tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính về tranh chấp đất đai - Pdf 25


PHỤ LỤC

Phần mở đầu………………………………………………………
I- Hoàn cảnh ra đời, diễn biến tình huống.
Mô tả tình huống vụ tranh chấp đất đai…………………….….
II- Phân tích, xử lý tình huống.
2
4
1- Xác định mục tiêu xử lý……………………………………
2- Cơ sở lý luận.
3- Phân tích tình huống.
4- Nguyên nhân và hậu quả
5- Xây dựng phương án và lựa chọn phương án giải quyết……
Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn………….
III- Kiến nghị……………………………………………………
Kết luận………………………………………………………
Tài liệu tham khảo………………………………………………
8
9
13
15
16
17
18
20
22
- 1 -

M U
t ai l ti nguyờn c bit. Trong nn kinh t th trng, ngi ta coi

- 2 -

ln v vic, gúp phn n nh tỡnh hỡnh chớnh tr, gi vng an ninh, trt t xó
hi. Tuy nhiờn, tỡnh hỡnh tranh chp, khiu ni cú liờn quan n t ai hin nay
vn cũn din bin phc tp, tim n nguy c nh hng n an ninh chớnh tr,
trt t, an ton xó hi. õy l mt vn nhc nhi ang c ng v Nh
nc, xó hi rt quan tõm.
Việc nhận thức và vận dụng pháp luật không đúng, không thống nhất,
thậm chí sai phạm dẫn đến khiếu nại, tố cáo nhiều, công tác quản lý nhà nớc các
cấp phải tập trung quá nhiều lực lợng, kinh phí để giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân, gây tốn kém, mất thời gian. Có sự việc nhỏ chỉ cần giải quyết ở
cấp cơ sở là xong, nhng thực tế việc hiểu biết và vận dụng pháp luật của một số
cán bộ còn cha đúng, cha phù hợp đã làm cho sự việc phức tạp thêm, kéo dài thời
gian, tạo ra nhiều d luận không tốt trong quần chúng nhân dân.
Với nhận thức mới đợc bổ xung qua khóa học bồi dỡng kiến thức về quản
lý nhà nớc chơng trình chuyên viên chính. Trong tiểu luận này, tôi xin đề cập
một cách khái quát các thông tin, dữ liệu trong một vụ việc nhỏ, đơn giản mà đã
phải kéo dài về thời gian giải quyết, tình tiết ngày càng phức tạp trên địa bàn xó
Thn Sa, huyn Vừ Nhai - tỉnh Thái Nguyên.
Vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, tiểu luận không tránh khỏi những
khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong đợc sự góp ý chân thành của các Thầy Cô
giáo và các học viên. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp tận tình đó, tạo
điều kiện cho tôi nhận thức đợc đầy đủ hơn và hoàn thành tốt tiểu luận này.
I- Mễ T TèNH HUNG V TRANH CHP T AI
1. Hon cnh xut x v tranh chp
Thỏng 8 nm 1994, UBND xó Thn Sa, huyn Vừ Nhai nhn c n
xin gii quyt tranh chp t ai ca b Nguyn Th Lan trỳ ti th trn ỡnh C,
- 3 -

huyện Võ Nhai. Nội dung đơn trình bày việc ông Hoàng Văn Thức tranh chấp

(thửa 80 tờ bản đồ địa chính số 20)
(trong đó diện tích bán cho bà Hương là diện tích đang tranh chấp).
Khi tiến hành mua bán số ruộng đất trên, ông Thức đã làm thủ tục với
chính quyền, được UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai đồng ý. UBND huyện
Võ Nhai cũng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu văn Đại
và bà Ngô Thị Hương trong năm 1995. Tới năm 1996, ông Thức tiếp tục bán
cho ông Nguyễn Văn Luyện 2.040 m
2
, diện tích này đang nằm trong diện tranh
chấp. Việc mua bán này chưa được UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai xác nhận
và cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy qua hai năm ông Thức đã bán cho ba hộ nói trên số ruộng với
tổng diện tích là 5.370 m
2
trong đó có 2.730 m
2
đất tranh chấp. Hiện nay ông
- 4 -

Thức còn sử dụng 4.150 m
2
, trong đó có 770 m
2
đất đang tranh chấp với bà Lan.
Cho tới nay số diện tích trên chưa được cấp có thẩm quyền giao và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qua điều tra, xác minh cho thấy nguồn gốc của số ruộng đất kể trên như
sau:
Phần diện tích tranh chấp 3.500 m
2

do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn hai ông bà đều đã nghỉ hưu lại đông con,
Đảng uỷ, UBND xã cũng đã xem xét và đồng ý cho bà được phép sử dụng 770
- 5 -

m
2
để làm kinh tế phụ (trên đất 5%) nhằm tăng thêm thu nhập và cải thiện đời
sống gia đình.
Với những lý do nêu trên, sau khi HTX đã củng cố trở lại và và hoạt động
bình thường, bà Lan vẫn được sử dụng 770 m
2
mà không thu lại. Thực tế bà
quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1974 cho đến năm 1993. Năm 1994 ông Thức
tiến hành đòi lại số ruộng này để sử dụng, kê khai với nhà nước, dẫn đến việc
tranh chấp với bà Lan.
2. Diễn biến và quá trình giải quyết vụ tranh chấp
Từ năm 1994 đến năm 1996 bà Lan nhiều lần làm đơn đề nghị UBND xã
Thần Sa, huyện Võ Nhai xem xét việc ông Thức đòi lại ruộng canh tác của bà
nhưng không được giải quyết. Sau đó bà làm đơn đề nghị lên UBND huyện Võ
Nhai. Vụ việc này được các cấp, các ngành chức năng giải quyết như sau:
a. Uỷ ban nhân dân xã Thần Sa, huyện Võ Nhai
Sau khi nhận được đơn của bà Lan từ Phòng Địa chính huyện chuyển đến,
ngày 25/8/1997 UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai cho mời hai hộ đến phân
tích và động viên họ dàn xếp với nhau để cùng có ruộng sản xuất, song hai bên
không đồng ý. UBND xã có kết luận: " Chưa đủ căn cứ trả số ruộng trên cho bà
Lan (vì biên bản xác minh và giấy tờ mua bán có mâu thuẫn), Uỷ ban nhân dân
xã vẫn giao số diện tích này cho ông Thức quản lý, sử dụng và làm nghĩa vụ
năm 1997, chờ cấp trên giải quyết "
Bà Lan không nhất trí với kết luận đó và gửi đơn đề nghị UBND huyện
Võ Nhai giải quyết.

UBND huyện Võ Nhai giải quyết.
d. Uỷ ban nhân dân huyện Võ Nhai
Xét hồ sơ vụ việc, căn cứ luật đất đai năm 1993 và báo cáo kết luận số
06/KL-XKT ngày 20/6/1999; Công văn số 22/CV-TTr ngày 15/7/2001 của
Thanh tra nhà nước huyện Võ Nhai, UBND huyện Võ Nhai ra quyết định số
125/QĐ-UB ngày 28/11/2001 giải quyết vụ tranh chấp với các nội dung sau:
- Thu hồi các thửa ruộng 170, 145, 80 có diện tích 3.500 m
2
ở tờ bản đồ
địa chính số 20, hiện đang có sự tranh chấp giữa hộ bà Lan và hộ ông Thức.
- Giao cho ông Thức được quản lý, sử dụng 3.500 m
2
đất ở các thửa đất
trên kể từ vụ mùa năm 2001.
Bà Lan vẫn không đồng ý với quyết định đó và tiếp tục làm đơn khiếu nại.
Ngày 20/4/2002 UBND huyện Võ Nhai ra quyết định số 84/QĐ-UB giải
quyết khiếu nại của bà Lan. Tại quyết định này, UBND huyện đã kết luận:
Quyết định giải quyết số 125/QĐ-UB ngày 28/11/2001 là phù hợp với quy định
của pháp luật đất đai và không công nhận nội dung khiếu nại của bà Lan.
Cả hai quyết định giải quyết của UBND huyện Võ Nhai không được sự
đồng ý của bà Lan, tiếp đó bà lại làm đơn đề nghị lên cấp trên giải quyết.
- 7 -

II/ PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1 - XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ
Trên cơ sở phân tích hồ sơ tài liệu, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
đất đai, chúng ta thấy: Bản thân ông Thức cũng như vợ ông Thức đều là cán bộ
viên chức nhà nước, không thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp theo quy
định tại Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993. Đối với số diện tích trước đây ông
Thắng (bố ông Thức) theo chính sách đất đai của Nhà nước đã góp vào HTX có

nước.Nói cách khác: Quản lý Nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các
chủ thể mang quyền lực Nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các
chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Như vậy, tất cả các cơ quan Nhà
nước đều làm chức năng quản lý Nhà nước.
Trong quản lý xã hội thì quản lý Nhà nước có các đặc điểm sau:
- Chủ thể quản lý nhà nứơc là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện
chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đối tượng của quản lý Nhà nước là toàn thể nhân dân sống và làm việc trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Quản lý Nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn
nhu cầu hợp pháp của nhân dân.
Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương
tiện, công cụ chủ yếu để quản lý Nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển
của xã hội.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật:
Đối với các nhà nước nói chung: pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống
trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Quan hệ Nhà nước và pháp luật là mối quan hệ giữa hai yếu tố của kiến
trúc thượng tầng. Nhà nước là cơ quan duy nhất ban hành ra pháp luật và pháp
luật ban hành ra điều chỉnh cả Nhà nước. Pháp luật tiến bộ sẽ giúp Nhà nước
phát triển và ngược lại.
Trong nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội được thực hiện theo: Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các
quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực
- 9 -

hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục

cạnh hệ thống pháp luật hoàn thiện phải có sự tuân thủ, chấp hành, sử dụng pháp
luật thường xuyên liên tục, nghiêm minh của mọi cơ quan, tổ chức và công dân.
Quản lý hành chính nhà nước:
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp được gọi là quản lý hành
chính nhà nước.Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động tác động bằng
quyền lực pháp luật của nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan hành chính
nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành các văn bản pháp luật của các
cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức, chỉ đạo một cách trực tiếp và
thường xuyên công cuộc kinh tế, văn hoá - xã hội và hành chính - chính trị. Nói
cách khác quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành - điều hành của
nhà nước.
Tính chất chấp hành thể hiện ở chỗ mọi hoạt động đều được tiến hành trên
cơ sở pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế.
Tính chất điều hành được thể hiện ở chỗ bảo đảm cho các văn bản pháp
luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể
quản lý hành chính nhà nước phải được tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo
trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền quản lý. Trong quá trình
điều hành, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước ban hành
ra các văn bản quy phạm pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật hay các
mệnh lệnh cụ thể buộc các đối tượng quản lý có liên quan phải thực hiện.
Hoạt động điều hành là một nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành
quyền lực nhà nước, luôn gắn với hoạt động chấp hành và cùng với hoạt động
chấp hành tạo thành hai mặt thống nhất của quản lý hành chính nhà nước.
Nội dung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được cụ thể hoá
thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quan
hành chính Nhà nước, từng ngành, từng cấp và toàn thể hệ thống hành chính
Nhà nước.Các cơ quan hành chính Nhà nước với thẩm quyền được xác định, với
cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ công chức tương ứng thực hiện chức năng
hành pháp hoạt động trên tất cả các mặt và lĩnh vực, trong đó có quản lý hành
chính Nhà nước về đất đai.

Về việc tranh chấp đất đai, tại khoản 2 điều 38 luật đất đai năm 1993 đã
quy định: " Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không
- 12 -

có giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền thì do UBND giải quyết theo
quy định sau đây:
a. UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh
chấp giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân hộ gia đình với tổ chức,
giữa tổ chức với tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc quyền quản lý cuả mình.
b. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết các tranh
chấp, giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân nếu tổ chức
đó thuộc quyền quản lý của mình hoặc Trung ương.
c. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của UBND đã giải
quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính Nhà
nước cấp trên. Quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp có
hiệu lực thi hành ”.
Trên cơ sở điều tra thu thập hồ sơ, nghiên cứu xác minh tài liệu có liên
quan đến vụ việc, đối chiếu với quy định của Luật đất đai, các văn bản pháp quy
được ban hành và phân tích điều kiện, hoàn cảnh thực tế của hai gia đình, tôi có
các nhận xét sau:
- Về nguồn gốc đất của ông Thức: Diện tích đất tranh chấp 3.500 m
2
nguyên trước đây là cuả ông Thắng - bố ông Thức sử dụng. Trải qua các thời kỳ
thay đổi chính sách đất đai của Nhà nước, diện tích đó không thuộc quyền quản
lý của ông Thắng nữa. Mặt khác, khi có chủ trương thay đổi vể hình thức tổ
chức quản lý trong nông nghiệp thì bản thân ông Thức cũng chưa được cấp có
thẩm quyền giao đất sản xuất nông nghiệp. Lúc này ông Thức sử dụng diện tích
trên với ý nghĩa là đất cũ của cha để lại. Mặt khác khi ông Thắng mất năm 1980
không có di chúc thừa kế để lại cho ông Thức. Như vậy số diện tích trên chưa
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Thức.

Bắc Thái (trước đây) và Quyết định số 106/QĐ-UB của UBND tỉnh Bắc Thái
ban hành ngày 09/5/1990 có quy định:
+ Ruộng đất là sở hữu của Nhà nước, không có khái niệm ruộng ông cha,
ruộng tổ, ruộng cũ.
+ Không giao ruộng đất cho hộ phi nông nghiệp
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên cho thấy việc giải quyết của
UBND huyện Võ Nhai tại quyết định số 125/QĐ-UB ngày 28/11/2001 là không
đúng pháp luật. Trong quá trình xem xét giải quyết vụ tranh chấp, các cấp các
nghành chức năng của huyện Võ Nhai đã thiếu thận trọng, thiếu hiểu biết về
pháp luật đất đai, do đó có những sai sót trong việc xử lý giải quyết, gây ra tranh
chấp kéo dài và ngày càng phức tạp.
4 - NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
Nguyên nhân:
- 14 -

Bản thân nhũng người là đối tượng sử dụng đất đang tranh chấp như đã
nêu trên nằm ở khu vực địa bàn thuộc vùng sâu , vùng xa của một huyện miền
núi nên sự hiểu biết của họ về chế độ, chính sách, quy định của pháp luật về đất
đai còn rất nhiều điểm bị hạn chế. Một mặt do nguyên nhân chủ quan là tự bản
thân họ chưa có ý thức, tức là không chủ động tìm hiểu . Mặt khác còn do công
tác tổ chức nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về chế độ,
chính sách, quy định pháp luật nhà nước về đất đai của cơ quan chức năng trên
các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương chưa được thực hiện một
cách thường xuyên, liên tục và triệt để.
Ngoài ra, chính bản thân các phòng, ban, cơ quan chức năng tại địa
phương cũng chưa nắm bắt các quy định của luật đất đai; các hướng dẫn chế độ,
chính sách về đất đai tại các văn bản dưới luật.Trình độ, năng lực về chuyên
môn , nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế.
Hậu quả:
Tình trạng tranh chấp đất đai diễn ra ngày càng căng thẳng. Trong quá

2
trước đây là của ông Thắng (bố ông Thức) sử dụng, qua các thời kỳ thay đổi
chính sách đất đai của Nhà nước, diện tích đó không thuộc quyền quản lý của
ông Thắng nữa. Mặt khác, khi có chủ trương thay đổi vể hình thức tổ chức quản
lý trong nông nghiệp thì bản thân ông Thức cũng chưa được cấp có thẩm quyền
giao đất sản xuất nông nghiệp. Lúc này ông Thức sử dụng diện tích trên với ý
nghĩa là đất cũ của cha để lại. Mặt khác khi ông Thắng mất năm1980 không có
di chúc thừa kế để lại cho ông Thức. Trong quá trình sử dụng đất ông Thức đã
bán cho bà Hương diện tích 690 m
2
. Như vậy số diện tích trên không thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của ông Thức.
- Phương án 3: Để giải quyết dứt điểm vụ việc tranh chấp đất đai nói
trên, trên cơ sở phân tích hồ sơ tài liệu, chứng cứ đã điều tra, thu nhập và xác
minh, căn cứ các quy định của pháp luật đất đai, văn bản pháp quy có liên quan,
xuất pháp từ điều kiện hoàn cảnh thực tế của hộ ông Hoàng Văn Thức và hộ bà
Nguyễn Thị Lan, theo tôi biện pháp xử lý vụ việc trên là: Giao quyền quản lý và
sử dụng đất cho bà Lan 770 m
2
, ông Thức 2.040 m
2
. Đồng thời để tránh tình
trạng tranh chấp đất đai sau này giữa ông Thức, bà Lan và bà Hương (do bà
Hương đã có đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đề nghị
các cơ quan có thẩm quyền hợp thức hoá chính thức diện tích 690 m
2
cho bà
Hương để bà Hương yên tâm quản lý và sử dụng diện tích đất đó.
KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN ĐÃ LỰA CHỌN
Trên cơ sở phân tích hồ sơ tài liệu, chứng cứ đã điều tra, thu thập và xác

nông nghiệp. Hiện nay hai hộ này có hộ khẩu thường trú tại xã Thần Sa, huyện
Võ Nhai nhưng có ít diện tích canh tác, thực sự có nhu cầu sử dụng để sản xuất
nông nghiệp.
4. Do bà Hương đã có đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thực tế bà Hương đã quản lý, sử dụng và đóng thuế từ năm 1995 đến nay. Vì
vậy đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét và cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Hương diện tích là 690 m
2
ở số thửa là 80, thuộc tờ
bản đồ địa chính số 20.
5. Diện tích còn lại 2.040 m
2
có số thửa 145, thuộc tờ bản đồ địa chính số
20 giao cho ông Hoàng Văn Thức quản lý và sử dụng. Ông Thức có trách nhiệm
- 17 -

quản lý và sử dụng diện tích đất trên có hiệu quả theo quy định của Luật đất đai
năm 2003.
III- KIẾN NGHỊ
Từ trường hợp tranh chấp cụ thể nói trên và tình hình thực tế diễn biến
tranh chấp đất đai đã và đang diễn ra trên nhiều địa phương nói chung và trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, tôi xin có một số kiến nghị sau đây:
- Khi có hiện tượng tranh chấp đất đai giữa các chủ sử dụng đất và các chủ sử
dụng có đơn đề nghị các cấp giải quyết thì chính quyền các cấp mà đầu tiên là
cấp xã, phường tổ chức giải quyết ngay theo thẩm quyền cuả mình mà pháp luật
quy định, tránh để tồn đọng kéo dài gây mất đoàn kết trong nhân dân.
- Khi đã giải quyết thì phải giải quyết triệt để trên cơ sở hợp pháp, hợp lý.
Ngay sau khi giải quyết tranh chấp ổn thoả phải tiến hành việc hoàn chỉnh các
hồ sơ địa chính cần thiết có liên quan, để tránh có sự tranh chấp tiếp theo mang
tính dây chuyền. Đây chính là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý đất đai sau

KT LUN
Qua phân tích vụ việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải
quyết tranh chấp đất đai trên, có thể rút ra kết luận là:
Mt l: Vic qun lý t ai cht ch, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ỳng quy nh, y c s l cc k quan trng, õy chớnh l mt
trong nhng nguyờn nhõn gõy nờn khiu kin phc tp kộo di.
Hai là: Cụng tỏc gii quyt khiu ni, tranh chp t ai l mt trong
nhng ni dung quan trng ca cụng tỏc qun lý Nh nc v t ai. Cỏc v
vic ó c gii quyt thỡ phi t chc thc hin, kim tra, ụn c kp thi
khụng xy ra khiu kin kộo di, gõy bc xỳc, lm phỏt sinh nhng quan h
khiu kin mi phc tp hn. Thc hin tt ni dung ny khụng nhng gúp phn
- 19 -

nõng cao cht lng, hiu qu cụng tỏc qun lý nh nc v t ai, m cũn gúp
phn ỏng k trong vic phỏt trin kinh t, m bo trt t xó hi cng nh cng
c nim tin ca nhõn dõn i vi ng v Nh nc.
khc phc nhng tn ti, hn ch v nhm nõng cao hn na cht
lng, hiu qu cụng tỏc gii quyt khiu ni tranh chp t ai, xin c
xut mt s gii phỏp nh sau:
1. Trờn c s quy nh ca phỏp lut v t ai, khiu ni, t cỏo Tng
cng s quan tõm, lónh o ca cỏc cp u ng, s ch o sỏt sao, kiờn
quyt, nht quỏn ca cp huyn, cp tnh i vi chớnh quyn c s. c bit,
trong nhng vn phc tp, nhy cm nh bi thng, gii phúng mt bng,
gii quyt khiu ni, t cỏo, x lý vi phm t ai.
Phải tăng cờng xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu
quản lý và điều hành các mặt hoạt động của địa phơng. Tip tc kin ton h
thng c quan qun lý t ai, tng cng nng lc i ng cỏn b - cụng chc,
qun lý t ai trờn a bn ỏp ng yờu cu qun lý t ai trong tỡnh hỡnh mi.
Tng cng trỏch nhim v s phi hp hot ng, phõn nh rừ trỏch nhim,
quyn hn trong qun lý t ai gia cỏc ngnh, cỏc cp, khc phc tỡnh trng

5. Tng cng cụng tỏc kim tra, thanh tra v ỏp dng phỏp lut v t
ai, sm phỏt hin nhng bt cp trong chớnh sỏch, nhng thiu sút, vi phm
trong t chc thc hin, nhm trit tiờu nguyờn nhõn, ngn chn nhng phỏt sinh
mi v tranh chp, khiu ni, t cỏo v t ai. Kiờn quyt gii quyt ht cỏc
trng hp tn ng, khụng kộo di, phc tp thờm.
TI LIU THAM KHO
1. Lut t ai 1987.
2. Lut t ai nm 1993.
3. Lut sa i, b sung mt s iu ca Lut t ai nm 1998.
4. Lut sa i, b sung mt s iu ca Lut t ai nm 2001.
5. Lut t ai nm 2003.
6. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và y ban nhân dân đợc Quốc hội
khúa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003.
7. Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998.
- 21 -

8. Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo của
Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
58/2005/QH11.
9. Quyt nh s 201-KTK ng y 14/7/1989 c a Tng cục Quản lý
ruộng đất v vic ban h nh quy nh cp giy CNQSD t.
10. Thông t 302/TT - ĐKTK của Tổng cục Quản lý ruộng đất ngày
28/10/1989, hng dn thi h nh Quyt nh s 201-KTK .
11. Ngh nh s 181/2004/N-CP ca Chớnh ph ngy 29/10/2004,
hng dn thi hnh Lut t ai.
12. Ti liu bi dng v Qun lý hnh chớnh nh nc (chng trỡnh
chuyờn viờn chớnh) , Hc vin Hnh chớnh quc gia, nm 2009.
- 22 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status