tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên việc tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông nguyễn văn ang và ông trần văn bồng ở thôn 2, xã liêm cần, huyện thanh liêm, tỉnh hà nam - Pdf 24

1
BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC

TIỂU LUẬN
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
VIỆC TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI GIỮA ÔNG
NGUYỄN VĂN ANG VÀ ÔNG TRẦN VĂN BỒNG Ở THÔN 2, XÃ LIÊM CẦN,
HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Học viên:
Đơn vị công tác:
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên
Khóa: 92

Bắc Ninh, tháng 08-2014
LỜI NÓI ĐẦU
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là nguồn lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là nơi phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Do đó, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và cả quốc gia.
Luật đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung ba lần vào năm 1998, năm
2001 và năm 2003 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004. Tuy nhiên, do chậm ban hành
Nghị định hướng dẫn thực hiện, nên tình hướng xử lý ở Tiểu luận này chưa đặt vấn
đề áp dụng theo Luật Đất đai mới) là một đạo luật quan trọng thể hiện đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những kết quả đạt được trong quá trình thực
hiện Luật này đã thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị, xã hội tạo
đà cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Công tác quản lý nhà nước về đất đai dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật
đất đai ngày càng hoàn thiện, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt; hệ thống quản lý
nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tính tự chủ

1 . Mô tả tình huống
- Ngày 20/12/1970 ông Trần Văn Bồng mua của ông Văn Tộ lô đất có diện
tích 5.880 m
2
và ngày 25/9/1973 mua của ông Nguyễn Hiệp lô đất liền kề có diện
tích 6.080 m
2
, tổng diện tích ông Bồng đã mua là 11.960 m
2
, cả 2 lô đất đều được
chính quyền cũ cấp quyền sở hữu. Lô đất này hiện nay toạ lạc tại thôn 2, xã Liêm
Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Ngày 24/3/1977, ông Trần Văn Bồng đổi khoảng 1,9 sào (1.900 m
2
) đất
trên diện tích đất 11.960 m
2
nói trên cho ông Nguyễn Văn An để lấy 1,9 sào ruộng
nước để sản xuất. Sau khi đổi đất, ông Nguyễn Văn An đã cho con trai là ông
Nguyễn Văn Ang lô đất này. Việc đổi đất giữa hai bên được lập thành văn bản vào
ngày 24/3/1977 và được Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần xác nhận. Nhưng trong
giấy đổi đất không ghi kích thước tứ cận của lô đất, khi giao nhận đất ngoài thực
địa cũng không đo đạc cụ thể. Ông Nguyễn Văn Ang đã sử dụng lô đất này làm
nhà, đào giếng nước từ năm 1977 và ăn ở ổn định từ đó đến nay.
- Ngày 21/9/1987 gia đình ông Nguyễn Văn Ang đăng ký kê khai lô đất này
có diện tích 2.170 m
2
với Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần.
- Đến năm 1998 ông Trần Văn Bồng có đơn khiếu nại việc ông Nguyễn
Văn Ang lấn chiếm đất của gia đình ông ngoài diện tích đã đổi trước đây.

- Ngày 06/9/2005, Phòng thi hành án tỉnh Hà Nam tổ chức cưỡng chế buộc
ông Ang giao đất lấn chiếm cho ông Bồng theo bản án phúc thẩm số 11/DS-PT
ngày 22/4/2004 của TAND tỉnh Hà Nam.
- Ngày 01/4/2006, Toà án Nhân dân tối cao có văn bản số 38/DS về việc
kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 11/DS-PT ngày 22/4/2004 của TAND tỉnh
Hà Nam.
- Ngày 27/6/2006, TAND tối cao có quyết định giám đốc thẩm số 192 với
nội dung:
+ Huỷ bản án sơ thẩm số 54/DS-ST ngày 27/12/2003 của TAND huyện
Thanh Liêm và bản án phúc thẩm số 11/DS-PT ngày 22/4/2004 của TAND tỉnh Hà
Nam.
+ Đình chỉ việc giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Văn Bồng và ông Nguyễn Văn Ang và chuyển hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân huyện
Thanh Liêm để giải quyết theo thẩm quyền.
- Ngày 03/4/2008, Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Liêm ban hành quyết định
số 273/QĐ-UB V/v giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Trần Văn Bồng và ông
Nguyễn Văn Ang ở thôn 2, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam với nội
dung:
+ Gia đình ông Nguyễn Văn Ang phải giao lại cho gia đình ông Trần Văn
Bồng diện tích đất lấn chiếm là 365 m
2
(đã trừ lộ giới QL14), lô đất có vị trí, kích
thước tứ cận như sau:
• Phía Đông giáp đất ông Ang đang sử dụng, kích thước 102 m.
• Phía Tây giáp đất ông Bồng đang sử dụng, kích thước 102 m.
• Phía Nam giáp đất HTX Đồng Tiến, kích thước 3,5 m.
• Phía Bắc giáp đường Quốc lộ 14, kích thước 3,67 m.
5
Sau khi nhận được quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Liêm, cả
ông Ang và ông Bồng đều không đồng ý và có đơn khiếu nại quyết định giải quyết

Việc Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần xác nhận để hai ông Trần Văn Bồng và
ông Nguyễn Văn An đổi đất cho nhau vào thời điểm lúc bấy giờ (năm 1977) là
đúng, nhưng vì thiếu chặt chẽ nên Uỷ ban Nhân dân xã không hướng dẫn cho ông
Bồng và ông An ghi cụ thể vị trí và Bồng tra thực trạng của lô đất. Tuy nhiên, khi
6
có tranh chấp xảy ra, Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần đã tổ chức hoà giải cho 2 bên -
đây là việc làm thể hiện đúng quy định của pháp luật về đất đai của UBND xã
Liêm Cần.
+ Đối với Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm và Toà án nhân dân tỉnh Hà
Nam:
Tại khoản 2, Điều 38 của Luật đất đai hiện hành qui đinh: "Các tranh chấp
về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thì do Uỷ ban nhân dân giải quyết theo qui định "
và tại khoản 3 của điều này qui định: "Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết".
Do vậy, việc Toà án Nhân dân huyện Thanh Liêm và Toà án nhân dân tỉnh Hà
Nam đưa vụ tranh chấp đất đai giữa ông Trần Văn Bồng và ông Nguyễn Văn Ang
ra xét xử là trái qui định của Luật đất đai, dẫn đến hậu quả là Phòng thi hành án đã
tổ chức cưỡng chế thi hành, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, Toà án nhân
dân tối cao có kháng nghị và có quyết định giám đốc thẩm huỷ bỏ các bản án sai
trái của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm và Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Việc xét xử trái qui định pháp luật này không những thể hiện sự yếu kém của các
cơ quan xét xử mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước nói
chung và cơ quan tư pháp nói riêng.
+ Đối với Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Liêm:
Toà án nhân dân tối cao có Quyết định số 192 ngày 27/6/2006 huỷ án sơ
thẩm số 54/DS-ST ngày 27/12/2003 của Toà án nhân huyện Thanh Liêm và bản
án phúc thẩm số 11/DS-PT ngày 22/4/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam,
đồng thời đình chỉ việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông Ang và ông Bồng,

gồm đất thổ cư 500 m
2
, đất màu 1670 m
2
; thực tế sử dụng là 2253 m
2
,
vượt so với giấy đổi đất là 410 m
2
, vượt so với diện tích đã đăng ký là 83 m
2
, trên
lô đất ông Nguyễn Văn Ang đã đào 1 giếng nước và làm 1 ngôi nhà gỗ. Còn ông
Bồng đăng ký diện tích đất sử dụng là 5.500 m
2
, gồm đất thổ cư 1000 m
2
, đất cây
công nghiệp 3.500 m
2
, đất trồng cây ăn quả 1000 m
2
; thực tế sử dụng là 6185 m
2
,
vượt so với diện tích đăng ký là 685m
2
.
Căn cứ Luật khiếu nại, tố cáo và dựa trên cơ sở kết quả xác minh của Thanh
tra huyện Thanh Liêm, ngày 09/8/2008, Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Liêm đã

dứt điểm, đúng qui định pháp luật, do vậy các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Do vậy,
việc giải quyết đất đai giữa ông Nguyễn Văn Ang và ông Trần Văn Bồng của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể ở thời điểm này là Uỷ ban nhân dân
tỉnh Hà Nam cần đảm bảo mục tiêu sau:
- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân theo đúng qui định của
pháp luật;
- Việc giải quyết vừa có tình, vừa có lý; đồng thời cũng cần quan tâm đến
yếu tố lịch sử của nước nhà;
- Giữ vững kỷ cương, trật tự quản lý nhà nước về đất đai;
- Đảm bảo cho công dân phải có đất sản xuất, ổn định đời sống.
2. Xây dựng phương án.
Căn cứ Luật đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001
và năm 2003, Luật khiếu nại, tố cáo của công dân và kết quả Bồng tra, xác minh
của Thanh tra huyện Thanh Liêm. Đồng thời, dựa trên nguyên nhân, hậu quả đã
phân tích và mục tiêu xử lý tình huống ở phần trên, xin đưa ra 2 phương án giải
quyết như sau:
a. Phương án 1:
Thu hồi 353m
2
đất ông Nguyễn Văn Ang đang sử dụng ngoài diện tích
1.900m
2
đổi của ông Trần Văn Bồng để trả lại cho ông Bồng.
+ Cơ sở để đưa ra phương án 1: Qua kết quả kiểm tra của Thanh tra huyện
Thanh Liêm thì tổng diện tích đất có nguồn gốc từ lô đất của ông Trần Văn Bồng
(gồm đất của ông Bồng đang sử dụng, đất trao đổi với ông Nguyễn Văn Ang, đất

Liêm tổ chức định giá vườn cây trên diện tích đất của ông Ang. Trên cơ sở định
giá của các cơ quan, ông Bồng phải trả cho ông Ang khoảng tiền này.
+ Mặt mạnh của phương án 1: Đem lại lợi ích cho ông Bồng vì sự thiếu chặt
chẽ trong quá trình đổi đất, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho ông Ang.
+ Mặt hạn chế của phương án 1: Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định
không cao.
b. Phương án 2:
Giữ nguyên hiện trạng đất như trước khi xảy ra tranh chấp.
+ Cơ sở để đưa ra phương án:
- Lô đất có diện tích 11.960 m
2
ở tại thôn 2 xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm
do ông Trần Văn Bồng mua lại của ông Văn Tộ và ông Nguyễn Hiệp. Từ tháng
3/1977 trở về trước (thời gian trước khi đổi đất) lô đất nói trên là thuộc quyền quản
lý, sử dụng của ông Trần Văn Bồng.
- Ngày 24/3/1977 ông Trần Văn Bồng và ông Nguyễn Văn An (bố đẻ của
ông Nguyễn Văn Ang) đổi đất cho nhau. Do giấy đổi đất lập ngày 24/3/1977 ghi
diện tích đổi đất 1,9 sào và khi bàn giao đất ngoài thực địa ông Bồng và ông
Nguyễn Văn Ang không xác định cụ thể ranh giới lô đất, nên diện tích đất thực tế
sẽ không khớp với diện tích ghi trong giấy đổi đất. Đây là nguyên nhân dẫn đến
11
tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn Ang và ông Trần Văn Bồng, trách nhiệm
này là thuộc ông Bồng và ông Nguyễn Văn An lúc đổi đất cho nhau.
Sau khi đổi đất ông Nguyễn Văn An đã cho con trai ông là Nguyễn Văn
Ang lô đất này, ông Ang đã làm nhà ở và đào 1 giếng nước từ năm 1977 (vị trí
giếng nước sát ranh giới giữa 2 lô đất của ông Nguyễn Văn Ang và ông Trần Văn
Bồng) và ở ổn định đến năm 1998 thì phát sinh khiếu kiện (tức là sau 12 năm).
Đồng thời, tháng 8/1977 gia đình ông Nguyễn Văn Ang đã đăng ký kê khai lô đất
này với Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần. Do vây, lô đất có diện tích là 2.320 m2
(diện tích đất ông Nguyễn Văn Ang sử dụng trước khi thi hành án) là thuộc quyền

Trong 2 phương án đưa ra, mỗi phương án đều có ưu và nhược điểm của nó.
Tuy nhiên, xét một cách toàn diện thì phương án 2 là phương án tối ưu nhất vì
phương án này đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thể hiện sự công
bằng, dân chủ, hiệu quả của pháp chế xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang nỗ lực
thực hiện.
4. Tổ chức thực hiện phương án:
Để thực hiện quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam theo phương án
tối ưu đã lựa chọn (phương án 2) có hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan có liên quan, cụ thể:
- Uỷ ban nhân dân Huyện Thanh Liêm và Uỷ ban nhân dân xã Liêm Cần
phối hợp động viên gia đình ông Trần Văn Bồng tự nguyện thi hành quyết định
giải quyết của UBND tỉnh Hà Nam để giao lại diện tích đất 736,6 m
2
cho gia đình
ông Nguyễn Văn Ang.
- Nếu như gia đình ông Bồng không tự nguyện thi hành thì Uỷ ban nhân dân
huyện Thanh Liêm có biện pháp tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định.
- Giao cho Thanh tra tỉnh kiểm tra, đôn đốc việc thi hành quyết định.
13
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong mấy năm gần đây, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân về đất đai
có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp, đặc biệt nhiều nơi đã trở
thành điểm “nóng”. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng
định: Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân; việc tổ
chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm của thủ trưởng
các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Do vậy, quản lý tốt về đất đai
và giải quyết kịp thời, hiệu quả các khiếu nại phát sinh của công dân là việc làm
có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm phát huy dân chủ, nâng cao lòng tin của nhân
dân đối với Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của

đai theo hướng đưa hệ thống Toà án nhân dân nhập cuộc, giảm bớt áp lực lên bộ
máy hành chính nhà nước.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
2. Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai
năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001.
3. Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004.
4. Luật tổ chức HĐND và UBND.
5. Quyết định 132/2002/QĐ-TTg ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính
phủ.
Một số tài liệu khác….

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status