TIỂU LUẬN tôn GIÁO và vấn đề THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH tôn GIÁO ở VIỆT NAM THEO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 40

TÔN GIÁO VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
I. XUNG QUANH VẤN ĐỀ TÔN GIÁO:
1. Tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo và mê tín dị đoan:
Tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo là những hiện tượng xã hội có tính phổ
biến, gắn liền với đời sống của con người và xã hội loài người từ hàng ngàn năm
nay.
* Tín ngưỡng:
Trong cuộc sống hằng ngày, con người ta ai cũng có niềm tin (croyance).
Nếu niềm tin được đặt vào cái siêu nhiên (le surnaturel) vượt ra khỏi thế giới tự
nhiên bình thường thì niềm tin ấy được gọi là “Tín ngưỡng”. Các tôn giáo gọi là
“đức tin” (la foi), tức là niềm tin vào cái thiêng liêng (le sacré), cái siêu việt (le
transcendantal).
Thông thường, thuật ngữ “tín ngưỡng” bao gồm cả tín ngưỡng tôn giáo và
tín ngưỡng dân gian:
Tín ngưỡng dân gian là niềm tin vào thần linh thông qua các lễ nghi mang
tính đơn giản, thường gắn liền với tập tục, thói quen truyền thống; nó là bộ phận
của văn hoá dân gian, phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và
cộng đồng.
Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những
nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định. Với nghĩa này, thì tín ngưỡng là gốc
của tôn giáo. Mỗi tôn giáo lại có tín ngưỡng riêng, tuy nhiên mọi tôn giáo đều đề
cập đến “thế giới bên kia” - một thế giới tâm linh mà các đấng giáo chủ đã từng
mạc khải (reveltion).


2

* Tâm linh:
Với thuật ngữ “Tâm linh”, thì giới khoa học ở các nước khác trên thế giới
ít sử dụng, nội hàm của thuật ngữ này hoàn toàn chưa rõ; tuy nhiên thuật ngữ này

Như vậy, hoạt động mê tín dị đoan là những hoạt động phản khoa học,
nhân danh tôn giáo nhưng không phải vì mục đích tôn giáo, gây tác hại nghiêm
trọng cho xã hội, cho nhân dân, như vậy bài trừ mê tín dị đoan cũng là một cách
bảo vệ cho tôn giáo thực sự được chân chính mà thôi.
2. Về tôn giáo:
* Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo:
- Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977 định nghĩa:
“Tôn giáo là sự công nhận một sức mạnh coi là thiêng liêng quyết định
một hệ thống ý nghĩ và tư tưởng của con người về số phận của mình trong và
sau cuộc đời hiện tại, do đó quyết định phần nào hệ thống đạo đức, đồng thời
thể hiện bằng những tập quán lễ nghi tỏ thái độ tin tưởng và tôn sùng sức mạnh
đó”.
- Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển và ngôn ngữ, Hà Nội, 1992
định nghĩa tôn giáo là:
“1. Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và
sùng bài những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự
nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ.
2. Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào
đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái đó”.


4

- Paden, William, Tiến sĩ, Giáo sư Đại học Vermont, viết:
“Tôn giáo là sự cam kết thiêng liêng với một cái gì đó được tin là một
thực tại thần linh. Trong mọi nền văn hóa, con người thực hành sự tương tác với
cái được coi là những lực lượng thần linh. Những lực lượng này có thể có hình
thức là thần thánh, linh hồn, tổ tiên, hay bất cứ một thực tại thiêng liêng mà con
người cho là có liên quan đến họ. Đôi khi lực lượng thần linh này được hiểu
một cách rộng rãi như là một thực tại bao trùm (Phiếm thần luận), đôi khi lực

vì chính bản thân chúng là thế giới quan lộn ngược.
Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó,
là lô gích của nó dưới hình thức phổ cập, là point d’honneur duy linh luận của
nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang
nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ.
Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng vì bản
chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo
là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.
Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực,
vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy.
Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới
không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh
thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Xóa bỏ tôn giáo, với tính cách là xóa bỏ hạnh phúc ảo tưởng của nhân
dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân.
Yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình cũng là yêu cầu từ
bỏ cái tình cảnh đang cần có ảo tưởng.


6

Do đó, việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán
cuộc sống khổ ải, mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó.
Sự phê phán đã vứt bỏ khỏi những xiềng xích các bông hoa giả trang điểm
cho chúng, không phải là để loài người cứ tiếp tục mang những xiềng xích ấy
dưói cái hình thức chẳng vui thích và thú vị gì, mà để loài người vứt bỏ chúng đi
và giơ tay hái lấy những bông hoa thật.
Việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để
con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình, với tư cách là
con người thoát khỏi ảo tưởng, trở nên có lý tính; để con người xoay quanh bản

thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Tôn giáo có 3 nguồn gốc tôn giáo sau:
+ Nguồn gốc kinh tế - xã hội:
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng sản xuất thấp
kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí
ẩn. Vì vậy, họ đã gián cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần
thánh hoá những sức mạnh đó.
Khi xã hội xuất hiện giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu đuối
trước sức mạnh của tự nhiện, con người lại cảm thấy bất lực trước sức mạnh tự
phát của xã hội. Không giải thích được nguồn gốc sự phân hoá giai cấp và xã
hội, của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi, con người lại ảo tưởng vào thế giới
sự bần cùng về kinh tế, áp lực về chính trị, nổi thất vọng, bất lực trước những
bất công xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo.
+ Nguồn gốc nhận thức:


8

Sự lúng túng, nảy sinh từ tình trạng hạn chế trong trình độ nhận thức của
con người, đã dẫn tới sự thừa nhận tồn tại của linh hồn sau khi thể xác chết đi.
Ở giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã
hội và bản thân mình là có giới hạn. Khoa học có nhiệm vụ khám phá những
điều chưa biết. Song khoảng cách giữa biết và chưa biết luôn luôn tồn tại. Điều
gì mà khoa học chưa giải thích được thì điều đó dễ bị tôn giáo thay thế.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm nhận thức
của con người. Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn thế
giới khách quan, khái quát hoá thành các khái niệm, quy luật. Nhưng càng khái
quát hoá, trừu tượng hoá, thì sự vật hiện tượng được con người nhận thức càng
có khả năng xa rời hiện thực và phản ánh sai lệch hiện thực. Sự nhận thức bị
tuyệt đối hoá, cường điệu hoá của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách

phân chia giai cấp, có sự khác nhau về lợi ích và các giai cấp bóc lột thống trị
lợi dụng tôn giáo phục vụ cho mục đích của mình.
Những cuộc chiến tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các cuộc
thập tự chinh thời trung cổ ở châu Âu hay xung đột tôn giáo ở bán đảo Ban
Căng, ở Pakixtan, Ấn Độ, Angiêri, Bắc Ai len, Bắc Capcaz (thuộc Nga)... đều
xuất phát từ những ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội, lợi dụng tôn
giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình.
Chỉ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tôn giáo mới độc lập với chính trị.
Nhà nước thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo mang tính tôn
giáo thuần tuý không gắn liền với chính trị. Chính sách tôn giáo của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa đã loại bỏ hoàn toàn tính chất chính trị của tôn giáo.


11

+ Tính chất phản khoa học: Tôn giáo phản ánh hư ảo thế giới thực tại
bằng các lực lượng siêu nhiên vào đầu óc con người, giải thích một cách duy
tâm, thần bí những thực tại xã hội mà con người đang gặp phải. Vì vậy, tôn
giáo mang tính chất duy tâm, phản khoa học.
Trong thời đại cách mạng công nghệ phát triển nhanh chóng hiện nay,
tôn giáo có sử dụng những thành tựu của khoa học để phát triển tôn giáo, đồng
thời vẫn tìm cách giải thích sai lệch những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, gieo vào
đầu óc con người những định mệnh không thể cưỡng lại... Tính chất phản khoa
học của tôn giáo đã kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội.
II. VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
1. Về tình hình tôn giáo:
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội và là một hiện tượng xã hội, ra đời và
phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh
hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức,
lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

- Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt hầu
hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tập trung đông nhất ở Hà Nội,
Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng,
Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ...
- Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong
đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải
Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình


13

Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, thành
phố Cần Thơ...
- Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An Giang.. .
- Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh
miền Tây Nam Bộ như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh
Long.
- Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng,
Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai,
Đắk Nông, Bình Phước... và một số tỉnh phía Bắc.
- Hồi Giáo: Hơn 60 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, TP Hồ
Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuận...
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số
nhóm tôn giáo địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo,
hoặc mới du nhập ở bên ngoài vào như: Tịnh độ cư sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ
Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin lành.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta

truyền vào dân tộc Chăm từ thế kỷ XVI. Cùng với thời gian, Hồi giáo đã góp
phần quan trọng trong việc hình thành tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập
quán, văn hóa của người Chăm.
- Toàn vùng Tây Nguyên hiện nay có 4 tôn giáo chính: Công giáo, Phật
giáo, Tin lành và Cao đài, với tổng số 1.582.617 tín đồ (chiếm 33,6% dân số),


15

trong đó có hơn 500.500 tín đồ là người dân tộc thiểu số. Tín đồ người dân tộc
thiểu số chủ yếu theo đạo Công giáo và Tin lành. Trong đó:
Công giáo: 704.202 tín đồ, trong đó tín đồ là người dân tộc thiểu số là
233.911 (chiếm 21,08%); Phật giáo 557.590 tín đồ, tín đồ người dân tộc thiểu số
là 13.083; Tin lành có 12 hệ phái với 301.149 tín đồ, trong đó có 282.799 tín đồ
là người dân tộc thiểu số (chiếm 93,53%); Cao đài có 5 hệ phái, với 19.676 tín
đồ (không có tín đồ người dân tộc thiểu số).
Hiện nay, toàn vùng có 283.611 tín đồ hệ phái Tin lành Việt Nam (miền
Nam), chiếm 91,94% tổng số tín đồ Tin lành toàn vùng, có 100.527 tín đồ chính
thức (đã bắp tem). Có 4 tỉnh, trừ Kon Tum công nhận 25 chi hội với 37.018 tín
đồ, chiếm 14,07% tổng số tín đồ Tin lành Việt Nam (miền Nam) và 12,93% số
tín đồ Tin lành của toàn vùng. Gia Lai có 38 chi hội với 69.355 người, đã công
nhận 11 chi hội với 15.946 người (chiếm 22,99%). Dak Lak tổng số tín đồ
105.486 người, đã công nhận 4 chi hội với 7.330 người (chiếm 0,7%). Tỉnh Dak
Nông tổng số tín đồ 27.051 người, đã công nhận 1 chi hội với 982 người (chiếm
3,63). Lâm Đồng tổng số tín đồ 60.529 người, đã công nhận 9 chi hội với 13.643
người (chiếm 22,54%).
Những năm qua, số lượng tín đồ tăng cao, trong đó, tín đồ người dân tộc
thiểu số tăng khá nhanh trong cộng đồng Công giáo và chiếm tỷ lệ tuyệt đối
trong cộng đồng đạo Tin lành. Một số điểm đáng lưu ý là người dân tộc thiểu số
bản địa chiếm 83% tổng số tín đồ người dân tộc thiểu số nói chung. Đây cũng là

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam


17

nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế
giới quan và phương pháp luận khoa học giúp Người đánh giá đúng thực tiễn
cách mạng Việt Nam nói chung, tình hình tôn giáo nói riêng. Tư tưởng này được
thể hiện tập trung ở quan điểm về chính sách tôn giáo - Một vấn đề rất quan
trọng trong việc chuyển hoá quan điểm, đường lối của Đảng vào thực tiễn cuộc
sống. Chính sách tôn giáo phù hợp có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu
quả công tác tôn giáo.
Xuất phát từ nhận thức rõ đặc điểm văn hoá Việt Nam
Chính sách tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở
nhận thức rõ đặc điểm văn hoá Việt Nam. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa
tôn giáo, các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có lịch sử hình thành, phát triển và
có đặc điểm riêng, với xu hướng hoà đồng, tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau.
Ở Việt Nam không có xung đột, chiến tranh tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên
hệ giá trị truyền thống vô cùng quý báu, trong đó yêu nước là giá trị hàng đầu.
Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu
nước, Trần Nhân Tôn vừa là ông vua yêu nước có công lãnh đạo quân dân ta hai
lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu của thiền phái Trúc
Lâm. Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
trong suốt cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước. Kế thừa truyền thống ấy, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có
gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau. Một người dù theo tôn giáo
nào thì trước hết người đó phải là công dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nước.


19

pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, như mọi tổ chức khác của nhân
dân”. Trên cơ sở nguyên tắc ấy, các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các tôn
giáo, quan hệ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa tôn giáo với chính
quyền… đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xử lý thành công đến mức hoàn hảo.
Người phân định rạch ròi thái độ, cách thức ứng xử theo các mức độ khác nhau,
như đối với chủ nghĩa thực dân và các thế lực tôn giáo phản động cấu kết với
nhau, đó là đấu tranh chống kẻ địch; còn đối với đồng bào tôn giáo làm sai chính
sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước là đấu tranh trong nội bộ nhân dân. Một điển
hình về xử lý những xung đột, mâu thuẫn, rắc rối xảy ra sau Cách mạng tháng
Tám của Người là đối với bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng một số sai sót
của chính quyền Cách mạng ở một vài nơi nhằm kích động một bộ phận trong
đồng bào chưa giác ngộ ở các vùng công giáo Bùi Chu, Phát Diệm. Vụ việc liên
quan đến tôn giáo phức tạp đến mức khiêu khích giết cố đạo, thủ tiêu cán bộ Việt
Minh, lôi kéo tín đồ hành lễ liên miên, bỏ cả sản xuất… Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã theo dõi tình hình một cách thường xuyên và chỉ đạo giải quyết rất kịp thời.
Phương pháp của Người là kiên trì, nhẫn nại, chân tình. Nếu đã hết sức kiên trì
mà không đạt kết quả thì Người rất kiên quyết, rất nghiêm khắc: “Trong hiến
pháp nước ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm Hiến pháp và
khiêu khích bà con Công giáo sẽ bị xử lý”. Như vậy phương pháp giải quyết vấn
đề tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để giải toả hiểu lầm, tăng cường đoàn
kết nhân dân. Muốn vậy phải tỉnh táo phân biệt rõ bạn, thù để có cách ứng xử
phù hợp.
Đoàn kết tôn giáo thực hiện sự nghiệp cách mạng


20


của một bộ phận quần chúng lao động mong chờ sự giải thoát khỏi áp bức, bất
công, nghèo khổ, từ đó cổ vũ họ tham gia kháng chiến, kiến quốc. Đối với các
chức sắc tôn giáo, Người luôn động viên, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi,
gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngay cả những giám mục bị
bọn đế quốc phản động lợi dụng như giám mục Lê Hữu Từ, Người cũng có thái
độ ứng xử rất mềm dẻo, chân tình: Nhận là bạn, mời làm cố vấn của Chính phủ
và lựa lời khuyên giải. Trong buổi nói chuyện với các linh mục đầu năm 1946,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng uy tín của linh mục Lê Hữu Từ để thuyết phục:
“Trước đây tôi đã gặp Đức cha Từ. Nay tôi về đây với tấm lòng sốt sắng và thân
mật vì Đức cha Từ là người bạn thân mật của tôi. Ngài là một vị lãnh đạo sáng
suốt của đồng bào Công giáo. Công giáo hay không Công giáo đều phải nỗ lực
đấu tranh cho nền độc lập dân tộc của nước nhà. Nhiệm vụ của toàn thể chúng
ta là phải giữ gìn nền độc lập. Thay mặt Chính phủ cảm ơn Đức cha Từ và các
ngài đã tỏ lòng trung thành với chính phủ”.
Như vậy, với sự sắc sảo về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh cái
chung, cái tương đồng của các tôn giáo để thực hiện đoàn kết tôn giáo, các lực
lượng tôn giáo vào sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc. Điều này được Người
xác định rõ trong thư gửi tướng Trần Tu Hoà: “Việt Nam độc lập đồng minh
không phải là một Đảng mà là một mặt trận toàn dân, bao gồm các đảng phái
(đảng Dân chủ, phái Xã hội), các phần tử Quốc dân đảng, Đảng cộng sản (đã tự
động giải tán) và các đoàn thể yêu nước không đảng phái như Hội Thanh niên
cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Cơ đốc giáo cứu quốc…”.
Nội dung tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính
chất toàn diện, điều đó được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hoá, xã


22

hội. Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào Lương và các đồng bào
tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”.

Người không chỉ đánh giá cao giá trị của văn hoá tôn giáo, mà còn trực tiếp quan
tâm tới sinh hoạt tôn giáo. Người đã nhiều lần đến các chùa chiền, nhà thờ với
tấm lòng thành kính dự các lễ nghi tôn giáo như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh…
Như vậy, thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng chủ
nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt
Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn hoá và
đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam
thực hiện tư tưởng của Người về chính sách tôn giáo, đã và đang sống theo
phương châm: “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “tốt đời đẹp đạo”, “đạo pháp
dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
3. Về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta:
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên
quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp
dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ thống
chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi mới thành lập
Đảng.


25

Trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề thành lập Hội phản đế
Đồng Minh ngày 18/11/1930, Đảng đã có tuyên bố đầu tiên về chính sách tôn
trọng tự do tín ngưỡng của quần chúng: "... phải lãnh đạo từng tập thể sinh họat
hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách mạng, để dần dần cách
mạng hóa quần chúng và lại đảm bảo tự do tín ngưỡng của quần chúng...".
Chính sách này cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra ngay trong phiên họp đầu
tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 3/9/1945"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status