Những hạn chế của chính sách khoán kinh phí trong thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của nhà nước - Pdf 25


1 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.70
Khoá 2006 - 2009

Hà Nội, 2008

2
MỤC LỤC

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHẠM THỊ HIỀN NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH KHOÁN KINH
PHÍ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CỦA NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.70
Khoá 2006 - 2009


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KHOÁN KINH PHÍ
TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CỦA NHÀ NƢỚC 15
1.1. Một số khái niệm 15
1.1.1. Khái niệm “nghiên cứu và triển khai” 15
1.1.2. Các loại hình nghiên cứu và triển khai 15
1.1.3. Nhiệm vụ KH&CN 16
1.1.4. Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai 17
1.1.5. Chính sách KH&CN 19
1.2. Cơ sở lý luận về khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án 20
1.2.1. Khái niệm về khoán kinh phí 20
1.2.2. Tại sao lại phải ban hành chính sách khoán kinh phí trong thực
hiện các đề tài, dự án 21
1.2.3. Cơ sở để tính khoán kinh phí trong hoạt động KH&CN 22
1.2.3.1. Xác định vấn đề nghiên cứu các và nội dung công việc cần tiến
hành trong các đề tài, dự án 23
1.2.3.2. Xác định được tổng dự toán kinh phí cần thiết phục vụ cho cả
quá trình nghiên cứu 23
1.2.3.3. Đánh giá sản phẩm nghiên cứu so với dự kiến đầu bài đặt ra 26

4
1.2.4. Kinh nghiệm khoán trong hoạt động sản xuất vật chất 29
1.2.4.1. Khoán trong sản xuất nông nghiệp 29
1.2.4.2. Khoán chi hành chính 31
1.2.5. Kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính ở một số tổ chức quốc tế
và nước ngoài 34
Kết luận chương 1 37
CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG VỀ THỰC HIỆN KHOÁN KINH PHÍ TRONG
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CỦA NHÀ NƢỚC 41
2.1. Những quy định cụ thể về khoán của Thông tư 93 41
2.2. Một số điểm khác biệt của Thông tư 93 so với quy định cũ 43

Bảng 2 : Một số bất cập trong quản lý khoa học và quản lý tài chính . 117
Bảng 3 : Các ý kiến về chính sách khoán hiện hành và đề xuất hướng
hoàn thiện 118
5- Phụ lục 5: Mẫu phiếu điều tra 120 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT -BTC: Bộ Tài chính.
-BKHCN: Bộ Khoa học và Công nghệ
-BKHCNMT: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng
-CHLB Đức: Cộng hoà Liên bang Đức.
-IC: Vi mạch, mạch tổ hợp (Intergrated Circuit)
-KH&CN: Khoa học và công nghệ
-KHCN: Khoa học công nghệ
-KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn

Một công đoạn trong khâu quản lý tài chính là việc kiểm soát và thẩm
định dự toán cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Hai công việc này thực sự là
vấn đề đã đƣợc nhiều diễn đàn quan tâm bàn bạc , nhƣng để có một phƣơng thức
sao cho phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ thì chƣa có.
Hiện tại các chế tài cho việc này cũng chƣa thật chặt chẽ. Công tác thẩm định dự
toán cũng gặp rất nhiều khó khăn, trong nội dung của các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ có nhiều phần không có các định mức cụ thể. Tại cuộc hội thảo “Đổi
mới cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội” diễn ra
trong hai ngày 21, 22 tháng 12 năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh, TSKH
Nguyễn Xuân Quỳnh, chủ nhiệm chƣơng trình KC.03 nhận xét: “Cách quản lý
tài chính như hiện nay, từ khâu xét duyệt đề tài, thẩm định đề tài và quyết toán
kinh phí còn mang nặng tính hình thức và tạo ra…cơ chế nói dối. Chẳng hạn
trong xét duyệt các đề tài KHCN trọng điểm cấp nhà nước (có thể xem là những
đề tài khó và chưa bao giờ nghiên cứu trước đó) lại phải làm dự toán theo từng
hạng mục chi, phải chi tiết đến từng linh kiện điện tử. Như vậy, chỉ có thể có hai

8
khả năng: đó là đề tài đã được nghiên cứu, làm xong mọi việc nên mới có thể
biết được chính xác đến từng con IC, khả năng thứ hai là tác giả phải bịa hoàn
toàn. Lý do là chưa nghiên cứu thì không thể nào dự toán chi tiết đến từng con
IC hay từng ngày công lao động”
1
. Về các định mức chi cho khoa học đã có các
văn bản hiện hành, tuy nhiên nhiều nội dung, hạng mục của hoạt động nghiên
cứu vẫn chƣa đƣợc đề cập cụ thể nên cũng gặp khó khăn cho lập dự toán kinh
phí, đặc biệt là thù lao cho ngƣời làm nghiên cứu (công của các nhà khoa học)
đang rất bất cập, các mức chi trả chƣa tƣơng xứng với sức lao động bỏ ra. Chính
vì vƣớng từ khi thẩm định dự toán kinh phí cho các nội dung công việc nên thực
tế các khâu kiểm soát sau cũng chỉ là hình thức nếu nhƣ một khi chủ nhiệm của
các nhiệm vụ có ý đồ không trung thực trong vấn đề tài chính. Đã có chính sách


Hộp 1: Kinh nghiệm về cơ chế quản lý khoa học tại CHLB Đức

Ở CHLB Đức, bản dự toán cho các đề tài, dự án nói chung có các mục
thuê khoán chuyên môn, công tác phí, hội thảo hội nghị, điều tra khảo sát,
nguyên vật liệu thí nghiệm, năng lƣợng, trang thiết bị,… mục quan trọng
chiếm ở vị trí số 1 bao giờ cũng là chi trả thù lao cho cán bộ khoa học hoặc
nhân lực khác thực hiện đề tài, dự án nghiên cứu. Việc dự toán này do chủ
nhiệm đề tài, dự án đề xuất để tuyển những ngƣời chƣa làm việc hết 100% thời
gian ở bất cứ cơ quan nào để bố trí ngƣời đó làm việc bán thời gian hoặc toàn
bộ thời gian cho việc thực hiện đề tài, dự án. Ngƣời đƣợc tuyển sẽ đƣợc trả thù
lao dƣới dạng lƣơng để làm việc cho đề tài, dự án, do vậy khi lập dự toán

.
Ở trong nƣớc, có nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính
trong quản lý khoa học và công nghệ. Một số công trình nghiên cứu có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu:
+ Đề tài nghiên cứu cấp bộ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc
xác định mức thù lao lao động khoa học trong nhiệm vụ KH&CN của nhà nƣớc,
do TS.Nguyễn Thị Anh Thu - Viện Nghiên cứu Chiến lƣợc và Chính sách
KH&CN chủ trì.
Kết quả của đề tài đó đƣa ra một trong các quan điểm trong xây dựng mức
thù lao nhƣ sau: Tăng cƣờng cơ chế khoán theo gói công việc kết hợp với hƣớng
dẫn mức trần chi phí tối thiểu và tối đa. Tăng cƣờng quyền tự chủ và tự chịu
trách nhiệm của chủ nhiệm đề tài trong việc mô tả công việc để khoán theo gói
công việc, đồng thời cũng phải có hƣớng dẫn mức trần tối đa và tối thiểu đối với
những công việc không khoán đƣợc theo gói công việc.
Theo kết quả điều tra của đề tài, thù lao cho các loại công việc sau đây nên
giao cho chủ nhiệm đề tài quyết định theo khoán gói công việc: Xây dựng đề
cƣơng nghiên cứu; Thiết kế phiếu hỏi; Nghiên cứu chuyên đề; Tìm tƣ liệu/số
liệu/thông tin; Viết tổng thuật/báo cáo hội thảo. Các công việc khác không khoán
theo gói công việc mà khoán theo hƣớng dẫn khung định mức và chủ nhiệm đề

2
Trần Công Yên và CS: Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động
KH&CN”, Tháng 12/2001

11
tài quyết định mức cụ thể trong khung đó. Tuy nhiên tất cả các dự toán kinh phí
này phải đƣợc thẩm định một cách chặt chẽ.
+ Đề tài Tổng kết 5 năm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý hoạt động
KH&CN ở Thành phố Hồ Chí Minh 2000-2005 và đề xuất đổi mới cơ chế chính
sách cho giai đoạn mới, do PGS.TS Phan Minh Tân - Giám đốc Sở KH&CN

cho các đề tài cần đƣợc tiến hành dựa trên kết quả đánh giá đầu vào, trung gian
và đầu ra theo một nguyên tắc “đánh giá độc lập” và phƣơng pháp luận đánh giá
khoa học trên cơ sở các tiêu chí cụ thể
4
.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về đổi mới chế tài chính chủ yếu tập
trung vào nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ kinh phí, nguồn đầu tƣ và định
hƣớng ƣu tiên về tài chính cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai.
Tuy nhiên chƣa có đề tài nghiên cứu nào về chính sách khoán kinh phí, cơ
sở của khoán là gì, thực hiện khoán sẽ đem lại lợi ích ra sao và tại sao lại phải
thực hiện khoán kinh phí. Chính vì vậy, cũng chƣa có nghiên cứu nào về những
hạn chế của chính sách khoán kinh phí trong hoạt động nghiên cứu triển khai nói
chung .
3. Mục tiêu nghiên cứu
-Đánh giá và chỉ ra những hạn chế của chính sách khoán kinh phí (Thông
tƣ số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN ngày 04 tháng 10 năm 2006 hƣớng dẫn chế
độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách
nhà nƣớc) và làm rõ những ảnh hƣởng của hạn chế đó đến hoạt động KH&CN.
-Đề xuất các hƣớng hoàn thiện chính sách khoán kinh phí cho phù hợp với
hoạt động KH&CN.
4. Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ giai đoạn 2003-2008, đây là khoảng
thời gian trƣớc khi có chính sách khoán 3 năm và sau khi có chính sách khoán 2
năm.
-Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về chính sách khoán kinh phí
(những quy định cụ thể trong Thông tƣ 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN ngày 04

4
Trần Công Yên và CS: Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động
KH&CN”, Sdd, tr.32

14
7. Giả thuyết nghiên cứu
-Chính sách khoán kinh phí nhƣ hiện nay chƣa giúp quản lý có hiệu quả
nguồn kinh phí dành cho thực hiện các đề tài, dự án.
-Chính sách khoán kinh phí chƣa tạo ra hành lang thông thoáng thực sự
cho các nhà khoa học.
-Khoán kinh phí nhƣ hiện nay chƣa thực sự thúc đẩy nghiên cứu khoa học.
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết nghiên cứu
-Nghiên cứu các tƣ liệu, văn bản pháp quy liên quan đến nội dung nghiên
cứu; khảo cứu các thông tin liên quan có trong các tạp chí và có trên mạng
internet.
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan.
-Khảo cứu kinh nghiệm nƣớc ngoài và một số tổ chức quốc tế đang triển
khai tại Việt Nam.
-Điều tra, phỏng vấn một số nhà khoa học, nhà quản lý khoa học và quản
lý tài chính thông qua các bảng hỏi và trao đổi trực tiếp.
9. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng :
-Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của khoán kinh phí trong thực hiện
nhiệm vụ KH&CN của nhà nƣớc
-Chƣơng 2: Hiện trạng về thực hiện khoán kinh phí trong thực hiện các
nhiệm vụ KH&CN
-Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách khoán kinh phí

15
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KHOÁN KINH

16
-Nghiên cứu ứng dụng: Cũng là hoạt động nghiên cứu ban đầu để nhận
đƣợc các tri thức mới, nhƣng chủ yếu nhằm vào một mục đích hoặc mục tiêu
thực tế cụ thể.
-Triển khai thực nghiệm: Là hoạt động mang tính hệ thống, dựa vào tri
thức hiện có, đƣợc tiếp thu từ công việc nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn,
nhằm tạo ra các vật liệu, sản phẩm và thiết bị mới, lập ra các quy trình, hệ thống
và dịch vụ mới, hoặc cải tiến đáng kể những thứ đã đƣợc sản xuất hoặc lập ra.
Trong khoa học xã hội, có thể định nghĩa triển khai thực nghiệm là quá
trình biến tri thức nhận đƣợc từ nghiên cứu thành các chƣơng trình tác nghiệp, kể
cả các dự án trình diễn đƣợc thực hiện nhằm mục đích thử nghiệm và đánh giá.
1.1.3. Nhiệm vụ KH&CN
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề khoa học và công nghệ
cần đƣợc giải quyết, đƣợc tổ chức thực hiện dƣới hình thức đề tài, dự án, chƣơng
trình khoa học và công nghệ, mỗi hình thức có mục đích khác nhau.
-Đề tài: Có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề khoa học và công
nghệ. Mục đích của đề tài là định hƣớng vào trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học
thuật, chƣa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế. Đề
tài có thể dừng ở khâu nghiên cứu khoa học nhƣng nhánh đề tài nghiên cứu ứng
dụng thì kéo dài đến cả giai đoạn triển khai thực nghiệm. Đề tài có thể độc lập
hoặc thuộc dự án, chƣơng trình khoa học và công nghệ.
-Dự án: có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa
học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải
pháp, phƣơng pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Cụ thể hơn, dự án là một
loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế và xã hội. Dự án có
những đòi hỏi khác đề tài nhƣ: đáp ứng một nhu cầu đã đƣợc nêu ra; chịu sự ràng
buộc của kỳ hạn và thƣờng là ràng buộc về nguồn lực. Dự án có thể độc lập hoặc
thuộc chƣơng trình khoa học và công nghệ.

17

-Sản phẩm có chỉ tiêu định lƣợng có thể đo đếm đƣợc: mẫu, vật liệu, thiết
bị, máy móc, giống cây trồng, vật nuôi,…
-Sản phẩm mang tính chất định tính hoặc chủ yếu là định tính, khó xác
định đƣợc bằng các chỉ tiêu định lƣợng cụ thể: quy trình công nghệ, phƣơng
pháp, giải pháp, mô hình, bản đồ, bảng số liệu,…
Các sản phẩm của các hoạt động nghiên cứu và triển khai còn đƣợc thể
hiện dƣới các hình thức: các bài báo (trong đó chứa đựng các sản phẩm là các
phát hiện, phát minh) và sáng chế; sản phẩm có thể bao gồm cả sản phẩm đào tạo
(đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ).
Cũng có quan niệm cho rằng, sản phẩm của hoạt động KH&CN gồm có ba
loại: Thứ nhất là các công bố khoa học dƣới dạng các bài báo gốc trình bày các
kết quả mới đƣợc công bố trên các tạp chí có uy tín có sự phản biện của các
chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn; Thứ hai là các bằng sáng chế đƣợc bảo
hộ trong và ngoài nƣớc bởi các cơ quan chuyên môn; Thứ ba là những nghiên
cứu ứng dụng, thực chất là việc thử nghiệm các kết quả có sẵn ở điều kiện cụ thể
nào đó, nhất là điều kiện trong nƣớc
6 Khi xem xét các sản phẩm của nghiên cứu và triển khai ở các khía cạnh
“khả năng áp dụng vào sản xuất/đời sống” và “giá trị thƣơng mại” thì không phải
loại sản phẩm nào cũng có thể áp dụng trực tiếp đƣợc vào sản xuất hay đời sống
ngay hay cũng chƣa thể có giá trị thƣơng mại đƣợc.
Bảng 1: So sánh phát hiện, phát minh, sáng chế
7Phát hiện
Phát minh
Sáng chế

động cơ hoạt động của một hoặc một số nhóm có vai trò động lực trong việc
thực hiện mục tiêu phát triển xã hội
8
.
Theo UNESCO định nghĩa, “Chính sách KH&CN là một tập hợp các biện
pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng
tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt được mục đích phát triển quốc gia
và nâng cao vị trí quốc gia trên thế giới”.
Chính sách KH&CN là những phƣơng châm, điều lệ, quy định. Đó là
những nguyên tắc và quy tắc của một nhà nƣớc, một ngành trong một thời kỳ
nhất định và với một mục tiêu chiến lƣợc nhất định đặt ra nhằm phát triển
KH&CN
9
.
Nhƣ vậy, có thể hiểu chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp mà
chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tƣợng quản lý (các tổ chức KH&CN)
nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án là chính sách
KH&CN. Vì vậy nó là biện pháp mà các nhà quản lý KH&CN xây dựng và sử
dụng để làm công cụ quản lý các đề tài, dự án .

8
Vũ Cao Đàm, Phân tích chính sách, Hà Nội, 2005
9
Đặng Duy Thịnh, Bài giảng về Chính sách KH&CN

20
1.2. Cơ sở lý luận về khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án
1.2.1. Khái niệm về khoán kinh phí
Theo “Đại từ điển kinh tế thị trƣờng”: Khoán kinh phí là một biện pháp

11
Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin.

21
dự án đó đƣợc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gắn với trách nhiệm về các kết
quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án, nhằm đạt
đƣợc mục tiêu, kết quả cao nhất.
“Khoán kinh phí” là giao cho một khoản tiền nào đó để thực hiện hoặc
hoàn thành một công việc nào đó. Thông thƣờng một công việc hay sản phẩm
nào đó có thể đƣợc giao khoán khi cả phía ngƣời giao và ngƣời nhận khoán đều
phải nắm rõ đƣợc mức độ yêu cầu về thời gian, kinh phí, nhân lực và cách thức
để hoàn thành công việc, sản phẩm phải đạt cả về mặt lƣợng và chất.
Trong luận văn này chỉ đề cập đến khoán kinh phí trong thực hiện các đề
tài, dự án. Vì thế khái niệm khoán đƣợc hiểu nhƣ sau:
Khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án là việc các cơ quan quản
lý giao cho các chủ nhiệm đề tài, dự án một khoản kinh phí dựa trên các nội
dung nghiên cứu và tổng dự toán đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (đã
đƣợc Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề cƣơng xem xét và dự kiến kết quả đạt
đƣợc); sản phẩm bên giao nhận đƣợc ở đây chính là kết quả đƣợc nghiệm thu (do
một hội đồng các nhà khoa học thẩm định và nghiệm thu) của các đề tài, dự án
mang lại.
Nhƣ vậy, khái niệm khoán đƣợc hiểu là sự thoả thuận giữa hai bên giao
khoán và bên nhận khoán về một công việc nào đó với một yêu cầu nhất định về
điều kiện để thực hiện và kết quả cần đạt đƣơc (bài báo, sáng chế,…). Điều kiện
để thực hiện có thể là nhân lực, tài lực, vật lực hoặc tin lực.
1.2.2. Tại sao lại phải ban hành chính sách khoán kinh phí trong thực
hiện các đề tài, dự án
Xuất phát từ hai luồng tƣ tƣởng chƣa thống nhất giữa một bên là các nhà
quản lý tài chính và một bên là các nhà khoa học (ở đây muốn chỉ cụ thể là các
chủ nhiệm đề tài, dự án - họ đại diện cho đội ngũ các nhà khoa học cùng tham


23
1.2.3.1. Xác định vấn đề nghiên cứu các và nội dung công việc cần tiến
hành trong các đề tài, dự án
Đây là công việc rất quan trọng, thƣờng là phải đƣợc thực hiện bởi các
chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực hoặc các nhà khoa học có uy tín. Các
chủ nhiệm đề tài, dự án phải tiến hành mô tả các nội dung công việc mà mình
cần tiến hành trong thuyết minh đề cƣơng nghiên cứu. Phải làm rõ đƣợc vấn đề
nghiên cứu ở đây là gì, thuộc dạng nghiên cứu cơ bản, ứng dụng hay triển khai,
dự kiến các sản phẩm đạt đƣợc là gì. Dựa vào đó các chuyên gia (các thành viên
Hội đồng xét duyệt thuyết minh) sẽ đƣa ra các ý kiến tƣ vấn là sẽ quyết định thực
hiện hay không thực hiện và nội dung thực hiện bao gồm những gì để giúp các
nhà quản lý đi đến kết luận cuối cùng có đồng ý cho thực hiện các đề tài, dự án
đó không .
1.2.3.2. Xác định được tổng dự toán kinh phí cần thiết phục vụ cho cả quá
trình nghiên cứu
Để có thể tính đƣợc tổng dự toán một cách sát nhất cho các đề tài, dự án
đòi hỏi phải từ cả hai phía: phía chủ nhiệm các đề tài, dự án và từ phía cơ quan
quản lý.
Thông thƣờng, đối với các hoạt động sản xuất vật chất thì việc lập dự toán
cho toàn bộ các hạng mục công việc đƣợc dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật
đã đƣợc ban hành và giá đƣợc xác định tại thời điểm hiện tại (có thể do nhà nƣớc
quy định hoặc đƣợc định giá bởi thị trƣờng). Cơ sở của lập dự toán là phải dựa
vào các định mức có sẵn, bao gồm: định mức về công lao động, định mức về
nguyên vật liệu năng lƣợng,… Tuy nhiên, trong thực hiện các nhiệm vụ
KH&CN, hay cụ thể hơn là công tác nghiên cứu các đề tài, dự án lại có những
đặc thù riêng, không giống với các loại hoạt động sản xuất vật chất khác, vì vậy
không dễ dàng để có thể đƣa ra một dự toán kinh phí đƣợc sát với thực tế triển
khai. Hiện tại chƣa có văn bản nào của nhà nƣớc quy định chi tiết về thù lao cho


những nội dung nghiên cứu lớn, đòi hỏi tính liền mạch và đặt trong một chuyên

12
Nguyễn Thị Anh Thu, Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định mức
thù lao lao động khoa học trong nhiệm vụ KH&CN của nhà nước”, Hà Nội Tháng 5/2005
13
Nguyễn Thị Anh Thu: Sđd, tr.54

25
đề, nhƣng vì kinh phí ít, chủ nhiệm đề tài buộc phải chia cắt vấn đề thành hai, ba
chuyên đề. Hoặc trƣờng hợp có nội dung nghiên cứu đòi hỏi ngƣời nghiên cứu
có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, mức quy định
chi cho một chuyên đề không tƣơng xứng với công sức họ bỏ ra, gây khó khăn
cho chủ nhiệm đề tài khi mời chuyên gia nghiên cứu. Mặt khác những quy định
cứng nhắc về khung định mức chi, khoản mục chi đã gây khó khăn và ảnh hƣởng
đến tiến độ, chất lƣợng nghiên cƣú.
Từ 2007 đến nay, Thông tƣ này đã đƣợc thay thế bằng Thông tƣ
44/2007/TTLT/BTC-BKHCN ngày 07/5/2007 của liên Bộ Tài Chính-Bộ
KH&CN hƣớng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các
đề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nƣớc.
Theo nội dung của Thông tƣ 44 này, thì kinh phí chi cho các hoạt động
thực hiện các đề tài, dự án đƣợc cụ thể theo các hạng mục sau:
-Xây dựng thuyết minh chi tiết.
-Chuyên đề nghiên cứu (bao gồm chuyên đề loại 1 và loại 2).
-Báo cáo tổng thuật tài liệu; Lập mẫu phiếu điều tra; Cung cấp thông tin;
Báo cáo xử lý, phân tích số liệu điều tra; Báo cáo khoa học.
-Tƣ vấn đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở; Hội thảo khoa học.
-Thù lao trách nhiệm điều hành chung; Quản lý nhiệm vụ KH&CN.
Công nghiên cứu chủ yếu đƣợc tập trung vào các chuyên đề, hay việc chủ
nhiệm các đề tài, dự án phải xây dựng dƣới dạng các chuyên đề nghiên cứu để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status