Thực hiện dân chủ ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
___O0O___ VŨ QUỲNH LÊ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN TỈNH
VĨNH PHÚC HIỆN NAY Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS MẪN VĂN MAI Hà Nội – 2010

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở

nông thôn mới văn minh giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân,
giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
57
2.1. 2 Thực hiện dân chủ ở nông thôn Vĩnh Phúc hiện nay phải tiến hành toàn diện,
đồng bộ, tổng hợp các nội dung, phương thức, sử dụng nhiều biện pháp………………
59
2.1.3 Phát huy trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, của cả hệ thống chính trị,
trong đó trọng tâm là vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân
dân ở cơ sở ……………… ……………………………………………………………
59
2.1.4 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện dân chủ ở nông thôn tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay………………………………
60
2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt dân chủ ở nông thôn tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay………………… ………………… ………………………
61
2.2.1 Nâng cao trình độ nhận thức, năng lực thực hành dân chủ cho cán bộ đảng viên và
nhân dân ở nông thôn………………… ………………… ……………………………
61
2.2.2 Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn thật sự trong sạch vững
mạnh và có mối quan hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân
66
2.2.3 Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở nông
thôn (18/2/1998) và Pháp lệnh dân chủ ở nông thôn (20/4/2007)………………………
77
2.2.4 Đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, của

Ủy ban nhân dân
UBND
Hệ thống chính trị
HTCT
Công nghiệp hóa
CNH
Hiện đại hóa
HĐH

PDF Merger
Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF
Merger! To remove this page, please
register your program!
Go to Purchase Now>>
 Merge multiple PDF files into one
 Select page range of PDF to merge
 Select specific page(s) to merge
 Extract page(s) from different PDF
files and merge into one
AnyBizSoft
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ vốn là nhu cầu khách quan, là khát vọng giải phóng, hướng tới tự do và làm
chủ của con người, là một giá trị cao đẹp của nhân loại từ bao đời nay. Lịch sử phát triển của
dân chủ là lịch sử đấu tranh cho quyền sống, quyền mưu cầu tự do và hạnh phúc của con
người, từng bước xây dựng một nền dân chủ theo lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con
người, đưa con người từ nô lệ lên làm chủ, từ thụ động đến sáng tạo. Dân chủ hoá đang là vấn
đề có tính chất “toàn cầu” trong thế giới đương đại. Ở Việt Nam hiện nay, dân chủ XHCN là
bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Quá trình

được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện
dân chủ ở thôn nước ta cũng còn một số yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục. Biểu hiện là
trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi, dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm
nghiêm trọng; trình độ ý thức, năng lực thực hành dân chủ của nhân dân ta cũng như cán bộ
các cấp còn nhiều yếu kém; hệ thống luật pháp, thiết chế, thể chế dân chủ chưa hoàn thiện với
nhiều mức độ khác nhau. Tỉnh Vĩnh Phúc, một tỉnh mới được tái thành lập từ năm 1997, tính
đến năm 2010 tỉnh có tới 137 xã, phường, thị trấn, đa số dân cư sống ở nông thôn, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm phía bắc thành phố Hà Nội, đang diễn ra những biến đổi to lớn về
kinh tế, xã hội trong quá trình CNH, HĐH, việc thực hiện dân chủ cũng không nằm ngoài
thực trạng đó.
Thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
đặc biệt là dân chủ ở cấp xã đang là một vấn đề bức xúc trong quá trình phát triển của đất
nước hiện nay. Vì thế, việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tìm ra những giải pháp
phù hợp nhằm phát huy ưu điểm, ra sức khắc phục những thiếu sót trong quá trình xây dựng
và thực thi dân chủ trong cuộc sống là một việc làm cấp bách và thường xuyên. Với ý nghĩa
đó và phù hợp với phạm vi của luận văn thạc sĩ, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện dân chủ ở
nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” để nghiên cứu.
2 - Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Cho đến nay, dân chủ vẫn là một vấn đề nằm ở trung tâm cuộc đấu tranh tư tưởng lý
luận trên thế giới. Dân chủ vẫn là vấn đề luôn có tính thời sự bức xúc trong cuộc đấu tranh
của quần chúng nhân dân lao động ở các quốc gia, dân tộc, hướng tới phát triển và tiến bộ xã
hội.
Ở Việt Nam, dân chủ và dân chủ hoá đã trở thành một trong những nội dung cơ bản
được đề cập trong các văn kiện của Đảng và nhà nước, đặc biệt thể hiện rõ trong từng thời kỳ
đổi mới.
Những thành tựu nghiên cứu lý luận về dân chủ được thể hiện ở những công trình của
nhiều tác giả và tập thể tác giả. Các công trình này đã tập trung vào việc khẳng định những
giá trị nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ
xã hội chủ nghĩa. Qua đó:
* Chỉ rõ sự khác nhau về bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa,

Luận án Tiến sĩ Chính trị học, 2007, tác giả Nguyễn Thị Tâm;…
+ “Dân chủ và tập trung dân chủ - Lý luận và thực tiễn”, Nxb Khoa học xã hội, H,
2001, tác giả Nguyễn Tiến Phồn; …
+ “Dân chủ trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam”, Tập chí Thông tin lý luận số 7/1989,
tác giả Hoàng Chí Bảo; “Dân chủ hoá nông thôn vi sự phát triển bền vững”, Tạp chí Khoa
học và Tổ quốc, số 9, 2005, Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn,…
* Bổ sung những nhận thức mới và đề xuất những cách làm mới để xây dựng và thực
hiện dân chủ phù hợp với đặc điểm lịch sử, truyền thống của dân tộc, đặc điểm của thời kỳ
quá độ cũng như đặc thù của từng cấp độ, vùng miền, nhóm dân cư…ở nước ta. Điều này
được thể hiện ở các công trình sau đây:
+ Trong chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước giai đoạn 1991-1995 mang mã số
KX.05 về “ Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta” có đề tài: “Đặc
điểm nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị”, mã số
KX.05.06; (do PGS, Vũ Hữu Ngoạn chủ nhiệm đề tài)
+ “ Nâng cao trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Phó tiến sĩ khoa học triết học, 1994,
tác giả Mẫn Văn Mai; “Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật cho nông
dân Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án Tiến sĩ triết học, 2002, tác giả Nguyễn Văn Long;
“Vấn đề dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở nông thôn Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện
nay” (Qua khảo sát vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long), Luận án Tiến sĩ triết học,
1999, Đào Bá Phương…
+ “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb
CTQG, HN, 2000, tác giả Dương Xuân Ngọc chủ biên; “Dân chủ và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở”, Nxb CTQG, HN, 2003, TS Lương Gia Ban chủ biên, “Dân chủ ở xã từ góc
nhìn pháp lý”, Nxb Công an nhân dân, 2004, tác giả Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn …
+ ”Dân chủ một đề tài thời đại”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 9, 1998, tác giả Đỗ Tư;
“Để thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 2, 1999, tác giả Trần Quang
Nhiếp; “Dân chủ cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ”, Tạp chí Quản lý nhà
nước, số 1, 1999, tác giả Lê Minh Châu;…
* Đặc biệt ba công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã công bố dưới dạng

Tỏc gi gii hn mt s xó thuc tnh Vnh Phỳc lm im nghiờn cu, kho sỏt ti
Thc hin dõn ch nụng thụn tnh vnh Phỳc. S d tỏc gi la chn vn dõn ch xó m
khụng phi phng - th trn vỡ xó l ni tp trung ch yu ca c dõn nụng thụn, chim
khong 80% dõn s, 70 % lao ng xó hi v khong 85% trong tng s cỏc n v hnh
chớnh cp c s Vnh Phỳc: cú c im chung l ni vn cũn chu nhiu nh hng ca
phong tc tp quỏn lc hu ca xó hi c, cng nh tõm lý, thúi quen ca thi c ch tp
trung bao cp; ng thi cng l ni lu gi c nhiu truyn thng tt p cú th k tha
trong quỏ trỡnh m rng dõn ch hin nay.
Cựng vi nhng s liu, nhng kt qu nghiờn cu k tha t nhng cụng trỡnh khoa
hc m cỏc tỏc gi khỏc ó cụng b, tỏc gi lun vn tin hnh kho sỏt trc tip vic thc
hin dõn ch cỏc xó thuc tnh Vnh Phỳc t khi Quy ch dõn ch c s ca TW ng ban
hnh nm 1998 n nay.
4 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Trờn c s lun gii cỏc vn lý lun v thc tin v thc hin dõn ch nụng thụn
nc ta v c th nụng thụn tnh Vnh Phỳc, lun vn ó xut nhng gii phỏp c bn
nhm thc hin dõn ch tt hn nụng thụn tỉnh Vnh Phỳc hin nay.
4.2. Nhiệm vụ
Để đạt đ-ợc mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tớch lý lun v thc hin dõn ch nụng thụn nc ta hin nay.
Hai là, Phõn tớch thc trng thc hin dõn ch nụng thụn tnh Vnh Phỳc qua 10 nm
trin khai thc hin quy ch dõn ch c s.
Ba là, xỏc nh mt s yêu cầu v gii phỏp c bn nhm thc hin dõn ch tt hn
nụng thụn tỉnhVnh Phỳc hin nay.
5 - C s lý lun, thc tin v phng phỏp nghiờn cu
- C s lý lun:
Lun vn c trin khai da trờn quan im ca ch ngha Mỏc - Lờnin, t tng H
Chớ Minh v dõn ch, nụng dõn, nụng thụn; da trờn quan im ca ng Cng sn Vit Nam
về xây dựng và phát huy dân chủ XHCN, xây dựng HTCT, giải quyết các vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đổi mới CNH, HĐH đất nước.

1
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở
NÔNG THÔN TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
1.1 Thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay và vai trò của nó
1.1.1 Quan niệm về thực hiện dân chủ
Dân chủ là vấn đề thu hút được sự quan tâm, chủ ý của nhiều học giả, nhiều
chính khách ở các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời Hy Lạp
cổ đại, Hêrôđốt(484-425 TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này khi xem xét
các thể chế chính trị trong lịch sử. Theo ông, dân chủ là một thể chế mà quyền lực do
nhân dân nắm giữ thông qua con đường phổ thông đầu phiếu.
Trong ngôn ngữ của người Hy Lạp, Demokratos là dân chủ, trong đó Demos là
nhân dân, kratos là quyền lực. Như vậy, theo nghĩa khởi thuỷ, dân chủ là nghĩa quyền
lực thuộc về nhân dân. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm dân chủ ngày càng
được mở rộng với nhiều nội dung khác nhau.
Trong ngôn ngữ hiện đại, dân chủ được hiểu là một hình thức tổ chức quyền lực
nhà nước của một giai cấp, một chế độ xã hội; là nguyên tắc tổ chức, quản lý xã hội; là
tính chất của các mối quan hệ giữa các cộng đồng người; là một giá trị xã hội, một lý
tưởng giải phóng con người hướng tới tự do và thực hiện quyền làm chủ xã hội, làm
chủ nhà nước và làm chủ bản thân mình, dân chủ là nhu cầu khách quan của con
người, là sản phẩm của nền văn minh, là điều kiện, tiêu chuẩn của sự phát triển và tiến
bộ xã hội…
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời
sống con người. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, với điều kiện cụ thể chi phối, quan niệm
về dân chủ của con người cũng biến đổi theo. Từ thực tiến lịch sử ra đời và phát triển
của dân chủ, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin với phương pháp tư duy biện
chứng và lập trường duy vật đã nghiên cứu, khái quát vấn đề dân chủ một cách sâu sắc
và toàn diện.
C.Mác là người đầu tiên nêu lên quan niệm dân chủ với tầm khái quát về bản
chất nhất của khái niệm này. Theo C.Mác, nền dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân

công nhân. Mỗi thắng lợi của giai cấp công nhân đều gắn liền với kết quả tổ chức thực
hiện thắng lợi quyền dân chủ của nhân dân. Trong tiến trình đó, trước hết, giai cấp
công nhân phải cùng với nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, 3
dùng bạo lực cách mạng đập tan bộ máy nhà nước tư sản, lật đổ sự thống trị của giai
cấp tư sản, thiết lập nhà nước vô sản, đưa nhân dân lao động từ địa vị bị thống trị lên
địa vị làm chủ, từ đó làm cơ sở để từng bước thực hiện quyền dân chủ cho nhân dân.
Xây dựng CNXH là tiến tới một xã hội tự do, công bằng, bình đẳng, một xã hội mà
“sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Muốn đạt được điều đó thì nhân dân phải làm chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước.
Không chỉ trong lý luận, mà trong mọi hoạt động thực tiễn của mình, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng đã kiên quyết đấu tranh ủng hộ các lực lượng dân chủ, cho bình
đẳng xã hội và quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Tuy nhiên, về cơ bản những hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen diễn ra trong
giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh chế độ XHCN chưa thực hiện, nên vấn đề thực hiện
dân chủ mới là những tư tưởng cơ bản, mang tính chất đặt nền móng, định hướng. Đến
giai đoạn V.I.Lênin, với thực tiễn cách mạng thế giới và đặc biệt là thực tiễn cách
mạng nước Nga, giúp cho Lênin có cơ sở đầy đủ để nhận thức và giải quyết vấn đề dân
chủ cũng như thực hiện dân chủ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, trong điều
kiện giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền, thiết lập được nhà nước chuyên chính
vô sản của mình.
Khi đánh giá về chế độ dân chủ tư sản, Lênin cho rằng “…là một chế độ thuần
túy nhất và hoàn hảo nhất trong các chế độ mang tính chất tư sản…”[15, tr.377] “song
trước sau nó vẫn là - và dưới chế độ tư bản nó không thể không là - một chế độ dân
chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có” [18,
tr.305]. Sở dĩ có điều đó, vì “trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm
phương ngàn kế …để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà
nước…không cho quần chúng lao động tham gia nghị viện tư sản - nghị viện tư

nhân dân lao động càng được tôn trọng và thực hiện, sẽ tạo điều kiện cho chuyên chính
thực hiện tốt hơn; và một khi dân chủ đã trở thành thói quen, tập quán thì chuyên
chính và nhà nước cũng trở nên không cần thiết. V.I.Lênin còn nhấn mạnh “thủ tiêu
nhà nước cũng là thủ tiêu chế độ dân chủ, và nhà nước tiêu vong cũng là chế độ dân
chủ tiêu vong” [17, tr.101]
V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản chúng ta phải
tận dụng những quyền tự do dân chủ do chế độ đó tạo ra để tuyên truyền giác ngộ quần
chúng nhân dân, giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho giai cấp công nhân, nhân dân 5
lao động nhằm tiến tới thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ cho
quảng đại quần chúng nhân dân lao động.
Chỉ thông qua chuyên chính vô sản mới có chế độ dân chủ thực sự cho nhân
dân lao động, V.I.Lênin viết: “Các Xôviết công nhân và nông dân là một kiểu mới về
nhà nước, một kiểu mới cao nhất về dân chủ, đó là hình thức cao nhất của chuyên
chính vô sản…lần đầu tiên, ở đây chế độ dân chủ phục vụ quần chúng, phục vụ những
người lao động, nó không còn là dân chủ cho bọn nhà giàu” [16, tr.92].
Sau khi bị tước chính quyền, giai cấp tư sản không bao giờ chấp nhận để cho
giai cấp công nhân xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà luôn tìm trăm phương
ngàn kế để lật đổ chính quyền của giai cấp công nhân. Do vậy, những người cộng sản
phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ
thù. Giai cấp công nhân phải quan tâm tới việc xây dựng nhà nước ngày càng vững
mạnh “nhà nước vô sản, một bộ máy để giai cấp vô sản trấn áp giai cấp tư sản, trấn áp
như vậy là cần thiết, vì giai cấp tư sản luôn chống lại một cách điên cuồng, khi nó bị
tước đoạt” [18, tr.122-123]. Lênin cũng không quên nhắc nhở những người cộng sản:
chuyên chính vô sản không chỉ là bạo lực, không phải chủ yếu là bạo lực mà là tổ chức
xây dựng xã hội mới.
Từ quan điểm của V.I.Lênin chúng ta thấy rằng, muốn thực hiện một nền dân
chủ thực sự cho những người lao động, một mặt phải tăng cường chuyên chính vô sản

Kế thừa những di sản về dân chủ trong lịch sử nhân loại, những tư tưởng dân
chủ tiến bộ phương Tây, trực tiếp là tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin được
phản ánh trên nhiều phương diện khác nhau, Hồ Chí Minh đã trung thành và phát triển
hết sức sáng tạo tư tưởng về dân chủ và thực hiện dân chủ phù hợp với đặc thù dân tộc
Việt Nam.
Suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn hy sinh, phấn đấu cho dân, cho nước để
thực hiện cho được mong ước cuối cùng là Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Người còn khẳng định sự cần thiết phải
thực hiện dân chủ cho quần chúng nhân dân lao động, vì Người có cách nhìn mới về
những người lao động với một tấm lòng kính trọng: Trong bầu trời không có gì quý
bằng nhân dân. Nhân dân lao động trong bất cứ thời đại nào cũng là lực lượng sản
xuất hàng đầu của xã hội, là những người chế tạo ra công cụ lao động, sử dụng công
đó tác động vào tự nhiên, buộc tự nhiên phục vụ cho con người. 7
Sau thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh cùng với các
đồng chí của mình đã nỗ lực không ngừng để thực hiện những quyền dân chủ cơ bản
của người công dân Việt Nam trên thực tế. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
chính là kết quả của việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dưới chính quyền
dân chủ của nhân dân Việt Nam, người dân đã có quyền tham gia vào mọi công việc
của đất nước, từ việc to đến việc nhỏ, từ trung ương tới địa phương: “Chính quyền từ
xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương tới xã do dân tổ
chức nên” [21, tr.133]. Người luôn đặt nhân dân vào vị trí chủ thể của nhà nước, của
nền dân chủ XHCN, địa vị cao nhất trong nền dân chủ ấy là nhân dân. Người viết:
“Dân chủ là dân là chủ, và dân làm chủ” [28, tr.249]. Theo quan niệm này, nhân dân là
người tổ chức ra nhà nước XHCN, đồng thời có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ, củng
cố, xây dựng bộ máy nhà nước ấy. Ngược lại, nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm
quyền lợi, lợi ích của nhân dân, nhân dân và nhà nước XHCN là mối quan hệ thống
nhất biện chứng không thể tách rời.

phải tích cực chủ động xây dựng và mở rộng dân chủ. Người dạy: “Đã là người chủ thì
phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra
sức góp công góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”
[27, tr.310]. Những việc làm, những hành động cụ thể mà người dân làm chủ phải thể
hiện thông qua công việc của chính mình. Nông dân đã có ruộng, đã làm chủ nông
thôn. Là người chủ, bà con nông dân phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.
Người công nhân đã là chủ xí nghiệp, chủ nước nhà phải tự nguyện, tự giác giữ kỷ luật
lao động. Giờ làm việc thì đi chậm, chưa hết giờ đã nghỉ không phải là thái độ của
người làm chủ xí nghiệp, làm chủ Nhà nước. “Đã là người chủ nhà nước thì phải chăm
lo việc nước như chăm lo việc nhà. Người công nhân phải yêu quý máy móc như yêu
quý con mình, người nông dân phải yêu quý trâu bò của hợp tác xã như bạn thân của
mình” [27, tr.310].
Vậy là, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, quyền làm chủ của nhân dân luôn
gắn với nghĩa vụ công dân, dân chủ luôn đi đôi với trật tự, kỷ cương: “nhân dân có
quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân…” [24, tr.452].
Tất cả mọi người dù ở cương vị nào, làm công việc gì cũng “phải làm tròn nghĩa vụ
của người chủ: cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội” [27, tr.484].
Khi nói về nội dung của thực hiện dân chủ XHCN, Người cho rằng, trong nền
dân chủ nhân dân thì nội dung thực hiện dân chủ phải được bảo đảm trên mọi lĩnh vực 9
của đời sống xã hội từ chính trị, xã hội, sở hữu ruộng đất, phân phối sản phẩm, đến tự
do về tư tưởng tín ngưỡng tôn giáo, trong đó vấn đề tự do về tư tưởng luôn là vấn đề
cốt lõi quan trọng: “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế
nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra
chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là nghĩa vụ của mọi người. [25, tr.216]. Với
cách quan niệm trên, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một sự kết hợp hài hòa tinh
thần dân chủ với truyền thống coi trọng dân, lấy dân làm gốc đã được hình thành trong
lịch sử để rồi hình thành nên một quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa ba vấn

Để xây dựng được chính quyền dân chủ vững mạnh, Hồ Chí Minh cho rằng,
vừa phải đồng thời xây dựng cho được cán bộ có đức, có tài, vừa hồng vừa chuyên,
vừa phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, sách nhiễu nhân dân
Người cho rằng, thông qua quần chúng nhân dân mà lựa chọn xây dựng đội ngũ cán
bộ. “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có
được quần chúng tin cậy, mến phục không” [22, tr.274]. Để đánh giá cán bộ tốt hay
xấu phải do nhân dân quyết định, quần chúng nhân dân là người đánh giá chính xác
nhất phẩm chất, đạo đức, năng lực của người cán bộ vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ
cũng nghe, cũng thấy. Người dặn dò cán bộ, chiến sỹ: “Muốn cho dân yêu, muốn được
lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức
tránh. Phải chú ý giải quyết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan
hệ đến đời sống của nhân dân…tóm lai, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý” [21, tr.48]. Đồng thời Người
cũng nghiêm khắc chỉ rõ “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ
kẻ ấy ở cương vị nào, làm nghề nghiệp gì” [22, tr.640]. Nghiêm khắc trừng trị những
kẻ “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì theo lối “quan chủ”. Miệng thì nói
“phụng sự quần chúng” nhưng thực chất làm trái ngược với lợi ích quần chúng” [23,
tr.292].
Hồ Chí Minh không chỉ lý giải cho chúng ta hiểu vì sao phải thực hiện dân chủ
rộng rãi cho nhân dân, Người còn chỉ ra một cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. Trong đó, Đảng là người lãnh đạo, Nhà nước thực hiện vai trò quản
lý, các tổ chức chính trị xã hội là nơi bảo vệ những lợi ích chính đáng của nhân dân.
“Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác” [26,
tr.285-286]. Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng luôn
đặc biệt quan tâm bảo đảm quyền thực hiện dân chủ của nhân dân. Mỗi thắng lợi của 11
cách mạng Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước và xây dựng CNXH đều gắn với việc thực hiện và phát huy dân chủ của nhân

Từ quan điểm, lập trường của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, sự kế
thừa, phát triển của Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, về dân chủ và thực hiện dân chủ có thể khái quát:
Thực hiện dân chủ là tổng thể các hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội,
các đoàn thể nhân dân và các cá nhân để cụ thể hóa và hiện thực hóa những quyền
dân chủ của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội, quan hệ xã hội theo pháp luật
và các cơ chế xác định.
Mục đích của việc thực hiện dân chủ: là dân phải được làm chủ một cách toàn
diện: làm chủ nhà nước, làm chủ đất nước, làm chủ toàn xã hội và làm chủ chính bản
thân mình, từ đó phát huy cao nhất vai trò của nhân dân tham gia vào các hoạt động
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị của địa phương.
Chủ thể thực hiện dân chủ: là toàn bộ các bộ phận cấu thành HTCT và toàn thể
nhân dân đưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, với phương châm dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng.
Nội dung thực hiện dân chủ: Dân chủ phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, từ các mối quan hệ
giữa con người với con người, đến các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa
công dân với Nhà nước.
Hình thức thực hiện dân chủ: bao gồm dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân
chủ tự quản và một số hình thức dân chủ khác
Điều kiện để thực hiện dân chủ: là toàn bộ những điều kiện khách quan và chủ
quan tác động nhằm đảm bảo cho nhân dân thực thi các quyền dân chủ của mình, bao
gồm:
Cơ chế, thiết chế dân chủ rõ ràng, công khai, minh bạch, bảo đảm cho mỗi
người dân đều có thể dễ dàng nhận thức và có thể thực hiện, các văn bản dân chủ phải
được cụ thể hóa thành các quy định cụ thể như: chế độ làm việc, chế độ tiếp dân và
công khai giải đáp các thắc mắc của nhân dân, các chế độ làm việc phải được thực
hiện triệt để nghiêm túc từ trung ương tới cơ sở.
trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, giữ ổn định chính trị, bảo đảm an ninh

Trích đoạn Phỏt huy trỏch nhiệm của mỗi cỏ nhõn, mỗi cộng đồng, của cả hệ thống chớnh trị, Nõng cao trỡnh độ nhận thức, năng lực thực hành dõn chủ cho cỏn bộ đảng viờn và
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status