ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THU HÀ
CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phan Thanh Khôi
2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
CTQG: Chính trị quốc gia
DN: Doanh nghiệp
GCCN: Giai cấp công nhân
Nxb: Nhà xuất bản
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề vững chắc để đất nước chuyển sang
một giai đoạn phát triển mới. Trong bước phát triển mạnh mẽ đó, GCCN Việt
Nam đóng góp một phần rất quan trọng và là một trong những nhân tố quyết
định sự thành bại của công cuộc CNH, HĐH đất nước. Là lực lượng trung
tâm của tiến trình CNH, HĐH, GCCN Việt Nam đang nắm giữ những cơ sở
vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất, quyết định phương hướng
phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Mặc dù, về số lượng, GCCN Việt Nam
chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số dân cư, nhưng lại là lực lượng lao động
đóng góp nhiều nhất vào ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy, trong Nghị quyết
số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục xây dựng GCCN Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Đảng ta đã nhận định: “Sự lớn
mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công
của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Theo đó
“xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng
cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”… là một
trong những nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước và GCCN trong thời
gian tới.
Cùng với quá trình thực hiện nhất quán đường lối phát triển kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đẩy
mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, GCCN nước ta đang có những
biến đổi rất sâu sắc trên tất cả các phương diện mà trước hết là về cơ cấu
GCCN. Cụ thể:
5
Sự thay đổi số lượng công nhân ở khu vực kinh tế nhà nước và khu vực
kinh tế ngoài nhà nước đã kéo theo sự thay đổi quan trọng rất đáng chú ý,
không chỉ là sự thay đổi tính chất các loại hình sở hữu, mà còn dẫn đến sự
thay đổi cả tỷ lệ trong số lượng công nhân, trình độ công nhân và thành phần
GCCN, hay có thể nói là dẫn đến sự phân tầng trong nội bộ GCCN. Sự phân
tầng này biểu hiện trên tất cả các mặt từ trình độ học vấn, trình độ nghề
nghiệp, mức thu nhập đến quyền sở hữu tài sản.
lợi ích này sẽ đẻ ra không ít nguy cơ về tư tưởng, về nhận thức và cả về ý thức
tổ chức, làm giảm sức mạnh đoàn kết của GCCN, ảnh hưởng tới quá trình
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp này.
Vì thế, nhiệm vụ phát triển về số lượng và chất lượng của GCCN Việt
Nam đang khách quan đặt ra vấn đề hoàn thiện cơ cấu của giai cấp này. Theo
đó, khảo sát về thực trạng cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay, tìm hiểu những
vấn đề đang đặt ra trong cơ cấu GCCN, từ đó đưa ra chiến lược nhằm phát
triển GCCN đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
là việc làm cần thiết.
Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Cơ cấu giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về GCCN Việt Nam là một vấn đề lớn, được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm từ rất nhiều năm nay. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về
GCCN Việt Nam từ các góc độ khác nhau và đã được công bố. Có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu sau:
Lê Huy Phan (1972), Về vị trí, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội.
7
Nội dung tác phẩm bàn về những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin về sứ mệnh lịch sử của GCCN trong thời kỳ xây dựng CNXH.
Bùi Đình Bôn (1991), Giai cấp công nhân Việt Nam - vai trò và xu
hướng biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận
án Phó tiến sĩ Triết học. Luận án phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa cơ cấu
thành phần kinh tế với cơ cấu GCCN Việt Nam; những nhân tố chủ quan và
khách quan chủ yếu quy định sự biến đổi cơ cấu GCCN và vai trò của GCCN
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ đó đưa ra những mục tiêu,
phương hướng xây dựng GCCN Việt Nam vững mạnh.
Bùi Đình Bôn (1997), Giai cấp công nhân Việt Nam, mấy vấn đề lý
Hà Nội. Đây là cuốn sách tập hợp các bài tham luận của các nhà nghiên cứu
về vấn đề công nhân, công đoàn Việt Nam với vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Trong cuốn sách cũng có một số bài tham luận đề cập đến thực
trạng cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay và những giải pháp xây dựng GCCN
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
GS.TS. Dương Xuân Ngọc (2008), Giai cấp công nhân Việt Nam trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội.
Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến GCCN và những nhân tố tác động đến quá
trình biến đổi GCCN Việt Nam; thực trạng và xu hướng biến đổi của GCCN
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; quan điểm, mục tiêu, phương hướng,
nhiệm vụ, giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trở thành lực lượng đi đầu
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
PGS.TS. Nguyễn An Ninh (2008), Về xu hướng công nhân hóa ở nước
ta, Nxb CTQG, Hà Nội. Đây là cuốn sách bàn về quá trình xây dựng và phát
triển GCCN nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhiều vấn đề liên quan tới quá
trình phát triển của GCCN đã được đề cập, trong đó có việc hoàn thiện cơ cấu
9
GCCN đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
TS. Nguyễn Văn Giang (chủ biên), (2009), Đảng lãnh đạo xây dựng
giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách
tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng GCCN hiện nay. Phân tích thực
trạng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với GCCN trên cơ sở khảo sát một số địa
bàn, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu để tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng GCCN Việt Nam hiện nay.
TS. Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), (2010), Xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Nxb Lao động, Hà Nội. Nội dung của cuốn
sách góp phần làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng trong vấn đề xây dựng
GCCN; đưa ra hệ thống giải pháp cho việc xây dựng GCCN trong thập niên
tới; cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, xác định nội
3.2. Nhiệm vụ
- Luận văn có nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề lý luận về: GCCN Việt
Nam, cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp và cơ cấu GCCN.
- Chỉ ra những nhân tố tác động đến sự biến đổi cơ cấu GCCN Việt
Nam và những vấn đề đang đặt ra ở lĩnh vực này.
- Phân tích thực trạng cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng cơ cấu GCCN Việt
Nam hài hòa, hợp lý đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ cấu GCCN ở Việt Nam, nhất
là thực trạng và giải pháp tác động để xây dựng cơ cấu GCCN trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
11
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát thực trạng cơ cấu GCCN Việt Nam qua bốn dấu hiệu
cơ bản: cơ cấu thành phần kinh tế; cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế; cơ cấu
trình độ học vấn, trình độ tay nghề và các cơ cấu liên quan đến quan hệ lao
động trong GCCN trên phạm vi cả nước, từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH (năm 1996) đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, để đạt
được mục đích nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp
phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, phân tích, dự báo tình hình…
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thực trạng cơ cấu GCCN ở nước ta hiện nay. Từ đó
cung cấp một số luận cứ khoa học xây dựng cơ cấu GCCN Việt Nam đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
đó, cơ cấu xã hội - giai cấp là bộ phận cơ bản và quan trọng nhất. Cơ cấu xã
hội - giai cấp là hệ thống các giai cấp, tầng lớp xã hội và các mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp là chỉ
ra được đầy đủ những giai cấp và tầng lớp tồn tại khách quan trong lịch sử xã
13
hội, xác định rõ vị trí của các giai cấp và tầng lớp này (cơ bản hay không cơ
bản, thống trị hay bị trị, quan hệ bình đẳng hay không bình đẳng…), chỉ ra xu
hướng phát triển của các giai cấp và tầng lớp ấy… Cơ cấu xã hội - giai cấp là
bộ phận cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu xã hội vì nó là cái phản ánh
trực tiếp những mối quan hệ kinh tế và thể hiện ra trên bề mặt xã hội là vị thế
các giai cấp trong một chế độ xã hội cụ thể. Theo đó, cơ cấu này liên quan
đến các vấn đề như: đảng phái chính trị và nhà nước; sở hữu tư liệu sản xuất,
địa vị xã hội của con người trong quan hệ sản xuất, tổ chức lao động và phân
phối lợi ích xã hội. Cơ cấu xã hội - giai cấp quyết định đến bản chất và xu
hướng vận động của các loại hình cơ cấu xã hội khác là vì như vậy. Nó là yếu
tố đặc trưng cho sự khác nhau về chất giữa cơ cấu xã hội của xã hội này với
cơ cấu xã hội của xã hội khác.
Ở Việt Nam hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành
phần, nhiều hình thức sở hữu, nên cơ cấu xã hội - giai cấp tồn tại trong trạng
thái rất đa dạng, phức tạp và không ngừng biến đổi. Cơ cấu xã hội - giai cấp ở
Việt Nam hiện nay bao gồm: GCCN, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức,
người sản xuất nhỏ, tầng lớp doanh nhân Trong đó, GCCN giữ vai trò lãnh
đạo, quyết định xu hướng phát triển của cơ cấu xã hội. Vì vậy, nghiên cứu cơ
cấu GCCN có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam hiện nay.
1.1.1.2. Giai cấp công nhân Việt Nam, cơ cấu giai cấp công nhân
Để có thể hiểu một cách đầy đủ nhất về khái niệm GCCN Việt Nam
trước hết cần hiểu rõ khái niệm GCCN theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Khái niệm giai cấp công nhân
15
thủ công thời trung cổ hay người thợ trong các công trường thủ công. Trong
công trường thủ công và trong nghề thủ công, người lao động sử dụng công
cụ của mình, còn trong công xưởng người công nhân phải phục tùng máy
móc. Theo C.Mác và Ph.Ănghen, GCCN là sản phẩm, là “con đẻ” của nền đại
công nghiệp: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát
triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp” [9, tr.610]. Là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên
GCCN là hiện thân của lực lượng sản hiện đại, đại biểu cho phương thức sản
xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay. Điều này cũng mang đến cho GCCN
những phẩm chất riêng có. Đó là: tính tiên tiến, hiện đại; tinh thần cách mạng
triệt để; ý thức tổ chức kỷ luật cao; tác phong công nghiệp; tinh thần quốc tế…
Thứ hai, về vị trí của GCCN trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, GCCN là giai cấp không có tư liệu
sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc
lột giá trị thặng dư. C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh tiêu chí này, vì
chính nó đã khiến cho GCCN trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản
về lợi ích cơ bản. “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô
sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện
là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm
tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải bán
mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem
bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi
của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường” [9, tr.605].
Căn cứ vào hai tiêu chí trên Ph.Ănghen đã đưa ra định nghĩa về GCCN
trong tác phẩm Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản: “Giai cấp
vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao
động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào,
16
đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống
trong GCCN: công nhân “cổ trắng” và công nhân “cổ vàng” (những người
chuyên nghiên cứu; sáng chế; áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; cán bộ
quản lý…). Họ hoạt động trong các ngành công nghệ cao.
Tuy nhiên, trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất của GCCN
trong CNTB với tính cách là giai cấp làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt
động sản xuất công nghiệp. Trước kia, công nhân bán sức lao động chân tay
là chủ yếu thì nay họ bán cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí
một số chủ yếu là bán sức lao động với kỹ thật rất cao, có giá trị ngày càng
lớn và do đó càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu.
Mặc dù, có những thay đổi to lớn trong thành phần, cơ cấu ngành nghề
và trình độ lao động, song những thay đổi đó vẫn không làm mất đi những đặc
điểm căn bản của GCCN - những người mà lao động của họ gắn liền với
phương thức sản xuất công nghiệp. Trình độ tri thức không làm thay đổi bản
chất của vấn đề trong xã hội tư bản: giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê
cho giai cấp tư sản và đang bị bóc lột ngày càng nặng nề hơn. Và chúng ta
vẫn có thể coi những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp,
dịch vụ công nghiệp là công nhân.
Từ sự phân tích trên, tác giả thống nhất với định nghĩa về GCCN của
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa
học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa ra trong Giáo trình Chủ
nghĩa xã hội khoa học: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định,
hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp
hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa
ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp
18
tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo
các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp
công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất
phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết đã đưa ra quan niệm về
GCCN Việt Nam; xác định nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay; khái quát tình hình GCCN Việt Nam trong những
năm đổi mới và đưa ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
xây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đây
chính là cơ sở, là căn cứ cho mọi nghiên cứu về GCCN Việt Nam hiện nay và
trong những năm tiếp theo.
Trong Nghị quyết, Đảng ta quan niệm GCCN “là một lực lượng xã hội
to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc,
làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có
tính chất công nghiệp”. Quan niệm này cho thấy, GCCN Việt Nam hiện nay
bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ công nghiệp có thu nhập chủ yếu bằng tiền
lương, tiền công. Họ có mặt trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần; lao động
trực tiếp trong các nông, lâm trường; làm việc trong ngành dịch vụ: bưu
chính, viễn thông, ngân hàng… Đối với những người làm việc theo thời vụ,
theo hợp đồng ngắn hạn, cuộc sống chưa gắn bó với công việc tại các cơ sở
công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, tác phong công nghiệp còn hạn chế, ý
thức chính trị chưa rõ ràng thì chưa thể gọi là công nhân. Đối với đội ngũ trí
20
thức, hiện nay một bộ phận trí thức có thể xếp vào hàng ngũ công nhân, song
không phải tất cả trí thức đều thuộc GCCN mà chỉ những trí thức trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp hoặc phục vụ quá trình sản xuất
công nghiệp mới được gọi là công nhân: công nhân trí thức. Họ là một bộ
phận quan trọng của GCCN Việt Nam trong quá trình thực hiện CNH, HĐH
đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Với chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức, trong thời gian tới, bộ phận công nhân này sẽ
xuất hiện ngày càng nhiều và chất lượng sẽ ngày càng tăng.
Tuy nhiên, quan niệm về GCCN nêu trên chưa chỉ ra được vị trí của
lượng công nhân giữa các thành phần kinh tế trên cơ sở đảm bảo công nhân
trong khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng, chủ đạo trong phát triển
kinh tế - xã hội. Gia tăng số lượng công nhân hoạt động trong các ngành dịch
vụ, công nghệ cao, đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước, đưa kinh tế Việt Nam tiến vào nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đó là sự
hài hòa, hợp lý trong cơ cấu chất lượng của GCCN được thể hiện ở sự gia
tăng đồng đều và ngày càng nhiều bộ phận công nhân có trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ thuật cao, đáp ứng tốt yêu cầu của công việc. Từng bước xây
dựng đội ngũ công nhân trí thức có khả năng ứng dụng những thành tựu khoa
học - công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất và có khả năng sáng tạo ra
những công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động, đưa kinh tế Việt Nam
tiến kịp các nền kinh tế tiến bộ trên thế giới.
Cơ cấu GCCN là một phạm trù rộng, được xem xét dưới nhiều tiêu chí
khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về cơ
cấu số lượng công nhân giữa các thành phần kinh tế, các ngành và lĩnh vực
kinh tế; cơ cấu chất lượng của GCCN thông qua những biểu hiện về trình độ
22
học vấn, trình độ tay nghề, vấn đề việc làm, tiền lương và thu nhập.
1.1.2. Các yếu tố tác động đến sự biến đổi cơ cấu giai cấp công
nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc
Sự biến đổi cơ cấu GCCN Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH chịu sự tác động bởi rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Đề tài
này sẽ tập trung làm rõ 4 nhân tố mà theo tác giả là có tác động trực tiếp và
quan trọng nhất đến sự biến đổi cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay.
1.1.2.1. Xu thế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa (globalization) thực chất là tên gọi khác của khái niệm
“quốc tế hóa” được dự báo từ khi CNTB ra đời (thế kỷ XVI) và được sử dụng
rộng rãi từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây. Cách đây hơn 160
năm, trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen
Toàn cầu hóa sẽ làm cho hoạt động và đời sống của con người kém an toàn cả
về kinh tế, chính trị, an ninh, xã hội… Xu thế này cũng sẽ có phần thu hẹp
quyền lực, phạm vi, hiệu quả tác động của các nhà nước, dân tộc; đồng thời
nó cũng đặt các nước đang phát triển trước những thách thức, mà nếu vượt
qua được thì có cơ may phát triển, ngược lại, nếu thất bại thì hậu quả khôn
lường. Thêm vào đó, toàn cầu hóa còn tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc văn
hóa dân tộc, đánh mất tự chủ quốc gia, tạo khả năng quốc tế hóa những hiện
tượng tiêu cực của đời sống xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa về cơ bản mang tính chất tư bản
chủ nghĩa. Bên cạnh những tác động tích cực, toàn cầu hóa cũng kéo theo
nhiều tiêu cực, tạo nên nhiều thách thức, đặc biệt với các quốc gia đang phát
triển. Song, nếu không muốn bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các nước
24
phải chủ động mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực với những lộ trình, bước
đi, mục tiêu sát hợp, có chính sách khôn ngoan nhằm tranh thủ những tác
động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa.
Nhận thức rõ thực tế đó, ngay từ tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001),
Đảng ta đã khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh
quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường” [22, tr.120].
Việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực sẽ mở ra khả năng to lớn
cho sự phát triển của đất nước. Song, Đảng ta cũng đã xác định, toàn cầu hóa
sẽ đặt cách mạng Việt Nam trước những thách thức không thể xem thường.
Điều này có nghĩa là: mở cửa, hội nhập, cách mạng nước ta sẽ chịu ảnh hưởng
hai mặt của toàn cầu hóa, trong đó sự phát triển và biến đổi của GCCN không
nằm ngoài quá trình này.
Toàn cầu hóa tạo sẽ tạo cơ hội, để nước ta thu hút ngày càng nhiều dự
án đầu tư của nước ngoài trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội; thương mại nước
ta sẽ có điều kiện mở rộng thị trường. Đây sẽ là cơ hội để GCCN Việt Nam