ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
ĐỖ HOÀNG SƠN
XÂY DỰNG QUỸ HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO
CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC
DỆT - MAY NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
KHÓA: 2005-2008
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM NGỌC THANH HÀ NỘI, 2008
1
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do nghiên cứu. 5
2. Lịch sử nghiên cứu 5
3. Mục tiêu nghiên cứu. 6
4. Phạm vi nghiên cứu. 6
5. Đối tƣợng khảo sát. 7
6. Vấn đề nghiên cứu. 7
7. Giả thuyết nghiên cứu. 7
8. Phƣơng pháp nghiên cứu. 8
Kết cấu của luận văn 9
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập quốc tế. 10
1.1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). 10
1.1.2. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. 11
Kết luận chƣơng 2 57
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG QUỸ HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ CHO CÁC DNNVV NGÀNH DỆT - MAY 59
3.1. Những vấn đề chủ yếu của việc xây dựng Quỹ hỗ trợ ĐMCN. 59
3.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DNNVV
Dệt - May. 59
3.1.2. Khó khăn của DNNVV Dệt - May khi tiếp cận các nguồn vốn. 60
3.1.3. Căn cứ pháp lý xây dựng Quỹ hỗ trợ ĐMCN (Quỹ). 67
3.1.4. Định hướng xây dựng và chức năng chính của Quỹ. 69
3.1.5. Tổ chức và hoạt động của Quỹ. 70
3.1.6. Sự khác biệt của Quỹ với các tổ chức tín dụng khác. 73
3.2. Vai trò của Nhà nƣớc và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc
xây dựng Quỹ. 74
3.2.1. Vai trò của Nhà nước 74
3.2.2. Vai trò của doanh nghiệp. 81
3.3. Tác động của Quỹ đến việc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của DNNVV ngành Dệt - May. 82
3.3.1. Cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. 82
3.3.2. Hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp. 83
3.3.3. Bổ sung một kênh hỗ trợ vay vốn để đổi mới công nghệ. 84
Kết luận chƣơng 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1. Kết luận. 89
2. Khuyến nghị. 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
MOIT
Bộ Công Thương
MOST
Bộ Khoa học và Công nghệ
MPI
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D
Nghiên cứu và triển khai
SX-KD
Sản xuất kinh doanh
TAC-HN
Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội
TCTK
Tổng cục Thống kê
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VINATEX
Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
VITAS
Hiệp hội Dệt - May Việt Nam
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
55
Bảng 12: Chỉ tiêu chủ yếu phát triển ngành Dệt - May Việt Nam đến
năm 2015, định hướng đến năm 2020
75
Biểu đồ 1: HTX phát triển giai đoạn 2002-2007.
13
Biểu đồ 2: DN đăng ký mới và vốn đăng ký giai đoạn 2001-2007.
14
Biểu đồ 3: Doanh nghiệp thực tế đang hoạt động.
15
Biểu đồ 4: Doanh nghiệp Dệt - May giai đoạn 2000-2006.
35
Biểu đồ 5: Sản lượng ngành Dệt - May giai đoạn 2001-2007.
35
Biểu đồ 6: Giá trị sản xuất công nghiệp ngành Dệt - May.
36
Biểu đồ 7: Doanh thu ngành Dệt - May.
36
Biểu đồ 8: DNNVV ngành Dệt - May giai đoạn 2002-2006.
37
Biểu đồ 9: Lao động trong các doanh nghiệp Dệt - May.
38
Biểu đồ 10: Kim ngạch XK hàng Dệt - May giai đoạn 2001-2007.
38
Biểu đồ 11: Thị trường xuất khẩu chính của Dệt - May năm 2007.
39
Biểu đồ 12: Tính đồng bộ của dây chuyền công nghệ Dệt - May.
được đặt ra trong thời điểm này là cần thiết. Nghiên cứu lựa chọn các
DNVVN ngành Dệt - May vì sản phẩm Dệt - May xuất khẩu hiện nay là một
trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta (đứng thứ hai sau dầu
thô), thách thức đối với doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam khi gia nhập WTO
là sức cạnh tranh của các sản phẩm Dệt - May trên thị trường quốc tế còn thấp
so với Ấn Độ, Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN…do trình độ quản
lý còn hạn chế, công nghệ còn lạc hậu, thiếu công nhân lành nghề, lao động
biến động và chi phí trung gian lớn….
2. Lịch sử nghiên cứu.
- Đề tài cấp Bộ 2000: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng
một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và
nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”; Chủ nhiệm đề
tài: Trần Ngọc Ca - Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ.
Đề tài nghiên cứu môi trường chính sách cho đổi mới công nghệ tại các cơ sở
sản xuất (tài chính và nhân lực). Khuyến nghị tiếp tục hoàn thiện các chính
sách tài chính, làm cho môi trường chính sách tài chính trở nên thân doanh
nghiệp hơn, tạo đối thoại thiết thực và thường xuyên giữa các cơ quan hoạch
định chính sách và doanh nghiệp. Cải cách mạnh mẽ các hệ thống văn bản và
6
môi trường chính sách liên quan đến nhân lực lao động và cho đổi mới công
nghệ.
- Báo cáo đề tài cơ sở 2000: “Nâng cao hiệu quả một số chính sách
thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ”; Chủ
nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Minh Hạnh - Viện Chiến lược và Chính sách Khoa
học và Công nghệ. Đề tài nghiên cứu về những yếu tố cản trở của chính sách
thuế và tín dụng đối với hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đề xuất và khuyến nghị điều
chỉnh chính sách tín dụng theo hướng tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp
- Nghiên cứu các hình thức huy động vốn để thành lập quỹ hỗ trợ đổi
mới công nghệ.
- Nghiên cứu các chính sách của Nhà nước đối với việc huy động và
đầu tư vốn cho DNNVV đổi mới công nghệ, nghiên cứu sẽ giới hạn đối tượng
mục tiêu trong các DNNVV thuộc ngành Dệt - May ở miền Bắc, một số
doanh nghiệp tại miền Trung, trong quá trình hoạt động từ 2000 đến 2007.
5. Đối tƣợng khảo sát.
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành Dệt - May tại 30 tỉnh, thành phố
phía Bắc.
- Do hạn chế về thời gian nên giới hạn đối tượng là một số doanh
nghiệp Dệt - May đại diện cho các khu vực:
+ Miền Bắc: Hà Nội, Thái Nguyên, Phủ Lý.
+ Miền Trung: Thanh Hóa, Vinh.
6. Vấn đề nghiên cứu.
- Cần xây dựng “Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNNVV trong lĩnh
vực Dệt – May” như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh ?
7. Giả thuyết nghiên cứu.
7.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành Dệt - May đang rất cần đổi mới
công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng khó tiếp cận được các
nguồn vốn chính thức và phi chính thức.
7.2. Xây dựng Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ để đáp ứng một phần nhu
cầu vốn cho các DNNVV ngành Dệt - May đổi mới công nghệ.
7.3. Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNNVV trong lĩnh vực Dệt –
May được xây dựng theo hướng là một tổ chức tài chính phi lợi nhuận trực
thuộc Bộ Công thương nhằm tạo lập và bổ sung một kênh hỗ trợ cho DNNVV
trong lĩnh vực Dệt - May thực hiện chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công
nghệ, tạo điều kiện để các DNNVV ngành Dệt - May nâng cao năng lực cạnh
tranh trong quá trình hội nhập.
* Quỹ sẽ tập trung hỗ trợ cho các hoạt động như:
các yếu tố cản trở các DNNVV Dệt - May tiếp cận các nguồn vốn trung và
dài hạn để đổi mới công nghệ.
- Phỏng vấn lãnh đạo các DNNVV ngành Dệt - May về năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, về chiến lược kinh doanh, năng lực công nghệ, mâu
thuẫn giữa nhu cầu đổi mới và khả năng huy động vốn cho đầu tư đổi mới
công nghệ của doanh nghiệp. Quan điểm và khả năng đóng góp cho quỹ hỗ
trợ đổi mới công nghệ.
- Tham khảo ý kiến chuyên gia ở các lĩnh vực sau:
+ Công nghiệp ngành Dệt - May.
+ Tài chính.
8.2. Luận cứ.
* Luận cứ lý thuyết.
- Các lý thuyết về quản lý khoa học và công nghệ, một số lý thuyết về
kinh tế, tài chính.
9
- Các văn bản của Nhà nước về phát triển công nghệ, chuyển giao công
nghệ và đổi mới công nghệ.
- Luật chuyển giao công nghệ đã được thông qua vào tháng 12/2006 có
hiệu lực vào 01.7.2007, các văn bản và Nghị định hướng dẫn thi hành, quy
định về tổ chức và hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (dự thảo).
* Luận cứ thực tế.
- Kinh nghiệm của một số quốc gia trong hỗ trợ đổi mới công nghệ cho
các doanh nghiệp.
- Việt Nam chưa có Quỹ: “Hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV
ngành Dệt - May” - thực chất là: Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của ngành.
- Thực trạng chính sách tài chính: những hạn chế (rào cản) về việc tiếp
cận các nguồn vốn trung và dài hạn của các DNNVV để đổi mới công nghệ
- Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ của các DNNVV Việt Nam từ
Kinh nghiệm của hầu hết các quốc gia phát triển hoặc đang phát triển
cho thấy rằng DNNVV có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Các quốc gia đã có các chính sách cụ thể để
hỗ trợ DNNVV, việc phân loại và đưa ra các tiêu chí để xác định DNNVV là
vấn đề hoàn toàn thực tiễn, cho phép mỗi quốc gia xác định chính xác đối
tượng hưởng lợi của các chính sách, các chương trình trợ giúp.
Trong suốt một khoảng thời gian dài, khái niệm DNNVV không được
thống nhất trong toàn quốc. Một số dự án hỗ trợ DNNVV có sự trợ giúp của
các tổ chức quốc tế đã tự đưa ra khái niệm DNNVV để xác định nhóm mục
tiêu của dự án. Thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của các DNNVV, Chính phủ
Việt Nam đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23.11.2001 về trợ
giúp phát triển DNNVV, xác lập khung pháp lý đầu tiên về khuyến khích phát
triển DNNVV ở nước ta. Đồng thời, Nghị định đã đặt nền móng tư tưởng
chính sách để huy động các nguồn lực, các cơ quan và tổ chức chính trị xã hội
tăng cường hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV. Theo điều 3, chương I của
Nghị định thì khái niệm DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng
ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá
300 người”.
Khái niệm DNNVV được quy định trong Nghị định là khái niệm chính
thức được áp dụng chung trong cả nước để phân loại DNNVV, là căn cứ
mang tính pháp lý để phân loại, lựa chọn doanh nghiệp (DN) là những đối
tượng được hưởng lợi của các chính sách, các chương trình hỗ trợ các
DNNVV.
Trong Nghị định nêu rõ: căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của
ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biên pháp, chương trình trợ
giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc
một trong hai tiêu chí nói trên. Trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài,
DNNVV nói chung và DNNVV ngành Dệt - May nói riêng được hiểu là DN
có ít nhất một tiêu chí về vốn hoặc lao động và DN có đồng thời hai tiêu chí
năng cạnh tranh của sản phẩm không nhất thiết có tốc độ đồng hướng với khả
năng cạnh tranh của DN, nguyên nhân là do DN có thể sản xuất nhiều loại
hàng hóa, dịch vụ khác nhau với mức độ cạnh tranh khác nhau trên thị trường.
Tuy nhiên trên cùng một thị trường khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của
DN thường rất gần với nhau.
Khả năng cạnh tranh các sản phẩm của DN phụ thuộc rất lớn vào trình
độ và năng lực công nghệ của DN. Tuy nhiên trình độ công nghệ cao nhưng
năng lực công nghệ thấp thì chất lượng sản phẩm, dịch vụ có thể thấp; năng
lực công nghệ được tổng hợp từ 4 thành tố cấu thành công nghệ. DN có năng
1
(CIEM): Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam; NXB Lao
động; Hà Nội, 2000. 12
lực công nghệ càng cao thì chất lượng sản phẩm càng ổn định, đáp ứng được
yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
1.1.3. Hội nhập quốc tế và sự phát triển của DN Việt Nam.
Năm 1986, Đảng và Chính phủ Việt Nam bắt đầu quá trình đổi mới, đổi
mới và mở cửa đã tạo ra động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của
Việt Nam. Bằng chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó
có kinh tế tư nhân. DN phát triển nhanh chóng và đa dạng với nhiều loại hình
khác nhau: DN nhà nước; DN liên doanh; DN 100% vốn nước ngoài; DN tư
nhân; công ty cổ phần; công ty TNHH; HTX; các hộ kinh doanh cá thể. Với
chính sách mở cửa, nới lỏng các hạn chế về thương mại, kêu gọi và khuyến
khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, từ giai đoạn này hình
thành các khuynh hướng phát triển khác nhau trong cộng đồng DN.
* Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
có 105 tập đoàn và tổng công ty, cụ thể, gồm 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91;
83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập
đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản VN. Dự kiến đến cuối năm 2010, cả
nước còn 554 DN 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty
quy mô lớn
3
.
* Hợp tác xã (HTX).
Giai đoạn 1986-1990 là thời kỳ hết sức khó khăn của các HTX, hàng
loạt các HTX không thích ứng với cơ chế thị trường đã phải giải thể, số lượng
giảm mạnh. Năm 1996, Luật HTX ra đời. Các HTX được khuyến khích và
hướng dẫn chuyển sang hoạt động theo các quy định của Luật. Một số lượng
đáng kể HTX hoạt động thành công về cả hai phương diện kinh tế và xã hội.
Hầu hết các HTX có quy mô nhỏ và vừa như được quy định trong Nghị định
90/2001/NĐ-CP.
BiÓu ®å 1: HTX ph¸ t t r iÓn giai ®o¹ n 2002-2007
14.207
14.301
15.233
17.133
17.535
17.559
0
2.000
4.000
6.000
8.000
10.000
12.000
14.000
2005, đến nay các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh cả về số
lượng và vốn đăng ký, bảng 1:
Bảng 1: DN đăng ký mới và vốn đăng ký, giai đoạn 2001-2007
Năm
ĐVT
2002
2003
2004
2005
2006
2007
DN đăng ký mới
Dn
21.535
27.771
37.230
39.959
46.663
58.908
Vốn đăng ký
Tỷ đ
38.529
57.794
72.100
108.030
148.237
489.182
Tăng trưởng số lượng.
%
8,8
58.908
38.529
57.794
72.100
148.237
489.182
108.030
0
100.000
200.000
300.000
400.000
500.000
2002 2003 2004 2005 2006 2007
Doanh nghiÖp Vèn ®¨ng ký (tû ®ång)
Năm 2002 có 21.535 DN mới với số vốn đăng ký 38.529 tỷ đồng, tuy
chỉ tăng 8,8% về số lượng nhưng đã tăng đến 49,5% về số vốn. Năm 2003, số
DN tăng lên 29%, số vốn tăng đến 50% và đến năm 2004 đã có thêm 37.230
DN mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký đạt 72.100 tỷ đồng, tăng
34,1% về số DN và 24,8% về vốn đăng ký so với năm 2003. Từ khi Luật DN
được Quốc hội ban hành ngày 29.11.2005 số lượng DN tăng nhanh về số
lượng, vốn đăng ký và bình quân vốn/DN. Năm 2005 bình quân vốn/DN là
2,7 tỷ đồng, đến năm 2006 là 3,18 tỷ và năm 2007 là 8,3 tỷ đồng. So với năm
4
Nghiên cứu trao đổi, Website Thời báo Kinh tế Việt Nam 17.7.2006 (www.vneconomy.vn).
15
131.332
DN có vốn ≤ 10 tỷ
54.216
61.997
79.420
98.232
114.340
- So với tổng số doah nghiệp
86%
86%
87%
87%
87%
DN có lao động ≤ 299 LĐ
59.831
68.687
88.222
109.336
127.600
- So với tổng số doanh nghiệp
95%
95%
96%
97%
97%
Nguồn: Kết quả điều tra DN 2000-2006; Thực trạng DN qua kết quả điều tra 2005, 2006,
2007 của Tổng cục Thống kê, 2008.
BiÓu ®å 3: Doanh nghiÖp t hùc t Õ ®ang ho¹ t ®éng
0
20.000
DN, về vốn các DNNVV chiếm 28,92%, giá trị sản phẩm tạo ra chiếm
khoảng 42% GDP, lợi nhuận chiếm 11,78% và nộp ngân sách chiếm 17,64%.
Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước mặc dù chiếm tới 75% tài sản của
Nhà nước, 20% đầu tư của xã hội, 5% đầu tư của Nhà nước nhưng chỉ chiếm
40% GDP. Trong ngành công nghiệp chế biến, DNNVV tập trung vào các
phân ngành: dệt - may, da giày, gốm sứ tiêu dùng và mỹ nghệ, rượu bia, cơ
khí sửa chữa - lắp ráp - sản xuất nông ngư cơ, hoá chất tiêu dùng, chế biến gỗ.
Giá trị sản lượng của 7 phân ngành này chiếm 81% tổng giá trị sản lượng của
toàn ngành.
* Góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm.
DNNVV có một vị trí rất quan trọng về tạo việc làm mới với thu nhập
cao hơn nhiều so với lao động ở khu vực nông nghiệp. Riêng khu vực này đã
tạo việc làm cho trên 50% số lao động làm việc trong khu vực DN nói chung
(gần 3,37 triệu người), mỗi năm tăng thêm gần nửa triệu việc làm mới với thu
nhập bình quân năm 2006 gần 1,49 triệu đồng/tháng, góp phần quan trọng
giải quyết tình trạng việc làm cho đội ngũ lao động trẻ. Để tạo ra một việc
làm, các DNNN lớn phải đầu tư 41 triệu đồng, các DN có vốn đầu tư nước
ngoài là 294 triệu đồng, trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ là 26 triệu
đồng.
* Góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
8
.
Các DNNVV với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn phát triển rộng khắp
cả thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lao động trong lĩnh vực
nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Các DNNVV phát triển ở các địa phương thì sẽ hình thành và phát triển
các khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương. Khác với khu công nghiệp
(KCN) tập trung cấp quốc gia, khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương có
7
các định chế khu vực hay toàn cầu đều hướng tới việc tự do hóa thương mại
và đầu tư ở tầm quốc gia, khu vực và thế giới.
“Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia
vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ
giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của
khối”
9
.
Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu: Đàm phán
cắt giảm thuế quan; giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan; giảm bớt các hạn
chế đối với dịch vụ; giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế; điều chỉnh
các chính sách thương mại khác; triển khai các hoạt động văn hóa, giáo dục, y
tế, có tính chất toàn cầu.
9
Báo cáo tóm tắt Dự án Điều tra DN; MPI, Tr3; Hà Nội, 09.11.2007.18
* Thách thức đối với các DNNVV trong quá trình hội nhập
10
.
Sức ép về năng lực cạnh tranh của DN.
Năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam hiện nay còn quá yếu so với
các nước trên thế giới và khu vực. Điều này bắt nguồn từ chính bản thân nội
lực của các DN Việt Nam còn rất nhiều hạn chế:
- Quy mô vốn đầu tư nhỏ, thiếu vốn khiến cho các DN không có đủ khả
năng ứng dụng công nghệ mới hay đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại; đầu
tư dàn trải, cơ cấu chưa hợp lý nên đã không tạo được mũi nhọn trong chiến
19
chuẩn quốc tế. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), so với các
nước trong khu vực, thứ bậc xếp hạng về chất lượng nguồn nhân lực của nước
ta còn thấp (chỉ đạt 3,79/10 so với Trung Quốc là 5,73/10 và Thái Lan là
4,04/10). Bên cạnh đó các DN Việt Nam cũng đang thiếu hụt trầm trọng các
nhà quản lý có tầm nhìn chiến lược, có khả năng tổ chức, điều hành và quản
lý hiệu quả, chuyên nghiệp; thiếu các chuyên gia, cán bộ khoa học và công
nghệ có trình độ cao.
Thách thức về đổi mới công nghệ.
- Có thể nói công nghệ và nhân lực KH&CN, cũng như năng lực nghiên
cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ của các DN Việt Nam hiện nay còn nhiều
bất cập. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) về chuyển giao
công nghệ (2005), trong đó 117 nước, chỉ số ứng dụng công nghệ của Việt
Nam nằm trong nhóm nước lạc hậu (đứng thứ 92), chỉ số đổi mới có cao hơn
song cũng thấp hơn Thái Lan đến 42 bậc. Về chuyển giao công nghệ, Việt
Nam đã bị Thái Lan bỏ xa đến 62 bậc. Tỷ lệ sử dụng công nghệ cao tại Việt
Nam thấp (khoảng 20%), trong khi các nước trong khu vực đều đạt mức cao,
ví dụ như Malaixia là 51%, Singapo tới 73%.
- Hiện nay phần lớn các DN Việt Nam đang sử dụng công nghệ tụt hậu
so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ. Có 80-90% công nghệ của
Việt Nam sử dụng là công nghệ ngoại nhập; 76% máy móc, dây chuyển công
nghệ nhập thuộc thế hệ 1960-1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao. Tính
chung cho các DN, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức trung bình 38%,
lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 52%. Trong khi đó các DN Việt Nam đầu tư đổi
mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu.
Con số này ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%. Có thể nói, hiện nay năng lực
đổi mới công nghệ được đánh giá là năng lực yếu nhất của các DN Việt Nam.
Sự lạc hậu về công nghệ sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm thấp và không
ổn định làm cho DN khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh, hạn
Thách thức về tiếp nhận và xử lý thông tin.
- Hiện nay công tác tiếp nhận và xử lý thông tin của các DN Việt Nam
còn rất yếu. Các DN Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu thông tin về thị
trường, các luật lệ quốc tế, các quy định cam kết, và các chiến lược phát triển
của các đối tác nước ngoài,
- Theo kết quả điều tra năm 2003 do Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam tiến hành nhằm đánh giá hiểu biết về khả năng và yêu cầu
hội nhập quốc tế đối với ngành hàng của DN thì 57% các DN cho biết họ nắm
bắt được thông tin cần thiết đối với quá trình hội nhập, còn 14% trả lời chưa
biết về những thách thức đối với DN mình trong tương lai.
1.2. Công nghệ và đổi mới công nghệ.
1.2.1. Công nghệ.
Khái niệm công nghệ được hiểu theo nhiều cách và nhiều phương diện
khác nhau, trong tài liệu Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt
Nam của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (Bộ
KH&CN) có đề cập và đưa ra đến 11 định nghĩa về công nghệ. Tuy nhiên
công nghệ có thể được hiểu như sau:
21
- Công nghệ hiểu là sự ứng dụng các tri thức khoa học vào việc giải
quyết một nhiệm vụ thực tiễn. Đây là cách hiểu của các nhà khoa học.
- Công nghệ với cách nhìn khái quát, là một hệ thống quy trình kỹ thuật
chế biến vật chất hoặc chế biến thông tin.
Khái niệm công nghệ thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn theo
quan điểm của Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP)
trong dự án Technology Atlas Project
11
: “Công nghệ là hệ thống các kiến
thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin”. Hệ
22
- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật
chất như các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà
xưởng. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị -
Technoware (T). Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware).
- Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của
con người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính
sáng tạo…mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm
thực tiễn. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của
công nghệ - Humanware (H).
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa
như: các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức,
các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết v v Dạng thức này của công nghệ được gọi là
Phần thông tin - Inforware (I).
- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ
chức của công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm,
mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết…Đây là Phần tổ chức của công nghệ
- Organware (O).
1.2.2. Đổi mới công nghệ.
Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật
KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này,
mặc dù trong Luật có cụm từ “đổi mới công nghệ” liên quan đến Chương
trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
Theo Keith Pavitt (2003)
12
quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra
các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ
kỹ thuật hoặc dựa trên sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc của cả hai yếu
tố đó. Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ
triển.
“Để đổi mới thành công (đưa được sản phẩm mới ra thị trường hoặc
quy trình mới được áp dụng trong sản xuất). Tùy thuộc tính chất, các hoạt
động này được phân thành:
(1) Thu nạp và tạo ra tri thức phù hợp mới đối với DN
- R&D.
- Thu nạp công nghệ “tách rời” và bí quyết (asquisition of disembodied
technology and know-how) thường được thực hiện dưới dạng mua bán các
quyền sở hữu công nghiệp.
- Thu nạp công nghệ “gắn kèm” (asquisition of embodied technology)
thường gắn với việc mua sắm, thu nạp thiết bị máy móc hàm chứa nội dung
công nghệ.
(2) Các hoạt động chuẩn bị sản xuất khác
- Thiết kế sản xuất (tooling-up and industrial engineering): bố trí mặt
bằng sản xuất, chọn thiết bị cho từng công đoạn, chọn giải pháp vận hành nhà
máy, quy trình kiểm soát chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn để chế tạo sản phẩm
mới hoặc sử dụng quy trình mới.
- Thiết kế công nghiệp (industrial design): phương án và bản vẽ quy
định quy trình, thông số kỹ thuật và đặc tính vận hành cần thiết cho sản xuất
sản phẩm mới hoặc thực hiện quy trình mới.
- Thu nạp các tư liệu sản xuất khác như nhà xưởng, máy móc thông
thường (không có tiến bộ gì về các đặc tính kỹ thuật) cần thiết cho việc thực
hiện đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình.
- Khởi động sản xuất bao gồm việc điều chỉnh sản phẩm hoặc quy
trình, đào tạo lại đội ngũ lao động về kỹ thuật mới hoặc cách sử dụng máy
móc mới, và các hoạt động sản xuất thử chưa phải R&D.
(3) Tiếp thị các sản phẩm mới hoặc được cải thiện bao gồm các hoạt
động như nghiên cứu thị trường, thử nghiệm thị trường và quảng cáo”
14
.