Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT số 1 bắc Hà - Pdf 25

1. LÝ do chọn đề tài:
Mở đầu
Luật Giáo dục, điều 2,4.2 đã ghi rõ: Giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm

của từng lớp học, môn học; bồi dưàng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng

vận dụng kiễn thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng

thú học tập cho học sinh và mục tiêu giáo dục là Đào tạo con
người Việt

Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức sức khoẻ, thẩm
mĩ và nghề

nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành

và bồi dưàng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp
ứng yêu cầu xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc .
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2010 cũng nhấn
mạnh: Bồi dưàng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự
tôn dân tộc, lí trưởng xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần
hiếu học, chí tiến thủ lập nghịêp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với
cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ .
Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII), Nguyên


xã hội .
Đề tỡi: Biện pháp quản lý HĐ GDNGLL ở tr−ờng THPT số 1
Ngô Thị Nghi - Hiệu trưởng THPT số 1
1
Đó là những giá trị đạo đức cơ bản và năng lực nghề nghiệp cần có ở con
người lao động của thời kì Công nghiệp hoá (CNH), Hiện đại hoá (HĐH).
Những giá trị đạo đức và năng lực nghề nghiệp của người lao động được hình
thành không chỉ bằng giờ học trên lớp mà còn được rèn luyện, củng cố và phát
triển thông qua các họat động giáo dục, trong đó hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp (HĐ GDNGLL) có vai trò vô cùng quan trọng.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐ NGLL) là một hoạt động giáo dục cơ
bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp
phần thực thi quá trình đào tạo nhân cách học sinh, đáp ứng nhu cầu đa dạng
của đời sống xã hội.
HĐ GDNGLL với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú sẽ là
phương

thức để thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng Học đi đôi với hành,
giáo dục

kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”, góp
phần hướng

nghiệp và phân luồng học sinh ở bậc trung học phổ thông.
Bảo Yờn là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Lào Cai. Phớa
Đông

huyện Bảo Yờn giỏp huyện Quang Bành tỉnh Hà Giang, phớa Tõy
giỏp huyện

74,2% dõn số toàn huyện. Nhõn dõn cỏc dõn tộc trong huyện chủ yếu
sống ở
vựng nụng thụn, sản xuất nụng, lõm nghiệp là chớnh. Kinh tế - Văn hoỏ - Xó
hội

ở cỏc xó vựng đồng bào dõn tộc cũn chậm phỏt triển, tỷ lệ hộ dõn tộc
thiểu số

nghốo cao, chiếm 39% so với hộ dõn tộc thiểu số toàn huyện. Đời
sống của

nhõn dõn toàn huyện Bảo Yờn núi chung cũn thấp.
Do nhiều nguyờn nhõn khỏc nhau, một số nhà trường hiện nay chỳ trọng
đến giỏo dục văn hoỏ, đạo đức thuần tuý, xem nhẹ cụng tỏc giỏo dục toàn diện,
rốn kỹ năng sống, trau rồi những tành cảm, phẩm chất đạo đức thẩm mĩ, bồi
dưàng tõm hồn, nhõn cỏch, lý tưởng, ước mơ Chớnh và chưa coi trọng
đúng

mức “dạy người” nờn một bộ phận học sinh, thanh niờn thờ ơ với thời
cuộc,

chạy theo bằng cấp, giảm sỳt về đạo đức, đua đũi, bị lụi cuốn vào lối
sống thực

dụng và cỏc tệ nạn xó hội. Phần lớn học sinh ở cỏc trường trung học
phổ thụng

đặc biệt là học sinh người dõn tộc thiểu số trờn địa bàn huyện Bảo
Yờn ớt tham


Quỏ trành quản lý hoạt động giỏo dục ngoài giờ lờn lớp của trường
THPT

số 1 huyện Bảo Yờn.
4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIấN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
4.1. Giới hạn đối tượng nghiờn cứu
Biện phỏp quản lý hoạt động giỏo dục ngoài giờ lờn lớp của trường
THPT

số 1 huyện Bảo Yờn.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiờn cứu
Nghiờn cứu thực trạng HĐGDNGLL ở trường THPT số 1 Bảo Yờn

4.3.Khỏch thể khảo sỏt
Khảo sỏt, lấy số liệu từ cỏn bộ quản lý, giỏo viờn, cha mẹ học sinh và học
sinh ở cỏc trường THPT số 1 huyện Bảo Yờn.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề tài nghiờn cứu đề xuất được cỏc biện phỏp quản lý hoạt động
ngoài giờ lờn lớp cú tớnh khả thi thà hiệu quả hoạt động giỏo dục ngoài giờ
lờn
lp trng THPT s 1 huyn Bo Yn s c nừng cao, ỏp ng c yu
cu gio dc ton din, mc tiu gio dc.
M u
Chng 1
Cơ sở lí luận v quản lý
hot động giáo dục ngoi gi lờn lớp

ở các trng
trung hc ph thông
1.1. Sơ lợc lịch sử vn nghiờn cu

Nằm trong đặc điểm chung của khoa học giáo dục thế giới, nghiên cứu về
hoạt động GDNGLL ở Việt Nam cũng đã được đề cập tới song chưa rõ ràng.
Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được thể hiện qua một số văn kiện
chính trị của Đảng, các văn bản pháp qui và các bài viết của các nhà lãnh đạo
đất nước.
Trong Thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường tháng 9 năm 1945
của Hồ Chủ Tịch, có đoạn: “…Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở
trường,

tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời
sống chiến sĩ

và để giúp đà một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất
nước . Trong

“Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc ,
Người lại nhắc

tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm: Trong lúc học,
cũng cần làm

cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ë
trong nhà, trong

trường, trong xã hội chúng đều vui đều học .
Nghị quyết 14/TW ngày 11 tháng 01 năm 1979 của Bộ chính trị về cải
cách giáo dục đã khẳng định: Nội dung giáo dục ở các trường phổ thông trung
học mang tính chất toàn diện và kỹ thuật tổng hợp nhưng có chú ý hơn đến việc
phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân. ë trường phổ thông trung học, cần
coi trọng giáo dục thẩm mỹ (âm nhạc, mỹ thuật, ), giáo dục và rèn luyện thể

đó, đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động GDNGLL ở các trường THPT
trên địa bàn huyện.
2. Mét số kh¸i niÖm chủ yếu của đề tài skkn:
1.2.1. Khái niệm quản lí, quản lí giáo dục.
a. Khái niệm quản lí
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song chúng ta có thể hiểu một cách
khái quát như sau: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra . Do vậy thực tế quản lý ở
trường học chính là sự tác động một cách khoa học, cụ thể của chủ thể quản lý
đến hệ thống giáo dục trong nhà trường, nhằm làm cho hệ vận hành giáo dục đạt
đến một trạng thái mới phù hợp và có chất lượng hơn.
1.2.2. Khái niệm quản lý nhà trường.
Quản lí nhà trường là quản lí vi mô, nó là hệ thống con của quản lí vĩ
mô: QLGD, quản lý nhà trường. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản
nhất của quản lý giáo dục. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao
động sư phạm của thầy, hoạt động học tập

tự giáo dục của trò diễn ra trong
quá trình dạy học

giáo dục. Có thể nói rằng quản lý nhà trường thực chất là
quản lý quá trình dạy học

giáo dục.
Nói tóm lại: Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý
nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng
giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
1.2.3. Hoạt động GDNGLL ở trong trường THPT.

số 1 huyÖn BẢO YấN
2.1. Thực trạng giáo dục trung học phổ thông huyện Bảo Yên
Phải nói rằng, giai đoạn từ 2001 đến 2010, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưàng
nâng chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT số 1 huyện Bảo Yờn đã có
những bước tiến đáng kể. Chất lượng giáo viên và cơ cấu bộ môn, loại hình đào
tạo giáo viên đã và đang đáp ứng được yêu cầu của người học, ngang tầm với
nhiệm vụ của cấp học THPT.
2.1.1. Đánh giá mặt mạnh, yếu; thuận lợi, khó khăn của giáo
dục

THPT số 1 huyện Bảo Yờn trong những năm gần đây.
a. Mặt mạnh
- Về qui mô trường lớp ổn định.
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục đang chuyển biến theo chiều hướng tích

cực.
Mục tiêu giáo dục được giữ vững.
- Các điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục tiếp tục
được tăng

cường và có nhiều chuyển biến: Tăng cường cơ sở vật chất
trường học, trang

thiết bị thí nghiệm, thực hành các bộ môn, bồi dưàng chuẩn
hoá đội ngũ cán bộ

giáo viên, tăng cường NSNN và các khoản thu cho nhà
trường.
b. Mặt yếu
- Nhìn chung chất lượng và hiệu quả giáo dục chưa đáp ứng với nhu

mẹ học

sinh và đội ngũ giáo viên về hoạt động GDNGLL tới chất lượng
quản lý hoạt
động GDNGLL theo các khu vực.
Biểuđồ

58%
7%
thuận lợi

Bình th−ờng

Khó khăn
35%
40%
28%
thuận lợi
Bình th−ờng
Khó khăn
32%
Khu vực thị trấn
Khu vực cỏc xó
Từ biểu đồ số liệu trên cho thấy: Nhận thức của cha mẹ học sinh và
giáo viên giữa hai khu vực được khảo sát khác nhau rõ nét. ë khu vực thị trấn
thuận
lợi hơn nhiều so với khu vực nông thôn và ngược lại ở khu vực nông

60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
thuận lợi
Bình

th−ờng
Khó khăn
Khu vực thị trấn Khu vực nông thôn
Một thực tế chúng ta đều ghi nhận là khu vực dân cư ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng giáo dục của các nhà trường trong đó có chất lượng quản


các hoạt động GDNGLL.
2.2. Về nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL trong các trường.
Phải nói rằng hoạt động GDNGLL đã, đang diễn ra trong các nhà
trường THPT rất đa dạng và phong phú, nó gắn liền với các hoạt động giáo
dục khác trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Song
để có cái nhìn tổng quát về thực trạng hoạt động này chúng tôi có bảng khảo

sát ở đối tượng là CBQL và Giáo viên, kết quả thu được như sau:
Bảng số
STT
Nội dung và hình thức hoạt động
Tốt
(%)

trẻ ),

các buổi ngoại khoá (Văn;
toán; sức
22,7 17,3 56,2 1,6 2,2
Đề tỡi: Biện pháp quản lý HĐ GDNGLL ở tr−ờng THPT số 1
Ngô Thị
Nghi
- Hiệu trưởng THPT số 1
Y
STT
Nội dung và hình thức hoạt động
Tốt
(%)
Khá
(%)
TB
(%)
Yếu
(%)
Kém
(%)
khỏe sinh sản vị thành niên ).
6
Các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ

thiện
43,6 46,2 8,4 1,8 0
7
Các diễn đàn theo chuyên đề (Diễn đàn

64,3 31,4 14,3 0 0
Kết luận:
Qua kết quả khảo sát trên chúng ta dễ dàng nhận thấy: Trong số các

hoạt động GDNGLL thường tổ chức trong nhà trường có những nội dung và
hình thức hoạt động được CBQL, giáo viên quan tâm và đánh giá rất cao (hoạt
động sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp cuối tuần chiếm 90,9% và 89,2% khá
tốt; các hoạt động VHVN, TDTT chiếm 36,4 đến 43,6% tốt và 46,2% đến
57,1% khá; các hoạt động xã hội nhân đạo từ thiện; các cuộc thi tìm hiểu và
phong trào thi đua giữa các khối lớp chiếm 57,2% đến 66,4% tốt.
Tuy nhiên, còn nhiều hoạt động chưa được các nhà trường quan tâm, từ
đó kết quả đánh giá không cao như: Các hình thức sinh hoạt của các CLB, các
buổi ngoại khoá; các buổi nghe nói chuyện thời sự; các diễn đàn.
2.3. Đi sâu tìm hiểu một vài hoạt động thường diễn ra trong các nhà
trường.
2.3.1. Nội dung và hình thức sinh hoạt trong giờ chào cờ hàng tuần.
Đây là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động giáo dục của nhà
trường, với dung lượng thời gian một tiết (45 phút) việc sử dụng có hiệu quả
giờ chào cờ có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục học sinh.
2.3.2. Nội dung và hình thức hoạt động trong giờ sinh hoạt lớp cuối
tuần của GVCN.
Bảng số:
STT
Các nội dung thực hiện trong
giờ sinh hoạt lớp cuối tuần
Mức độ thực hiện %
Thường
xuyên
Thi
thoảng

Nội dung và hình thức sinh hoạt lớp cuối tuần ở các trường THPT còn
khá đơn điệu. Hầu hết chỉ dừng lại ở một vài hoạt động quen thuộc như nghe
ban cán sự lớp báo cáo tình hình hoạt động của lớp trong tuần (thường xuyên
86,4%); GVCN nhắc nhở, khiển trách học sinh vi phạm nội qui (thường xuyên
69,8%) và phổ biến kế hoạch hoạt động của nhà trường trong tuần tới
(66,3%). Ngoài ra các nội dung khác ít được quan tâm và tổ chức (ở mức độ
thường xuyên đối với Sinh hoạt văn hoá văn nghệ 5,7%; đố vui các môn học
6,2%; trao đổi các chủ đề mà học sinh quan tâm 7,6% ) có những hoạt động
ở mức độ không có lên tới 62,1% (Đố vui các môn học).
Nhìn chung, các nhà trường có nhận thức chưa đầy đủ hoặc còn thiếu

chính xác về hoạt động GDNGLL. Phần lớn cho rằng Hoạt động GDNGLL
đơn thuần chỉ là những hoạt động phong trào của Đoàn thanh niên 56% (đồng
nhất hoạt động Đoàn với hoạt động GDNGLL mà quên rằng hoạt động Đoàn
chỉ là một tập hợp con nằm trong tập hợp lớn là Hoạt động GDNGLL).
+ Đối với giáo viên.
- Có 47,2% giáo viên cho rằng hoạt động GDNGLL là hoạt động giáo dục.
- 31,3% đồng nhất hoạt động GDNGLL với hoạt động của Đoàn thanh niên.
- 13,2% coi đó là hoạt động vui chơi giải trí.
- 9,3% coi đó là hoạt động ngoại khoá.
Như vậy nhận thức của giáo viên về hoạt động GDNGLL còn thấp . Có
tới 31,3% đồng nhất hoạt động GDNGLL với hoạt động Đoàn. Giáo viên bộ
môn chỉ chú tâm vào giảng dạy chuyên môn trong sách giáo khoa một cách
thụ động mà ít đầu tư suy nghĩ tìm ra cách thức truyền đạt thông qua các hoạt
động GDNGLL.
2.3.3. Nhận thức về nội dung Hoạt động GDNGLL
Qua khảo sát chúng tôi có nhận xột sau:
* ý kiến của GV
Nhìn chung, ý kiến của đội ngũ giáo viên cơ bản đồng nhất với ý kiến
của CBQL. Điều này cho thấy tính khách quan trong công tác tự đánh giá của

thanh

niên.
+ Thực trạng biện pháp chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức
các hoạt động GDNGLL.
Giáo viên ngoài nhiệm vụ giảng dạy còn đảm nhiệm những nhiệm vụ
khác mà Hiệu trưởng nhà trường giao phó, trong đó có công tác Chủ nhiệm
lớp. Biện pháp quản lí GVCN trong việc tổ chức các hoạt động GDNGLL


một trong những biện pháp được sử dụng trong các nhà trường để nâng
cao

chất lượng hoạt động. Trong thực tế, các nhà trường đã thực hiện biện
pháp

chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm về việc tổ chức quản lí hoạt động giáo
GDNGLL

cho học sinh nhưng chủ yếu dừng lại ở các hoạt động duy trì nề
nếp, kỷ luật,

thực hiện nội qui nhà trường; nhắc nhở học sinh trong việc
học tập và rèn

luyện.
+ Thực trạng biện pháp đánh giá, kiểm tra của hiệu trưởng đến công
tác tổ chức các hoạt động GDNGLL.
Qua thảo luận với Giáo viên và học sinh thấy rằng: Công tác kiểm tra,
đánh giá là một hoạt động thường xuyên đựoc thực hiện trong các nhà trường


huyÖn BẢO YấN
3.1. Biện pháp 1: Thành lập Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL
* Nội dung:
Để việc quản lý hoạt động GDNGLL có kết quả, các trường THPT cần
thiết phải thành lập một Ban chỉ đạo các hoạt động GDNGLL dưới sự chủ trì
của Hiệu trưởng (hoặc Phó Hiệu trưởng).
* Ban chỉ đạo có nhiệm vụ:
- Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động hàng
năm và chỉ đạo thực hiện chương trình kế hoạch đó.
- Tổ chức thực hiện những hoạt động lớn, qui mô trường và thực hiện
sự

phối kết hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn, các lực lượng giáo dục khác
ngoài

nhà trường trong các hoạt động.
- Tổ chức hướng dẫn cho giáo viên chủ nhiệm lớp và các cán bộ Đoàn,
lớp tiến hành các hoạt động ở đơn vị mình đạt kết quả.
- Giúp Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục
của

hoạt động.
* Thành phần Ban chỉ đạo:
Căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi trường mà cách bố trí Ban chỉ đạo
sao cho hợp lý. Trên cơ sở nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn mà bản
thân đang trực tiếp tham gia, chúng tôi xin đưa ra dự kiến cho Ban chỉ đạo
hoạt động GDNGLL như sau:
- Trưởng ban: Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng; Chủ tịch công đoàn
hoặc đại diện cấp uỷ chi bộ.


của nhà trường đến các tổ chức trong nhà trường.
Bước 2: Các tổ chức lựa chọn nhân sự phù hợp với nhiệm vụ của các
nhân phụ trách giới thiệu cho Hiểu trưởng làm cơ sở ra quyết định thành lập.
Bước 3: Hiệu trưởng xem xét, đề xuất đề án nhân sự của các tổ chức, ra
quyết định thành lập Ban chỉ đạo.
Bước 4: Công bố quyết định thành lập Ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL

trước hội đồng giáo dục nhà trường vào tuần thứ 3 của tháng 8.
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch cho hoạt động GDNGLL
+ Yêu cầu của kế hoạch hoạt động GDNGLL
- Phải phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, đáp ứng nhiệm vụ
giáo dục trọng tâm của năm học và nhiệm vụ chính trị của địa phương; kế
hoạch phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi, sở thích của học sinh.
- Kế hoạch phải linh hoạt, từ tổng thể đến chi tiết cho từng khối lớp gắn
liền với từng thời điểm cụ thể. Có kế hoạch hoạt động xuyên suốt từ đầu năm
học cho đến hè.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL phải dựa trên kế hoạch giáo
dục của nhà trường, gắn liền với các kế hoạch khác như: kế hoạch hoạt động
chuyên môn, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường cũng như kế
hoạch hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã hội khác trong trường. Từ đó có
kế hoạch phối kết hợp trong việc quản lý tổ chức các hoạt động Giáo dục nói
chung và giáo dục NGLL nói riêng.
+ Nội dung kế hoạch:
- Kế hoạch hoạt động GDNGLL khái quát cho cả năm học (tính từ
tháng 9 cho đến hết hè). Ví dụ ta có bảng sau:
Bảng số 20:
Thời gian
Chủ

nhiệm vụ năm học mà nhà trường đã xây dựng từ đầu năm.
3.2.3. Biện pháp 3: Tuyên truyền, giáo dục cán bộ giáo viên về hoạt
động GDNGLL và qui định tiêu chuẩn thi đua đối với việc tham gia tổ chức
các hoạt động GDNGLL của giáo viên.
* Nội dung:
- Chọn giáo viên cốt cán tham gia các lớp tập huấn về tổ chức hoạt
động

GDNGLL do Sở GD&ĐT tổ chức.
- Lồng ghép vào nội dung nhiệm vụ năm học và quán triệt đến giáo
viên

ngay từ đầu năm học.
- Xây dựng tiêu chí thi đua gắn với việc thực hiện nhiệm vụ tổ
chức

hoạt động GDNGLL đối với GV trong học kỳ và cả năm học.
* Cách thức thực hiện:
Bước 1: Tuần đầu tiên của tháng 9, tổ chức cho giáo viên toàn trường
tiếp thu nội dung tổ chức hoạt động GDNGLL của năm học (do giáo viên cốt
cán tập huấn triển khai).
Bước 2: Cung cấp các tài liệu liên quan đến Hoạt động GDNGLL và tổ
chức thảo luận tại tổ nhóm để đưa ra ý kiến đề xuất cho việc tổ chức hoạt
động

GDNGLL trong cả năm học.
Bước 3: Trong các buổi giao ban, họp Hội đồng giáo dục, Hiệu trưởng
cần chỉ đạo Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL nhà trường đánh giá sơ kết và
triển khai nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo; phân công nhiệm vụ cho tập thể
(tổ, nhóm phối hợp tổ chức), cá nhân có nhiệm vụ nghiên cứu và tổ chức hoạt

GDNGLL theo chủ đề, chủ điểm hàng tuần, tháng.
- Tiếp thu các ý kiến phản hồi, đóng góp cũng như tư vấn kịp thời kỹ
năng tổ chức hoạt động cho tổ chức đoàn thể, tổ chuyên môn và cá nhân trong
quá trình thực hiện.
- Có nhận xét đánh giá việc thực hiện tổ chức hoạt động GDNGLL
trong các buổi họp giao ban hàng tuần.
3.3. Biện pháp 5: Phối hợp các lực lượng xã hội, hỗ trợ hoạt
động

của Đoàn thanh niên.
* Nội dung
Để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra, ngoài sự nỗ lực của thầy cô trong
việc giảng dạy và học sinh trong việc học tập. Sự hỗ trợ từ phía các lực
lượng

xã hội, sự phối kết hợp nhịp nhàng của các tổ chức đoàn thể trong nhà
trường

là một yếu tố quan trọng. Đối với hoạt động GDNGLL càng quan
trọng hơn.

Cụ thể:
- Phối hợp với hội phụ huynh học sinh (thông qua BCH Hội tại trường),
tuỳ theo tính chất của từng hoạt động mà yêu cầu hội hỗ trợ cả về vật chất lẫn
tình thần để tham gia cùng tổ chức các hoạt động GDNGLL cho học sinh.
- Phối kết hợp với các đơn vị hành chính trên địa bàn tổ chức các hoạt
động GDNGLL đặc biệt là các hoạt động diễn ra bên ngoài nhà trường như:
các hoạt động giao lưu, hoạt động thăm quan du lịch; hoạt động tuyên truyền
tháng an toàn giao thông (phối hợp với Công an huyện - phòng cảnh sát giao
thông); phòng chống HIV/AIDS và vệ sinh môi trường; chăm sóc sức khoẻ

các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, tham mưu cho các cấp lãnh đạo từ
huyện đến tỉnh đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động giáo dục của nhà
trường, trong đó có hoạt động GDNGLL.
3.4. Biện pháp 7: Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm cho từng giai
đoạn thực hiện.
Việc đánh giá rút kinh ngiệm phải được thực hiện từ cơ sở: Từ lớp học,
các bộ phận phụ trách tổ chức; lấy ý kiến của học sinh, giáo viên và bộ phận
chỉ đạo để có những điều chỉnh kịp thời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status