ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ TUYẾT
ĐỔI MỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA
ĐẢNG, NHÀ NƢỚC TA HIỆN NAY 7
1.1. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam 7
1.1.1. Một số khái niệm 7
1.1.2. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
về tôn giáo 9
1.1.3. Tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay 12
1.2. Quan điểm chính sách đối với tôn giáo của Đảng và
Nhà nước Việt Nam hiện nay 17
1.2.1. Các văn kiện của Đảng và văn bản pháp quy
của Nhà nước về tôn giáo và chính sách tôn
giáo 18
1.2.2. Quan điểm chính sách đối với tôn giáo của
Đảng ta 19
1.2.3. Chính sách tôn giáo được thể chế hóa từ
phương diện Nhà nước 22
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC TA
HIỆN NAY 33
tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm
của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước 49
2.3.6. Chủ động phòng ngừa với những hành vi lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ,
phá hoại khối đoàn kết dân tộc 49
Chƣơng 3. XU HƢỚNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN
NGHỊ NHẰM ĐỔI MỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ĐỐI VỚI TÔN GIÁO 50
3.1. Xu hướng tôn giáo ở Việt Nam 50
3.1.1. Xu hướng phát triển và xáo trộn tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam 50
3.1.2. Xu hướng thế tục hóa và hiện đại hóa tôn giáo 50
3.1.3. Xu hướng vận động đa chiều của tôn giáo 55
3.1.4. Cùng với xu hướng “trở về nguồn” có cả xu
hướng phủ nhận tín ngưỡng truyền thống và
văn hóa dân tộc 55
3.1.5. Xu hướng lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc
vì mục đích chính trị - kinh tế 57
3.2. Kiến nghị nhằm đổi mới việc thực hiên chính sách đối
với tôn giáo 58
3.2.1. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Đảng 58
3.2.2. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Nhà
nước 64
3.2.3. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
của nhân dân 67
KẾT LUẬN 72
Trung cổ” và may mắn - tất yếu, sau đó đã xuất hiện các phong trào Phục
hưng Văn hóa Hy - La cổ đại và Khai sáng mà lực lượng khởi xướng là giai
cấp tư sản đang lên.
Ở thế giới đương đại, tôn giáo vẫn luôn chi phối mạnh mẽ tới cuộc
sống nhiều mặt của con người. Nó vừa là nhân tố liên kết con người thành
một khối vững chắc, song cũng có thể đẩy con người tới chỗ kì thị nhau, có
khi rất sâu sắc. Bởi vậy nhiều người cho rằng, tôn giáo là một hiện tượng xã
hội phức tạp và là vấn đề nhạy cảm nên đã thu hút được sự quan tâm đông
đảo, không chỉ của giới nghiên cứu khoa học, mà còn của giới quản lý, lãnh
đạo xã hội.
Khi nghiên cứu về tôn giáo, nhiều người đã giành quan tâm đặc biệt
đến mối quan hệ của nó với chính trị. Thành công từ phương diện nghiên cứu
này là rất đáng trân trọng, nhưng dẫu sao theo hướng này, vẫn để lại trong
nhận thức của xã hội một cái nhìn có phần nặng nề, mặc cảm đối với tôn giáo,
thậm chí không ít trường hợp đồng nhất tôn giáo với chính trị. Song cũng lại
2
có không ít người nghiên cứu về tôn giáo từ phương diện là một hiện tượng
xã hội đa giá trị. Từ phương diện nghiên cứu này, tôn giáo được biết đến như
là hiện tượng xã hội hiền lành, tốt đẹp, thúc đẩy người ta tìm tòi, phát huy
nhằm tạo điều kiện để nó đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển xã hội.
Nhưng, nghiên cứu tôn giáo dù ở phương diện nào thì vẫn có một điểm
khá chung được đặt ra là, xã hội hiện đại cần phải có chính sách đối với tôn
giáo. Điều này xuất phát từ yêu cầu của cả hai phía: tôn giáo và xã hội. Chính
sách tôn giáo trước hết được xem là một yếu tố cấu thành của hoạt động chính
trị, làm tiền đề và cơ sở cho hoạt động thực tiễn, và sẽ là tiến bộ, nếu nó được
xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, có cả tôn giáo nội sinh cũng như
ngoại nhập. Do có nhận thức đúng về vai trò của tôn giáo, Đảng ta luôn quan
trị; cùng với sự đồng tình, tự giác chấp hành của người dân có và không có
tôn giáo.
Vậy, nghiên cứu việc thực hiện chính sách tôn giáo, từ đó rút ra những
kiến nghị nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo hiện nay, là có ý
nghĩa cấp bách cả về lí luận và thực tiễn. Với lý do đó, em chọn đề tài: “Đổi
mới việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn
tốt nghiệp cao học, với mong muốn đáp ứng về tính cấp bách đó.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, trực tiếp
hoặc liên quan, về vấn đề chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, như:
“Chính sách đối với tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn giáo hiện nay - những
bài học kinh nghiệm và kiến nghị” của PGS. TS Nguyễn Đức Lữ (Chủ nhiệm
đề tài năm 2002); “Qúa trình hoàn thiện chủ trương, chính sách về tôn giáo
của Đảng và nhà nước ta trong 60 năm (1945- 2005) của PGS. TS Nguyễn
Đức Lữ, Tạp chí công tác Tôn giáo, số 3 tháng 11/2005; “Lý luận về tôn giáo
và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, GS. Đặng Nghiêm Vạn, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2001; “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - lý luận và thực
tiễn”, GS. TS Đỗ Quang Hưng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005; “Tư tưởng Hồ Chí
4
Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo”GS,TS Lê Hữu Nghĩa và PGS. TS
Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nxb Tôn giáo, 2003…
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, cũng có nhiều quan điểm
khác của các tác giả quan tâm tới vấn đề tôn giáo, chính sách và việc thực
hiện chính sách tôn giáo đã được đăng tải trên các tạp chí. Đó là: “Tôn giáo
và hiện thực - Một số vấn đề đặt ra hiện nay”, PGS.TS.Nguyễn Chí Mỳ, Tạp
chí Triết học, 6- 1988; “Từ chính sách của Đảng và Bác Hồ với tôn giáo, suy
nghĩ về vấn đề tôn giáo hiện nay” ;PGS. Phong Hiền, Tạp chí Triết học, số 4,
12- 1990; “Tôn giáo và đạo đức - nhìn từ mặt triết học”; GS.TS. Nguyễn Hữu
bộ. Vì vậy, theo hướng nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ kế thừa những giá trị
của các công trình trước đó trong việc hoàn thiện đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài, trên cơ sở nghiên cứu chính sách và tình hình thực hiện chính
sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đất nước đổi mới, từ
đó đề xuất kiến nghị mang tính giải pháp, trên cả phương diện lý luận và thực
tiễn, nhằm hoàn thiện quan điểm, chính sách tôn giáo cũng như đổi mới việc
thực hiện nó hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu nội dung bản chất của chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta, trọng tâm là thời kỳ đất nước tiến hành công cuộc đổi mới.
- Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tôn giáo trong những năm
gần đây, qua đó rút ra những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách tôn giáo và nâng cao
hiệu quả việc thực hiện chính sách tôn giáo hiện nay.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào phương diện công tác tôn giáo của hệ thống chính
trị trong việc hiện thực hóa chính sách, pháp luật đối với tôn giáo ở nước ta.
Thời gian nghiên cứu từ năm 1990 (khi có Nghị quyết 24 của Bộ chính trị: Về
tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình phát triển mới) đến nay.
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là những nguyên lý, quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng,
Nhà nước về tôn giáo, chính sách tôn giáo và việc giải quyết vấn đề tôn giáo.
- Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng những nguyên tắc
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, tín ngưỡng là lòng tin và sự
ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa.
Thông thường tín ngưỡng được hiểu theo các nghĩa:
Nghĩa rộng, để chỉ niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người về một lực
lượng, một chủ thuyết, nhưng thường được hiểu là tin vào lực lượng siêu
nhiên có khả năng chi phối, thậm chí quyết định cả số phận của con người,
theo đó họ luôn phải tôn thờ, sùng bái.
Nghĩa hẹp, tín ngưỡng là chỉ một niềm tin - yếu tố quan trọng bậc nhất
cấu thành của ý thức tôn giáo; hoặc là các hình thức khác với tôn giáo, như
người Việt thường gọi “tín ngưỡng dân gian”, hay “các hình thức tín ngưỡng”
(như: thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ mẫu, thờ các dạng thần như thần
bếp, thần thổ công…).
Vậy là, tín ngưỡng được hiểu ở các phạm vi rộng, hẹp khác nhau: tín
ngưỡng rộng hơn tôn giáo, tín ngưỡng đồng nghĩa với tôn giáo và tín ngưỡng
là một bộ phận cấu thành của tôn giáo. Song có một điểm chung ở đây là, tín
ngưỡng là những hình thức và hành vi biểu thị niềm tin của con người vào các
hiện tượng và sức mạnh siêu nhiên, nằm ngoài giới hạn khách quan trong sự
hiểu biết của con người, rằng con người có thể thông quan với thế giới siêu
nhiên đó, nhằm thỏa mẵn những nhu cầu và ước vọng trần thế của mình.
1.1.1.2. Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo (Religare), đó là sự nối liền với cái tột cùng, như sự gắn bó
với Chúa, với Thượng đế; là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với
8
thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng
với cái tục.
Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội,
vàng mã với những hình tượng quần áo, giày dép, tiền bạc, ngựa xe, nhà cửa,
v.v. làm bằng chất liệu giấy để gửi cho những người đã chết ở cõi khác sử
dụng… Tất cả những điều này nói chung được gọi là mê tín [47].
Các khái niệm trên đây, chúng tôi rút ra từ khá nhiều quan niệm của các
nhà tôn giáo học ở trong và ngoài nước, song vẫn không hy vọng đó đã là
nhận thức có sự thống nhất cao nhất. Trong giới nghiên cứu, nó cũng chỉ là
tương đối mà thôi, vì thế việc bổ sung, phát triển các khái niệm này vẫn luôn
được đặt ra hiện nay.
1.1.2. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo
Tôn giáo, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, trên cơ sở tồn tại
xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan, vì thế, so với các hình thái ý
thức xã hội khác, như chính trị, đạo đức, pháp quyền, nghệ thuật nó được
xem là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Còn với tính cách là một hiện
tượng xã hội (thực thể), tôn giáo là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng
xã hội, nên trong mối quan hệ với cơ sở hạ tầng, nó chỉ là yếu tố bị quyết
định, là tính thứ hai mà thôi. Tôn giáo thường được xem là một yếu tố mang
tính bảo thủ của thượng tầng kiến trúc, ngay cả khi tồn tại xã hội đã có những
thay đổi căn bản, bởi nó đã ăn sâu vào tình cảm, tư tưởng, trở thành thói quen,
tập quán, truyền thống của con người qua các thế hệ.
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và
xã hội lại trở thành “sức mạnh siêu nhiên”, có quyền uy tối thượng và vô hình
tác động đến một cộng đồng, một nhóm xã hội có tổ chức. Đấy chính là bản
chất của tôn giáo, bởi vì, "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo - vào đầu óc của con người ta - của những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế" [2, tr.437].
10
Như thế, nội dung phản ánh trong tôn giáo đã tách khỏi hiện thực, bồng
dân chủ. Vì thế, mọi sự biến đổi của tôn giáo bao giờ cũng gắn liền với sự
biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp.
Với ý nghĩa là nhu cầu của quần chúng nhân dân, tôn giáo còn tồn tại
lâu dài và sẽ chỉ mất đi khi những cơ sở vật chất và tinh thần để nó tồn tại
không còn nữa. Đó là, đời sống hiện thực xuất hiện những điều kiện cần và đủ
cho việc giải phóng hoàn toàn quần chúng nhân dân, tạo điều kiện cho mỗi
người, mỗi cộng đồng làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội. Về điều này,
Ph.Ăngghen chỉ ra trong tác phẩm Chống Đuyrinh đã khẳng định: “Khi nào
con người không chỉ mưu sự mà còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó, cái
sức mạnh xa lạ hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo, mới mất đi, và
cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi
đó sẽ không có gì để phản ánh nữa” [2, tr.439].
Chính vì thế trong giải quyết vấn đề tôn giáo, cần phải chú ý giải quyết
các nhu cầu của quần chúng nhân dân, phải căn cứ vào những điều kiện lịch
sử khách quan. Muốn vậy, phải tổ chức quần chúng nhân dân tham gia tích
cực, tự giác vào quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; đấu tranh có
hiệu quả đối với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực chính trị xấu xa đã
làm phương hại đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và đến
những lợi ích thiết thân khác của họ.
Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, tôn giáo có xu hướng
phát triển mạnh trong từng quốc gia và trên toàn thế giới, tình hình đó đòi hỏi
những người cộng sản nói chung và người cộng sản Việt Nam nói riêng, bên
cạnh việc nắm vững quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lênin thì cũng
biết vượt qua những tư tưởng đã không còn phù hợp với ngày nay, để từ thực
tiễn mà khái quát, bổ sung vào kho tàng lý luận mác - xít những quan điểm mới
về tôn giáo và công tác tôn giáo, thể hiện trực tiếp trong chính sách, pháp luật
đối với tôn giáo và trong công tác tôn giáo. Hơn nữa, cũng cần thấy rằng, trong
khi các nhà kinh điển trên lập trường duy vật - vô thần đấu tranh, từ phương
diện nhận thức, với chủ nghĩa duy tâm thần học, tôn giáo, thì trong khi phủ
Chứ, đến năm 2001 tăng lên 36.102 người. Tín đồ Công giáo ở Tây Nguyên
cũng tăng mạnh. Trước năm 1975 chỉ có gần 130.000 tín hữu mà năm 2005
13
đã lên tới hơn 300.000. Số liệu của giáo phận Kon Tum cho biết, tỷ lệ tăng
trưởng số tín hữu từ năm 1977-2001 là 17,6%, năm 1988 là 137,7%
Tình hình cụ thể của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay như sau:
1) Phật giáo: Vào Việt Nam từ những năm đầu Công Nguyên, khi dân
tộc ta đang bị người phương Bắc đô hộ. Đến nay, Giáo Hội Phật giáo có số
lượng chức sắc, nhà tu hành 46.495 vị; nơi thờ tự hơn 14.778 cơ sở và khoảng
trên 11 triệu phật tử - số quy y tam bảo. Còn số người chịu ảnh hưởng của
Phật giáo về đạo đức, văn hóa, lối sống có tới 70 - 80% dân số, có mặt ở hầu
hết các tỉnh, thành, trong đó tập trung đông ở: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định,
Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Thành Phố Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ,…
Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tôn chỉ, mục đích “Đạo pháp - Dân
tộc - Chủ nghĩa xã hội”, hiện có 4 Học viện Phật giáo; 1 trường Trung cấp -
Cao đẳng Phật học; 8 lớp cao đẳng; 32 trường trung cấp Phật học, đã đào tạo
đội ngũ tăng ni có trình độ, tăng cường đội ngũ trí thức chung cho xã hội, góp
phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh.
Trong mối quan hệ quốc tế, Phật giáo Việt Nam chủ yếu duy trì mối
quan hệ với Phật giáo trong khu vực, như với Phật giáo ở Cam - pu - chia,
Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan,… và quan hệ với một số tổ chức Phật
giáo thế giới, như tổ chức Phật giáo châu Á vì Hòa Bình - ABCP, tổ chức
Thân hữu Phật tử thế giới - WFB [48, tr.366].
2) Đạo Công giáo: Truyền vào Việt Nam từ năm 1933 và đến năm
1980 được công nhận Giáo hội trên toàn quốc. Giáo hội Công giáo Việt Nam
trực thuộc và chịu sự chỉ đạo của Vatican với tôn chỉ, đường hướng mục đích
“Sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Hiện
chiếm 2,76% dân số cả nước, trong đó có hơn 1 vạn chức sắc, 2 vạn chức
việc, 1.290 nơi thờ tự với 10 tổ chức, hệ phái có tư cách pháp nhân, hoạt động
tại 37 tỉnh, thành phố trong cả nước, nhưng chủ yếu ở các tỉnh phía Nam. Các
phái Cao đài hiện nay gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban chỉnh đạo, Cao
đài Tiên Thiên, Cao đài Minh chơn đạo, Truyền giáo Cao đài Đạo Cao đài
15
có mối quan hệ tôn giáo với khá đông đồng bào Việt Nam định cư ở nước
ngoài [48, tr.366].
5) Phật giáo Hoà Hảo: Hình thành ở Việt Nam năm 1939 và đến năm
1999 được công nhân tư cách pháp nhân với tôn chỉ, mục đích “Vì đạo pháp
vì dân tộc”. Hiện nay, Phật giáo Hào Hảo có khoảng 1,3 triệu tín đồ, 2829
chức sắc, 94 chùa, 50 hội quán, 399 tòa đọc giảng; hoạt động chủ yếu ở 22
tỉnh, thành phố, song tập trung đông nhất ở tỉnh An Giang. Phật giáo Hào Hảo
có mối quan hệ tôn giáo với khá đông đồng bào Việt Nam định cư ở nước
ngoài [48, tr.368].
6) Đạo Hồi: Du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ X, XI hiện có
68.000 tín đồ, chủ yếu là đồng bào Chăm, trong đó có khoảng 700 chức sắc
và chức việc; 79 cơ sở thờ tự bao, gồm 40 thánh đường, 22 tiểu thánh đường,
17 chùa, với 6 tổ chức hội giáo được đăng ký và công nhận; hoạt động tập
trung ở 10 tỉnh, thành phố trong cả nước, đông nhất ở Thành phố Hồ Chí
Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận và An Giang.
Hồi giáo khu vực Đông Nam Á, nhất là Hồi giáo Ma-lai-xi-a có mối
quan hệ rất khăng khít với Hồi giáo ở Việt Nam, là cội nguồn du nhập và
nâng đỡ, hỗ trợ Hồi giáo ở Việt Nam [48, tr.369].
7) Tịnh độ cƣ sĩ Phật hội Việt Nam: Hình thành ở Việt Nam năm
1934 và được công nhân năm 2007 với mục đích, tôn chỉ: “Tu học, hành
thiện, ích nước, lợi nhà”. Hiện nay, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có hơn
1.400 tín đồ, với 206 Hội quán, 359 hội viên và khoảng 4.800 chức sắc. Hoạt
1924 và đến năm 2008 được công nhận tư cách pháp nhân năm 2008 với mục
đích tôn chỉ là “Hoắng dườn chính pháp, phục vụ nhân sinh trên cương lĩnh từ
bi, giác ngộ và giải thoát”. Hiện nay, Đạo Minh Lý - Tam Tông miếu có 1.200
tín đồ, 4 cơ sở thờ tự, với 19 chức sắc và hoạt động ở 3 tỉnh, thành phố [48,
tr.371].
13) Đạo Bà La Môn: Vào Việt Nam thế kỷ II sau Công nguyên được
công nhận tư cách pháp nhân năm 2010, hiện có 38.000 tín đồ, chủ yếu là
đồng bào Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận [48, tr.371].
17
Nghiên cứu về đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam, các nhà tôn giáo học
thuộc Viện Nghiên cứu tôn giáo và Tín ngưỡng, thuộc Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã khái quát 6 đặc điểm như sau:
Một: Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau đang tồn tại.
Hai: Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam tồn tại trong sự đan xen, hoà
đồng và khoan dung.
Ba: Yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính
“nổi trội”.
Bốn: Thần thánh hóa những người có công với gia đình, làng xã và đất nước.
Năm: Tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động.
Sáu: Một số tôn giáo bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi
dụng vì mục đích chính trị.
Nhất trí với các đặc điểm trên, tác giả bổ sung thêm một đặc điểm nữa.
Đó là:
Bảy: Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi.
Các đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, ngoài ý nghĩa rất
đáng kể về phương diện tôn giáo học, thì còn có giá trị không nhỏ để vận
dụng vào công tác tôn giáo. Bởi nó luôn đòi hỏi người làm công tác tôn giáo
cường lãnh đạo công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Chỉ thị số 37-CT/TW
ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương (khóa VIII) ngày
16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Thông báo số 165-TB/TW của Bộ Chính trị ngày 4/9/1998
Chủ trương đối với Phật giáo Hoà Hảo trong tình hình mới. Thông báo số
184-TB/TW ngày 30/11/1998 về Chủ trương công tác đối với đạo Tin lành
trong tình hình mới và Thông báo số 225-TB/TW ngày 7/10/1999 của Bộ
Chính trị “Về chủ trương đối với đạo Tin Lành trong tình hình mới”. Đặc biệt
Nghị quyết số 25 Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương khoá IX, ngày
12/3/2003 “Về công tác tôn giáo”. Thông báo 160 TB/TW ngày 15/11/2004
19
“Ý kiến kết luận của Ban Bí thư tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Thông
báo số 184 và 255-TB/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về chủ trương công
tác đối với đạo Tin lành”. Kết luận số 57-KL/TW ngày 3/11/2009 của Bộ
Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạng đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác dân tộc.
về công tác tôn giáo và Kết luận số 58-KL/TW ngày 3/11/2009 của Bộ Chính
trị về tiếp tục thực hiện Thông báo 160-TB/TW, ngày 15-11-2004 của Ban Bí
thư Trung ương ương Đảng (khóa IX) về chủ trương công tác đối với đạo Tin
lành trong tình hình mới.
Còn Nhà nước có: Hiến pháp của Nước cộng hòa XHCN Việt Nam năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Nghị định số 69 - HĐBT, ngày 21-3-1991
quy định về các hoạt động tôn giáo; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19 -
4 - 1999 về các hoạt động tôn giáo; Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, số 21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 29 -6 -2004; Nghị
định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 1-3-2005, hướng dẫn thi hành một số điều của