều hoà thoát nước.
1.1.5. Đặc điểm kinh tế - xã hội trên khu vực
Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế
).
Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi
đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới
1.000 người/km².
Hình 1.7. Dân số trung bình khu vực Hà Nội từ năm 2005 đến 2009
18
2) Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng theo xu thế hiện đại hóa, cơ cấu
kinh tế dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp đã hình thành rõ nét. Nền công
nghiệp và dịch vụ tăng trưởng nhanh với chất lượng và trình độ cáng ngành càng
được nâng cao. Quan hệ giữa các ngành kinh tế bước đầu có sự thay đổi về chất.
a) Nông nghiệp – Lâm Nghiệp – Thủy sản
Nông nghiệp
Trong khu vực nghiên cứu, kinh tế nông nghiệp được coi trọng nhất ở
huyện Từ Liêm và huyện Thanh Trì. Tổng diện tích đất nông nghiệp của khu
vực chiếm khoảng 35% diện tích đất khu vực nghiên cứu. Cư dân sản xuất nông
nghiệp khoảng 2,5 triệu người.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn thành phố là 317.576 ha, vụ
đông xuân trồng được 193.752 ha. Vụ mùa toàn thành phố trồng được 123.823
ha.
Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 1/10/2010, đàn trâu toàn Thành
phố hiện có 26.900 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.451 tấn. Tổng đàn
lợn hiện có 1.625.165 con, số lợn xuất chuồng trong năm là 4.120.207 con, sản
lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 308.217 tấn. [12]
Lâm nghiệp
Năm 2010 diện tích rừng trồng mới ước đạt 296 ha, tăng 6,9% cùng kỳ.
Diện tích rừng được chăm sóc 627,2 ha, diện tích rừng được giao khoán, bảo vệ
5.545,6 ha, số cây trồng phân tán ước đạt 753 ngàn cây. Sản lượng gỗ khai thác
ước đạt 10 037 m
3
20
Cơ cấu công nghiệp gồm nhiều ngành, đặc biệt quan trọng là ngành cơ khí
sửa chữa, lắp ráp, chế biến, ngành chế biến lương thực thực phẩm, ngành dệt
kim, đồ da và sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng.
d) Du lịch – dịch vụ
Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng
quốc gia trên 900 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được
sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc,
danh thắng nổi tiếng. Ngoài ra còn có các làng nghề thủ công truyền thống và
trên dưới 260 lễ hội dân gian, thu hút lượng khách du lịch tăng bình quân 15,2%
hằng năm. Theo thống kê đến năm 2006, lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt
3,89 triệu lượt, trong đó khách nước ngoài đạt xấp xỉ 0,86 triệu lượt.
Dịch vụ được mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên, các ngành
dịch vụ tăng bình quân 10,5% năm. Một số lĩnh vực dịch vụ phát triển khá, ứng
dụng công nghệ hiện đại, ngày càng đáp ứng nhu cầu nền kinh tế thị trường và
xu thế hội nhập. Phổ biến một số ngành như: dịch vụ viễn thông, thông tin, ngân
hàng, bảo hiểm, tư vấn
1.2. Mạng lưới sông ngòi và các công trình thủy lợi có liên quan đến tiêu
thoát nước trên địa bàn Hà Nội
1.2.1. Mạng lưới sông ngòi
Các sông chảy qua địa bàn Hà Nội gồm
Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam- Trung Quốc chảy qua miền Bắc nước
ta và đổ ra biển Bắc Bộ, có diện tích lưu vực là 169000km
2
. Trong quá trình
chảy ra biển, sông Hồng có hai đoạn chảy qua thành phố tạo nên những đặc
trưng sinh thái tự nhiên khá đặc biệt đối với một trung tâm kinh tế, chính trị.
Cùng với những đặc trưng này sông Hồng đã chia thành phố Hà Nội mới thành
hai vùng có nét đặc trưng riêng về điều kiện thiên nhiên với phía Tây Nam là
các hệ thống sông, mạng lưới thoát nước phức tạp, phía Đông Bắc thì ngược lại.
Châu đổ ra qua hai cống Lương Cổ và Phủ Lý. Sau khi qua Phủ lý, sông Đáy
nhận thêm nguồn nước từ sông Bôi, sông Hoàng Long ở hữu ngạn, và nguồn
nước lớn từ sông Hồng chuyển sang qua sông Đào Nam Định (đổ vào sông Đáy
tại Độc Bộ) và sông Ninh Cơ (qua kênh Quần Liêu).
Sông Tích bắt nguồn từ núi Tản Viên (huyện Ba Vì) chảy theo hướng
Đông Bắc - Tây Nam, đổ vào sông Đáy ở Ba Thá. Sông Tích dài 91km, có diện
tích lưu vực là 1330km
2
, chiều dài lưu vực 75.5km, độ rộng bình quân lưu vực
17.6 km, độ cao bình quân lưu vực 92 km, độ dốc bình quân lưu vực 5.8%, mật
độ lưới sông 0.66km/km
2
, hệ số phát triển đường phân nước1.77, hệ số uốn khúc
2.0. Lưu vực sông Tích có dạng hình lông chim không đối xứng, sông chính
lệch về phía tả ngạn, các nhánh phần lớn nhập lưu phía hữu ngạn. Toàn bộ sông
Tích có 25 nhánh cấp I, 4 nhánh cấp II, và rất nhiều nhánh nhỏ khác. Lưu vực
sông Tích chiếm phần lớn diện tích tỉnh Hà Tây, là khu vực có tiềm năng lớn về
kinh tế, văn hoá, du lịch và xã hội của tỉnh. Với mật độ sông suối khá lớn, lượng
sinh thuỷ dồi dào, lưu vực sông Tích có tiềm năng về nguồn nước phục vụ cho
sản xuất và đời sống.
Sông Nhuệ là sông tự nhiên ở phía hữu ngạn sông Hồng, tiếp giáp với:
Phía Bắc và phía Đông là đê sông Hồng; Phía Tây là sông Đáy; Phía Nam là
sông Châu Giang. Tổng diện tích lưu vực 1075 km
2
trong đó thuộc Hà Nội 878
km
2
(82%), Hà Nam 197 km
2
(18%). Chiều dài sông từ Liên Mạc (phân lưu từ
tiêu: 68,2 km
2
(6820 ha) không bao gồm lưu vực Hồ Tây do không tham gia vào
quá trình thoát nước chung trong giai đoạn vận hành của trạm bơm Yên Sở. Lưu
vực tính toán được chia thành 52 lưu vực bộ phận với 6 hệ thống lưu vực sông,
gồm:
- Lưu vực sông Tô Lịch (dòng chính) 21 lưu vực con
- Lưu vực sông Lừ 08 lưu vực con
- Lưu vực sông Sét 05 lưu vực con
- Lưu vực sông Kim Ngưu 13 lưu vực con
- Lưu vực Hoàng Liệt 03 lưu vực con
- Lưu vực Yên Sở 02 lưu vực con
Ao hồ ở Hà Nội có diện tích khá lớn. Toàn thành phố có tới 60 hồ và ao
(tính kể cả những ao có diện tích mặt nước từ 1ha trở lên) trong đó lớn nhất là
Hồ Tây 528 ha (năm 1997), tiếp đến là các ao nuôi cá tại Yên Sở (Bảng 1.7).
23
Hình 1.10. Bản đồ mạng lưới sông khu vực Hà Nội
24
Bảng 1.7. Các hồ trong nội thành Hà Nội
TT Tên hồ
Diện tích
hồ (ha)
TT Tên hồ
Diện tích
hồ (ha)
1 Hồ Hoàn Kiếm 11,90 17 Hồ Thủ Lệ 12,00
2 Hồ Trúc Bạch 26,00 18 Hồ Giảng Võ 6,00
3 Hồ Bảy Gian 1,00 19 Hồ Ngọc Khánh 3,50
4 Hồ Đầm 0,70 20 Hồ Văn Chương 2,80
5 Hồ Thành Công 6,80 21 Hồ Giám 1,10
năng thoát nước hiện tại của sông Tô Lịch chỉ vào khoảng 30 -35 m
3
/s trong
khi công suất yêu cầu để thoát cho trận mưa có chu kỳ 10 năm là 170 m
3
/s.
25