ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ THU HÀ
KHUYẾN KHÍCH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
BẰNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Hà Nội – 2011 - 2 -
CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG - 47 -
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG - 47 -
2.1. Hiện trạng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh
nghiệp nhỏ và vừa hoạt động xây dựng - 48 -
2.1.1. Tổng quan về doanh nghiệp - 48 -
2.1.2. Trình độ công nghệ xây dựng - 53 -
2.1.3. Năng lực công nghệ xây dựng - 55 -
2.1.4. Hoạt động khoa học và công nghệ ở doanh nghiệp xây dựng . - 57 -
2.1.5. Hoạt động đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt
động xây dựng - 58 -
2.1.6. Tài chính ngành xây dựng - 60 -
2.2. Một số công cụ tài chính tác động đến quá trình triển khai đổi mới
công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động xây dựng. - 62 -
2.2.1. Chính sách vốn - 62 -
2.2.2. Chính sách tín dụng, ngân hàng - 66 -
2.2.3. Chính sách thuế - 71 -
2.2.4. Thị trường chứng khoán - 74 -
2.2.5. Cho thuê tài chính - 77 -
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ - 81 -
TẠI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẰNG
CÔNG CỤ TÀI CHÍNH - 81 -
3.1. Định hƣớng sử dụng công cụ tài chính để khuyến khích doanh
nghiệp nhỏ và vừa hoạt động xây dựng đổi mới công nghệ - 81 -
3.1.1. Thị trường tiền tệ - 81 -
3.1.2. Thị trường công nghệ - 82 -
3.1.3. Liên kết kinh tế - 83 -
3.2. Một số giải pháp khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động
- 4 -
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCTCPS
Công cụ tài chính phái sinh
CTTC
Cho thuê tài chính
ĐMCN
Đổi mới công nghệ
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
GTGT
Giá trị gia tăng
KH&CN
Khoa học và công nghệ
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TTCK
Thị trƣờng chứng khoán
VLXD
Vật liệu xây dựng
Tăng trƣởng khu vực công nghiệp - xây dựng và đóng
góp vào tăng trƣởng giá trị tăng thêm theo ngành,
2003 – 2007
- 53 -
Bảng 2.4 :
Quy mô trung bình của các doanh nghiệp trong
các khu vực kinh tế
- 63 -
- 7 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
nhất là trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, nhiều lợi nhuận nên hầu nhƣ
các xây dựng không mặn mà bỏ tiền đầu tƣ vào công nghệ mới chứa nhiều
ẩn số, rủi ro.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đang tác động mạnh đến
ngành xây dựng. Chính khủng hoảng đã sắp xếp lại "bản đồ" doanh nghiệp
xây dựng và trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, năng lực cạnh tranh và
"tƣ cách của mỗi doanh nghiệp bộc lộ rõ". Bởi vậy, lợi thế thể hiện đang có
phần nghiêng về những doanh nghiệp đi trƣớc trong việc ĐMCN, thể hiện
đƣợc tính thích ứng cao. Sự thích ứng này có đƣợc nhờ tính chuyên nghiệp
của nhà thầu, trong đó yếu tố mang tính quyết định là công nghệ.
Công nghệ và ĐMCN đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng tác
động đến năng suất, chất lƣợng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, đặc biệt tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của DNNVV trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Đây là con đƣờng tất yếu và cấp
bách của các doanh nghiệp hiện nay.
Để ĐMCN, ngoài năng lực tự thân của doanh nghiệp thì Nhà nƣớc với
vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô là chủ thể vô cùng quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển và ĐMCN xây dựng bằng các chính sách vĩ mô. Đặc biệt,
quan trọng là chính sách tài chính tạo ra đòn bẩy kích thích quá trình đầu tƣ
đổi mới và phát triển công nghệ xây dựng theo kịp với tiến trình phát triển
của nền kinh tế và quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hiện nay và trong
tƣơng lai. Đây là lý do tôi chọn đề tài : “Khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và
vừa họat động xây dựng ĐMCN bằng công cụ tài chính”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng công cụ tài chính đề khuyến khích đầu tƣ phát triển
kinh tế xã hội đã đƣợc nhiều tác giả và các tổ chức khoa học quan tâm. Có
những nghiên cứu ĐMCN đòi hỏi ngƣời nghiên cứu phải hết sức nỗ lực mới
đạt đƣợc. Những nghiên cứu này đã góp phần hình thành hoặc hoàn thiện các
biện pháp áp dụng trong thực tiễn bấy lâu. Song lĩnh vực nghiên cứu thì vô
bằng công cụ tài chính. - 10 -
* Nhiệm vụ:
- Định hình hiện trạng các DNNVV hoạt động xây dựng trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay.
- Điều tra khảo sát đánh giá hiện trạng công nghệ và tình hình ĐMCN
của DNNVV hoạt động xây dựng.
- Tổng quan chính sách liên quan đến hoạt động công nghệ tại các
doanh nghiệp hoạt động xây dựng.
- Xem xét cách áp dụng chính sách tài chính tại doanh nghiệp xây dựng.
- Đề xuất giải pháp để ĐMCN trong các DNNVV hoạt động xây dựng
bằng công cụ tài chính.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này đƣợc khảo sát tại một số DNNVV hoạt động xây dựng để
nghiên cứu đánh giá hiện trạng công nghệ và đổi mới của các doanh nghiệp.
- Xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ DNNVV họat động xây
dựng ĐMCN bằng công cụ tài chính.
- Về thời gian: Khảo sát các DNNVV hoạt động xây dựng từ năm 2003
đến nay (Khi Luật xây dựng ra đời).
5. Vấn đề nghiên cứu
- Hiện trạng ĐMCN trong các DNNVV hoạt động xây dựng?
- Sử dụng công cụ tài chính nhƣ thế nào để khuyến khích các DNNVV
hoạt động xây dựng ĐMCN?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- ĐMCN hết sức chậm chạp tại các DNNVV hoạt động xây dựng do
gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các khó khăn liên quan đến chính sách tài
chính.
- Công cụ tài chính là một động lực kích thích ĐMCN trong các
- DNNVV là doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí về vốn hoặc lao động theo
quy định tại khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009
của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV.
- Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu
tƣ xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi - 12 -
công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự
án đầu tƣ xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng
và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. [22; điều3]
- Đổi mới (Innovation) là quá trình sáng tạo, thông qua đó tri thức tạo ra
GTGT. Nói cách khác, GTGT đƣợc tạo ra thông qua quá trình biến đổi tri
thức thành sản phẩm mới. Quá trình đổi mới là quá trình sử dụng tri thức
mới, biến tri thức thành giá không biến tri thức thành công nghệ mới, sản
phẩm mới, quá trình mới thì không có đổi mới, không có sự phát triển
(OECD-Organization for Economic Co-operation and Development - Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế 1997)
- Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. [21;
điều 3]
- ĐMCN chính là quá trình thƣơng mại hóa thành công một sáng chế.
Sáng chế hay sáng tạo chính là việc tạo ra ý tƣởng mới, còn đổi mới chính là
dùng ý tƣởng này để tạo ra lợi ích.
* Luận cứ thực tế
Đề tài là kết quả tổng hợp của các nghiên cứu trong phạm vi đã nêu
trên. Từ mục tiêu của đề tài, tác giải muốn góp thêm tiếng nói chung vào tập
hợp lý luận chung về ĐMCN tại DNNVV hoạt động xây dựng trong bối
cảnh nền kinh tế hội nhập. Trên cơ sở kết quả phân tích những mặt tích cực
và những tồn tại cần đƣợc hoàn thiện các chính sách tài chính đã có và hiện
- 14 -
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.
1.1. Công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1.1. Công nghệ
1.1.1.1. Khái niệm công nghệ
“Công nghệ là công cụ”. Với quan niệm này, công nghệ dựa trên nền
tảng là các máy móc thiết bị. Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay,
mặc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động qua lại giữa máy móc -
con ngƣời. Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã
mở ra phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót. Tác
giả Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and
Planning: A Reference Manual” rằng: “Nhìn công nghệ ở khía cạnh máy
móc và những vật chất rõ ràng sai lầm giống nhƣ chỉ nhìn thấy cái vỏ của
con ốc sên, hay cái mạng của con nhện vậy.”
Theo tác giả K.Ramanathan, tồn tại một số quan niệm phổ biến về
công nghệ nhƣ sau: “CN là máy biến đổi”. Với quan niệm này, công nghệ
đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó thể hiện xu hƣớng cho rằng
KH&CN là một và phải đƣợc áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng
lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép ) và mọi loại hình
thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng
khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để
tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc
không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản
phẩm. [24; điều 3].
Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.[21;
điều 2]
Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này.
1.1.1.2. Đặc điểm của công nghệ:
Bất kỳ một công nghệ mới nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản:
1. Trung tâm BR&T, (2006), Giới thiệu hệ thống đánh giá trình độ công nghệ,
Cập nhập ngày 20/12/2006. - 16 -
- Công nghệ trƣớc hết là khoa học “Làm: tức là hệ thống tri thức về các
giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu” – Vũ Cao Đàm.
- Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm.
- Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm.
Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời - Tăng trƣởng - Thịnh
vƣợng - Bão hoà - Tiêu vong.
- Sản phẩm của công nghệ đƣợc xác định trƣớc theo thiết kế.
- Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình
đã đƣợc nhà chế tạo chuẩn hoá và đƣợc ngƣời sản xuất làm chủ.
1.1.2. Đổi mới công nghệ
Hiện nay, ở Việt nam trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật
thành công nghệ mới tiên tiến hơn đồng bộ hơn. Tuy nhiên, những gì doanh
nghiệp có đƣợc do những nỗ lực về công nghệ không chỉ đơn giản là mua
công nghệ, nó đòi hỏi kinh nghiệm về sản xuất và những đầu tƣ phù hợp để
tiếp nhận công nghệ. Bởi vậy, hoạt động ĐMCN đòi hỏi các chƣơng trình hỗ
trợ để nó trở thành công cụ hữu hiệu cải thiện khả năng cạnh tranh của DN.
1.1.3. Những đóng góp của công nghệ trong ngành xây dựng
Thập kỷ 90 đã khép lại thế kỷ XX mở ra thế kỷ XI, với rất nhiều phát
minh tiến bộ của lịch sử loại ngƣời, đặc biệt trong KH&CN. Riêng với ngành
xây dựng Việt Nam, đây cũng là thập kỷ của sự đổi mới và phát tiển mạnh
mẽ của sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo đà cho sự phát triển
nền kinh tế đất nƣớc, trong thập kỷ mới, thiên niên kỷ mới.
Dù thế, không thể phủ nhận, đặc thù kinh tế Việt Nam là nền nông
nghiệp lúa nƣớc kéo dài suốt mấy ngàn năm đã ảnh hƣởng không nhỏ tới đời
sống ngƣời dân và bộ mặt đô thị đất nƣớc. Bởi vậy 50 năm trƣớc, khi nói về
đô thị Việt Nam, cũng nhƣ KH&CN trong xây dựng chỉ là nhắc đến những
công trình xây dựng giản đơn, kỹ thuật xây dựng thô sơ. Nhà ở là các công
trình 1-3 tầng tƣờng gạch, mái ngói. Nhà máy chủ yếu là các công trình xây
gạch hoặc bê tông cốt thép bƣớc cột nhỏ do nƣớc ngoài thiết kế. Bức tranh
xây dựng ở nông thôn còn khiêm tốn hơn, nhà cửa chủ yếu là tranh tre, nứa
lá. - 18 -
Tới những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nhất là thời kỳ đổi mới, gần 20
năm qua, cùng với sự tăng trƣởng của nền kinh tế đất nƣớc, ngành xây dựng
đã có những bƣớc tiến rất đáng tự hào, trong đó phải kể đến sự tiến bộ vƣợt
bậc của KH&CN xây dựng và việc áp dụng những thành tựu này vào mọi
hoạt động của Ngành.
Nếu coi lịch sử phát triển 50 năm ngành xây dựng là một cuộc hành
trình, thì chuyển biến rõ nhất là những đô thị đơn điệu với các công trình nhà
trình công cộng khẩu độ lớn cũng đƣợc cập nhật, ứng dụng. Các công nghệ
xây dựng công trình có chiều cao lớn, quy mô rộng, các công nghệ đo đạc
hiện đại để khống chế độ nghiêng hay các sai lệch cũng đƣợc phát triển, bảo
đảm công trình xây dựng đạt chất lƣợng và độ chính xác cao.
Bộ mặt ven đô cũng đổi thay đáng ghi nhận. Nhiều khu công nghiệp với
các nhà máy hiện đại liên tục ra đời. Và một trong các lĩnh vực quan trọng
của Ngành là phát triển công nghiệp VLXD cũng đã có bƣớc tiến thần tốc.
Từ chỗ, 50 năm trƣớc chỉ có 1 nhà máy xi măng, tới nay chúng ta đã có vài
chục nhà máy, trong đó có nhiều nhà máy đƣợc xây dựng với công nghệ tiên
tiến bậc nhất thế giới đều do chúng ta thiết kế và xây dựng gần nhƣ toàn bộ,
về máy móc chúng ta cũng đã chế tạo đƣợc 70 - 75% thiết bị. Từ chỗ trƣớc
kia chỉ có vật liệu xây là gạch đỏ, ngói lợp, còn lại hầu hết vật liệu phải nhập
khẩu, tới nay chúng ta đã có hàng chục nhà máy gạch ốp lát, gốm sứ, thiết bị
vệ sinh, vật liệu lợp, vật liệu hoàn thiện, kính xây dựng hiện đại, đa dạng về
chủng loại sản phẩm ra đời.
An toàn môi trƣờng, bảo vệ sinh mạng, sức khoẻ của ngƣời dân cũng
luôn đƣợc quan tâm đúng mức. KH&CN xây dựng đã đƣa ra các giải pháp
giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng sống trong lĩnh vực sản xuất VLXD, xử lý
rác thải, đề xuất các mức khống chế về phóng xạ, chất độc hại cho phép
trong VLXD… Song song, nhu cầu chống bão lũ cho nhà ở của ngƣời dân
nghèo cũng đƣợc quan tâm đặc biệt. Có thể khẳng định, KH&CN xây dựng
với sự hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nƣớc không ngừng đổi mới nhằm đáp ứng kịp
nhu cầu của thị trƣờng.
Chính sự thay đổi về chất trong KH&CN đã mang lại sự thay đổi đáng - 20 -
kể chất lƣợng sống của ngƣời dân trong mọi vùng miền của đất nƣớc và làm
khởi sắc hơn những gƣơng mặt đô thị, nông thôn, miền núi trên cả nƣớc.
quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt
tới mục tiêu nhất định.
Tài chính doanh nghiệp thể hiện những điểm khác biệt so với các khâu
tài chính khác, thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Gắn liền với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Trong quá trình
hoạt động, sự vận động của quỹ tiền tệ đặc biệt - vốn kinh doanh - luôn gắn
liền với các yếu tố vật tƣ và lao động .
- Mọi sự vận động của tài chính trong doanh nghiệp đều nhằm đạt tới
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có
vai trò chủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh.
- Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Vai trò tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trƣớc
hết là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính,
cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quá triệt trong
mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp.
1.2.2. Phân loại công cụ tài chính
1.2.2.1. Chính sách vốn
Vốn là một khái niệm hết sức mơ hồ mà định nghĩa cụ thể của nó phụ
thuộc vào văn cảnh sử dụng. Trong doanh nghiệp, Vốn là lƣợng giá trị doanh
nghiệp phải ứng ra để luân chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm đặt đƣợc hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Bởi vậy ta có thể nói vốn là
tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. [20;.56]
Trong phạm vi của bài này, tác giả chỉ đi sâu trình bày về vốn quỹ. Khái - 23 -
- Hỗ trợ từ ngân sách nhà nƣớc dành cho sự nghiệp phát triển KH&CN;
- Các nguồn khác.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp: là tổ
chức do doanh nghiệp thành lập để đầu tƣ cho hoạt động KH&CN nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu, ứng dụng,
ĐMCN, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất của doanh nghiệp [2; điều 2]
Quỹ là một bộ phận, không có tƣ cách pháp nhân và trực thuộc doanh
nghiệp, do ngƣời có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp chịu trách nhiệm
điều hành.
* Nguồn vốn của Quỹ đƣợc hình thành từ:
- Lợi nhuận trƣớc thuế của doanh nghiệp : Doanh nghiệp đƣợc thành
lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam đƣợc trích lập tối đa
10% thu nhập tính thuế hàng năm trƣớc khi tính thuế TNDN để lập Quỹ phát
triển KH&CN của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự xác định mức trích lập
Quỹ phát triển KH&CN theo quy định trƣớc khi tính thuế TNDN. [3; C;
VIII]
- Một phần điều chuyển từ Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty,
công ty mẹ (đối với các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên) hoặc
điều chuyển từ Quỹ phát triển KH&CN của các công ty con, doanh nghiệp
thành viên về Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty, công ty mẹ (đối với
tổng công ty, công ty mẹ). Việc điều chuyển và tỷ lệ điều chuyển nguồn giữa
các Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty, công ty mẹ với các Quỹ phát
triển KH&CN của các công ty con, doanh nghiệp thành viên và ngƣợc lại do
Chủ tịch hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc Tổng giám
đốc, Giám đốc quyết định trên cơ sở tỷ lệ trích Quỹ theo quy định tại điều lệ
tổ chức và hoạt động của Quỹ, nhu cầu đầu tƣ cho hoạt động KH&CN tại
các doanh nghiệp thành viên và nhu cầu, kế hoạch phát triển KH&CN của
nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do các Bộ, ngành, địa phƣơng, hiệp hội
doanh nghiệp triển khai thực hiện sau khi đƣợc cấp thẩm quyền phê duyệt.
- Ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ƣu đãi các doanh nghiệp nhỏ
và vừa có dự án đầu tƣ khả thi thuộc lĩnh vực ƣu tiên, khuyến khích của Nhà - 25 -
nƣớc và phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ. [12; điều 7]
1.2.2.2. Chính sách tín dụng, ngân hàng
Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính thống nhất. Tín
dụng đƣợc xem là một khâu tài chính độc lập muốn đề cập ở đây là hoạt
động của các tổ chức tín dụng có tính chuyên nghiệp. Tính chất đặc biệt của
sự vận động của các nguồn tài chính trong quan hệ tín dụng là có thời hạn.
Tín dụng chính là tụ điểm của các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi. Ở nƣớc
ta hiện nay các tổ chức tín dụng bao gồm: Các ngân hàng thƣơng mại, các tổ
chức tín dụng phi ngân hàng (nhƣ công ty tài chính, công ty CTTC ), các tổ
chức tín dụng hợp tác (quỹ tín dụng nhân dân)
Tín dụng ngân hàng là các quan hệ vay mƣợn vốn tiền tệ phát sinh giữa
các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc
của tín dụng.
Trong phạm vi của bài này, tác giả chỉ xin trao đổi về phƣơng pháp
nhận biết và cách thức tiếp cận đối với một chính sách tín dụng, ngân hàng
mới bắt đầu xuất hiện trong hoạt động kinh tế tại Việt Nam đó là công cụ tài
chính phái sinh (CCTCPS).
CCTCPS là một loại công cụ tài chính hoặc một hợp đồng đƣợc sử dụng
với mục đích ngăn ngừa rủi ro hoặc đƣợc nắm giữ vì mục đích thƣơng mại.
CCTCPS có các đặc điểm: Giá trị của CCTCPS có thể bị thay đổi theo sự
biến động của lãi suất trên thị trƣờng, sự biến động của giá trị công cụ tài
chính gốc (hợp đồng), giá cả hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá, tỷ suất
hoặc chỉ số tín dụng hoặc các biến động khác của hợp đồng gốc; doanh