Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: nghiên cứu và điều chỉnh chính sách đất đai - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo quan điểm của Nhà nước ta thì đất đai là tài nguyên vô cùng quí
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã
hội và an ninh quốc phòng.
Đất đai gắn liền với chủ quyền, lãnh thổ của mỗi quốc gia, của mỗi địa
phương; gắn liền với cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người
Trải qua bao thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới
tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay. Pháp luật nước ta luôn đặt việc
điều chỉnh các vấn đề đất đai lên hàng đầu. Nhà nước không ngừng hoàn thiện
pháp luật về đất đai để phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, với mục tiêu xây
dựng đất nước.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhà nước ta
đã ban hành Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 và ban hành Luật Đất
đai năm 2003 cùng nhiều văn bản pháp qui dưới luật như: Nghị quyết, Nghị
định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn qui định về quản lý đất đai,
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Quán triệt tinh thần đó, Luật Đất đai
năm 2003 đã kế thừa, phát triển các quy định của Luật Đất đai năm 1993, đánh
dấu một bước tiến quan trọng trọng việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật
về đất đai, thông qua việc quy định cụ thể, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của
Nhà nước- đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất
đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Công tác trong lĩnh vực quản lý nhà, đất nên tôi đã trực tiếp tham gia
vào việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về nhà, đất trên địa bàn tỉnh. Nhằm
góp phần phổ biến chính sách, pháp luật về đất đai; để việc tổ chức thực hiện
pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, có hệ thống, đảm bảo tính khoa học,
trong phạm vi đề tài này, xin được đặt ra một tình huống cụ thể về tranh chấp
nhà, đất trong nội bộ nhân dân để cùng nghiên cứu và tham khảo.
Với thời lượng và kiến thức có hạn, rất mong nhận được sự đóng góp
của quí thầy cô để đề tài được hoàn chỉnh, góp phần vào việc nghiên cứu và điều

cúng kiến ông bà. Từ khi giá đất tại thị xã Bà Rịa tăng cao, ông Nguyễn Văn Hai
đã đại diện gia tộc khiếu nại đòi bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà
Nguyễn Thị Thu bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho gia tộc ông tại UBND thị
xã Bà Rịa. Do mảnh đất trên chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND thị xã Bà Rịa.
Để giải quyết vấn đề này, ngày 26/02/1996, UBND thị xã Bà Rịa ban
hành quyết định giải quyết số 11/QĐ-UBTX với nội dung: Bảo đảm quyền lưu
cư cho các hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà Nguyễn Thị Thu và
buộc các hộ này phải đền bù cho gia tộc ông Nguyễn Văn Hai theo đơn giá tại
quyết định số 31/QĐ-UBT ngày 17/01/1995 của UBND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Đồng thời buộc bà Nguyễn Thị Thu phải giao trả lại phần đất trống 160m
2
chưa
sử dụng cho gia tộc ông Nguyễn Văn Hai; ông Nguyễn Văn Năm có trách nhiệm
bồi hoàn giá trị căn nhà đã có sẵn khi được thuê đất. Tuy nhiên, quyết định trên
chưa được thi hành do hai bên tiếp tục khiếu nại.
Ngày 23/4/1997, UBND thị xã Bà Rịa lại tiếp tục ban hành quyết định
số 40/ QĐ-UBTX để cưỡng chế việc thi hành quyết định số 11/ QĐ- UBTX ngày
26/ 02/ 1996. Do có đơn khiếu nại, ngày 28/ 6/ 1997, UBND thị xã Bà Rịa có
công văn số 140/ CV-UBTX về việc tạm ngưng thi hành quyết định cưỡng chế
để thẩm tra, xem xét lại vụ việc.
2
Ngày 30/ 12/ 1997, UBND thị xã Bà Rịa ban hành quyết định giải
quyết số 95/ QĐ-UBTX điều chỉnh một phần nội dung quyết định số 11/ QĐ-
UBTX giảm giá đền bù 30% cho các hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và
bà Nguyễn Thị Thu nhưng cả 03 hộ đều không đồng ý với cách giải quyết của
UBND thị xã Bà Rịa.
Ngày 18/ 02/ 1998, bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà Nguyễn
Thị Thu cùng đứng đơn khởi kiện hành chính tại Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa
đối với 02 quyết định số 11/ QĐ-UBTX và quyết định số 95/ QĐ-UBTX của Uỷ

50.000đ án phí hành chính sơ thẩm.
Bên khởi kiện đã không đồng ý với quyết định của Tòa án. Ngày 25/ 8/
1998, bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà Nguyễn Thị Thu nộp đơn kháng
cáo xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
3
II. Nguyên nhân và hậu quả của vụ việc:
1. Nguyên nhân:
Kể từ sau khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực, thì quyền sử dụng đất
của công dân được pháp luật bảo hộ. Do đó đất đai trở thành tài sản có giá trị
thiết thực đối với đời sống người dân. Cùng với tác động của thị trường về nhà
cửa, đất đai thì đất đai càng chứng tỏ giá trị của nó trên thị trường bất động sản.
Cũng từ đây, việc khiếu nại tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng, kéo dài và trở
thành cơn sốt như: đòi lại nhà, đất cũ, nhà đất do Nhà nước quản lý, đất gia tộc,
đất dòng họ, đất thừa kế đã trở thành một vấn đề tranh chấp, khiếu nại về đất
đai hết sức đa dạng và phức tạp, rất khó khăn cho cán bộ thụ lý. Các tranh chấp
này thường không đủ chứng cứ khẳng định tính pháp lý của đất tranh chấp hoặc
có nhiều chứng cứ pháp lý về đất tranh chấp mà pháp luật tại thời điểm giải
quyết tranh chấp không quy định cụ thể, dẫn đến việc vận dụng giải quyết không
thống nhất, không đúng tinh thần ổn định tình hình quản lý và sử dụng đất đai
của Đảng và Nhà nước(Theo qui định tại điều 83, Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008). Trong trường hợp trên, 03 hộ tranh chấp không hề có
giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc đất một cách hợp pháp, họ chỉ có giấy của cha
ông Nguyễn Văn Hai thỏa thuận đồng ý cho 03 hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn
Năm và bà Nguyễn Thị Thu thuê mướn diện tích đất nêu trên để xây nhà ở trước
giải phóng.
Một nguyên nhân nữa dẫn đến tranh chấp kéo dài là do sự không thống
nhất trong hệ thống văn bản pháp luật về đất đai và các tài sản khác gắn liền với
đất như nhà ở, công trình kiến trúc, cây lâu năm Do sự hiểu biết pháp luật của
cán bộ thụ lý còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm đối với công việc chưa cao vì lý
do kinh tế. Mặt khác, chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức đến công tác

Tuy nhiên, ở giác độ bài viết này, tôi không phân tích việc thụ lý giải
quyết của cơ quan tài phán mà chỉ đi sâu phân tích ở giác độ giải quyết của các
cơ quan hành chính Nhà nước.
III. Xây dựng các phương án và lựa chọn phương án giải quyết vụ
việc:
1. Các tiêu chuẩn để xây dựng phương án:
Vụ việc phải được giải quyết theo đúng qui định của pháp luật. Đảm bảo
pháp chế XHCN, sự nghiêm minh và công bằng của pháp luật.
Vụ việc phải được giải quyết dứt điểm.
Giữ được đạo lý và mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng dân cư làng xã
của người Việt Nam.
2. Các phương án giải quyết:
Từ vụ tranh chấp nêu trên, xin đề ra một số phương án giải quyết như sau:
2.1. Phương án 1:
Giữ lưu cư và công nhận nhà đất đó thuộc quyền quản lý sử dụng của các
hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà Nguyễn Thị Thu và không phải bồi
5
hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho gia tộc ông Nguyễn Văn Hai. Bác đơn xin
tranh chấp của ông Nguyễn Văn Hai vì căn cứ vào Quyết định số 111/ CP ngày
14/ 4/ 1997 của Hội đồng Chính phủ và căn cứ vào Khoản 2, Điều 2, Luật Đất
đai năm 1993 qui định:
“Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử
dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Công văn số 647/ CV. TCĐC
của Tổng cục địa chính hướng dẫn: “Nếu nhà xây dựng trước năm 1980 thì công
dân được công nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà hợp pháp”. Trong trường
hợp tranh chấp nhà đất nêu trên, 03 hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà
Nguyễn Thị Thu xây dựng từ trước năm 1975 và sử dụng ổn định cho đến nay.
Theo các quy định trên thì 03 hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà

bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư cho chủ cũ theo qui định của
UBND tỉnh”.
Hơn nữa tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Luật Đất đai đã công nhận
quyền sử dụng đất là tài sản thừa kế, mặc dù ông Nguyễn Văn Hai không có giấy
tờ hợp pháp về nguồn gốc khu đất tranh chấp nhưng theo những nhân chứng
sống lâu năm tại khu vực này cho biết là do cha ông là Nguyễn Văn Phái khai
khẩn trước năm 1960 và có cho các hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà
Nguyễn Thị Thu thuê mượn để ở trước 1975 (có giấy thỏa thuận thuê mướn đất
giữa các bên). Đồng thời, tại cuộc hoà giải bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm
và bà Nguyễn Thị Thu cũng thừa nhận có thuê đất của gia tộc ông Nguyễn Văn
Hai. Như vậy, ông Nguyễn Văn Hai được quyền thừa kế theo qui định của pháp
luật. Từ năm 1975 đến khi xảy ra tranh chấp, Nhà nước không có quyết định
quản lý phần nhà, đất cho thuê của gia tộc ông Nguyễn Văn Hai và cũng không
có quyết định nào giao cho 03 hộ trên quản lý sử dụng. Do đó, việc giải quyết
theo hướng buộc 03 hộ bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư cho chủ cũ
là hợp lý.
Theo phương án này, các hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông Văn Năm và bà
Nguyễn Thị Thu sẽ không hoàn toàn nhất trí, nhưng các hộ này đều công nhận có
thuê đất đang tranh chấp của gia tộc ông Nguyễn Văn Hai. Do đó, nếu xét thời
điểm trước năm 1980( Hiến pháp được ban hành), các hộ nêu trên chỉ có quyền
chiếm hữu, sử dụng, không có quyền định đoạt. Việc đóng thuế cho Nhà nước là
nghĩa vụ của tất cả những người sử dụng đất. Điều này không có nghĩa là công
nhận quyền sử dụng hợp pháp diện tích nhà, đất đang thực tế sử dụng. Tại khoản
1, mục III, Thông tư số 83/ TT-TCT ngày 7/ 10/ 1994 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành chi tiết pháp lệnh về thuế nhà, đất quy định: “ người đang trực tiếp
sử dụng đất phải kê khai nộp thuế đất. Việc kê khai nộp thuế đất này không có
nghĩa là thừa nhận tính hợp pháp về quyền sử dụng đất”. Các hộ không thể căn
cứ nghĩa vụ nộp thuế hàng năm để chứng minh cho mình có quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất nêu trên.
Đây thực sự là vấn đề khó khăn cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng
lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”.
Căn cứ vào qui định trên thì diện tích cho thuê của gia tộc ông Nguyễn
Văn Hai vượt quá qui định cho phép. Tổng diện tích cho thuê là 800m
2
, như vậy
diện tích đất trên sẽ do nhà nước quản lý. Gia tộc ông Nguyễn Văn Hai đã bị
Quyết định 111/ CP ngày 14/ 4/ 1977 của Hội đồng Chính phủ tác động điều
chỉnh làm mất quyền sử dụng diện tích 800m
2
đất. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là
vào thời điểm sau năm 1977, Nhà nước đã không quản lý bằng một quyết định
hành chính nào. Mặc khác, đến năm 1992, nhà nước ta mới có chính sách kê khai
đất đai, lập sổ bộ địa chính và đóng thuế sử dụng đất. Đồng thời, gia tộc ông
Nguyễn Văn Hai có tranh chấp đất với các hộ nêu trên. Trong đơn xin giải quyết
tranh chấp, ông Nguyễn Văn Hai chỉ yêu cầu các hộ bà Nguyễn Thị Tám, ông
Văn Năm và bà Nguyễn Thị Thu bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư
cho chủ cũ chứ không đòi lại đất của 03 hộ nêu trên.
8
Chính vì vậy, Uỷ ban nhân dân thị xã Bà Rịa quyết định giữ quyền lưu
cư cho bà Nguyễn Thị Tám quản lý sử dụng diện tích 120m
2
, ông Văn Năm quản
lý và sử dụng diện tích 200m
2
; bà Nguyễn Thị Thu quản lý sử dụng diện tích
480m
2
nhưng buộc bà Nguyễn Thị Thu trả lại phần đất 160m

và đây cũng là quyền lợi chính đáng mà ông được hưởng, vừa bảo đảm quyền
lưu cư của 03 hộ gia đình đã sống ổn định nhiều năm. Cách giải quyết này, có
thể sẽ không nhận được sự đồng tình cao của 03 hộ gia đình nêu trên nhưng xét
về mặt bản chất, nó vừa phù hợp các qui định của pháp luật, vừa phù hợp với đạo
lý của dân tộc. Xét về mặt xã hội, cách giải quyết này sẽ ổn định tình hình tranh
9
chấp đất đai, nhà ở trên địa bàn, giảm thiểu các tác động xấu về mặt xã hội do
tranh chấp trong nội bộ nhân dân gây ra.
4. Tổ chức thực hiện:
Sau khi Uỷ ban nhân dân thị xã Bà Rịa ban hành quyết định giải quyết
tranh chấp, việc tống đạt các quyết định đến từng đương sự phải được ký nhận
hoặc phải bảo đảm rằng họ đã nhận được quyết định.
Giao cho Uỷ ban nhân dân phường Phước Hiệp, Phòng Tài nguyên - Môi
trường thị xã Bà Rịa trong thời hạn 30 ngày có trách nhiệm mời các cơ quan liên
quan, các bên đương sự đến trụ sở để công bố nội dung quyết định, giải thích
những vấn đề đương sự thắc mắc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Tất cả các
trình tự nêu trên phải được lập biên bản theo đúng qui định của pháp luật. Hướng
dẫn các bên lập thủ tục kê khai đất đai, làm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để
được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, báo cáo kết quả thực hiện
về Uỷ ban nhân dân thị xã Bà Rịa để theo dõi. Đồng thời, nội dung quyết định
giải quyết tranh chấp phải dành cho các bên liên quan quyền giải quyết tranh
chấp lần cuối cùng là của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để các đương
sự được biết.
IV. Một số nhận xét và kiến nghị cụ thể:
1. Nhận xét chung:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân có nghĩa là đất đai không thuộc quyền sở
hữu của một tổ chức hay một cá nhân công dân nào. Các tổ chức, cộng đồng dân
cư, hộ gia đình, cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất. Đất đai là thuộc về
toàn dân do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu. Quyền sở hữu toàn dân đối với
đất đai ở đây là quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối và duy

quyết tranh chấp, khiếu nại, dẫn đến tình trạng tồn đọng đơn còn nhiều, khó giải
quyết cần được điều chỉnh cho phù hợp. Mặc dù các cơ quan chức năng của tỉnh
và một số huyện có cố gắng nhưng nhìn chung chưa có chuyển biến tích cực.
Các quyết định hành chính vẫn tiếp tục bị khiếu nại hoặc khởi kiện theo thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính tại Tòa án các cấp. Các quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai lần cuối đôi lúc không thể thực hiện. Điều này có thể có những
nguyên nhân khách quan như sự bất cập và không hệ thống của các văn bản qui
phạm pháp luật nhưng mặt khác nó cũng xuất phát từ những yếu kém chủ quan
của đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan hành pháp. Trong thời gian tới,
cần xem đây là vấn đề mấu chốt để giải quyết tốt hơn các tranh chấp, khiếu nại,
khắc phục ngay những tồn tại nhằm tăng cường kỷ luật hành chính trong các cơ
quan công quyền.
Đối với vụ việc trên, tuy chưa phải là một vụ tranh chấp phức tạp, khó
giải quyết nhưng do đặc thù kéo dài nhiều năm và xử lý không dứt điểm làm cho
các bên tham gia quan hệ phải chờ đợi, theo đuổi việc giải quyết tranh chấp, làm
mất nhiều công sức, tiền của của xã hội (Vụ việc này đến năm 2003 mới được
giải quyết dứt điểm). Trên quan điểm đúng đắn, khoa học, Nhà nước ta coi đất
đai là tài nguyên vô cùng quí giá thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất
quản lý. Nhà nước tôn trọng quyền sử dụng đất ổn định, hợp pháp của người sử
dụng đất. Căn cứ các tình tiết và quá trình giải quyết của các cơ quan chức năng,
11
đối chiếu với các qui định pháp luật về đất đai thì lựa chọn phương án bảo đảm
quyền lưu cư của các hộ gia đình đã liên tục sử dụng đất ổn định có bồi hoàn cho
chủ sử dụng đất cũ là phương án có thể chấp nhận được. Mặc dù vậy, vấn đề băn
khoăn là việc Nhà nước chấp nhận một số trường hợp đòi lại đất cũ đã liên tục sử
dụng ổn định làm xáo trộn cuộc sống một bộ phận không nhỏ dân cư, gây tâm lý
bất an đối với những người chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cần xem xét thận trọng, có
bước đi đúng đắn khi ban hành các chính sách nhằm khắc phục những sai lầm
trước đây, do trình độ quản lý còn hạn chế, Nhà nước ta đã ban hành những qui

vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 17 Điều 11 của Pháp lệnh này
trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai
do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải
quyết khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương ”…
Như vậy, về thủ tục quy định quyền khiếu nại, khiếu kiện đã có sự mâu
thuẫn giữa Luật Khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính. Đây là một thực tế có xung đột pháp luật đã và đang diễn ra làm hạn chế
quyền khiếu kiện của công dân, tổ chức.
- Bộ Tài nguyên-Môi trường và Tổng Thanh tra cần có bảng tổng kết
hàng năm một số vụ giải quyết tranh chấp, khiếu nại điểm, nêu các cách làm hay
của một số tỉnh thành điển hình để UBND các tỉnh rút kinh nghiệm. Đặc biệt cập
nhật ngay các văn bản pháp luật còn hiệu lực thi hành, không còn hiệu lực thi
hành để làm căn cứ cho UBND các tỉnh giải quyết tranh chấp, khiếu nại.
- Phối hợp ngành Tòa án tổ chức hội thảo về các vi phạm trong các quyết
định hành chính về hình thức lẫn nội dung để rút kinh nghiệm cho công tác giải
quyết tranh chấp, khiếu nại, ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại đúng
pháp luật. (Mẫu hóa hình thức các quyết định giải quyết khiếu nại để không bị cơ
quan xét xử tuyên hủy do vi phạm về hình thức trong các vụ kiện hành chính tại
Tòa án).
- Giải quyết các vụ tranh chấp đất đai phải khách quan, dân chủ, đúng
pháp luật. Muốn vậy, cần nâng cao phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng trình độ, năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ nhất là kiến thức pháp luật về đất đai…cho cán bộ
làm công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo để thực hiện tốt
công tác tham mưu, đề xuất giải quyết vụ việc.
- Tăng cường trách nhiệm và vai trò của chính quyền cơ sở trong việc
thực hiện Pháp lệnh Hòa giải ở cơ sở. Cần chú ý đề cao biện pháp hướng dẫn,
thuyết phục cũng như các cách thức, phương pháp khác của hoạt động hoà giải

phạm pháp luật được dư luận quan tâm; các quyết định, bản án đã có hiệu lực
pháp luật cần tổ chức thực hiện nghiêm túc, vừa tăng cường hiệu lực quản lý của
Nhà nước, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; việc xem xét xử lý
những tổ chức và cán bộ mà qua kiểm tra phát hiện thấy thiếu trách nhiệm, tiêu
cực trong giải quyết làm chậm trễ hoặc né tránh việc thi hành các thông báo, kết
luận của cấp có thẩm quyền. Cần tăng cường trong việc xem xét xử lý đối với
người có hành vi móc nối, kích động khiếu kiện, gây mất trật tự an ninh, vi phạm
pháp luật.
- Ban hành qui trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng luật, quy định rõ trách nhiệm của UBND
các cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trong việc giải quyết và tham mưu
14
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chú trọng trong việc đối thoại với nhân dân trong
xem xét giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo để có kết luận chính xác, tránh
oan sai.
- UBND các cấp cần rà soát lại các vụ giải quyết tranh chấp, giải quyết
khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của mình, những quyết định đã có hiệu lực
pháp luật để có kế hoạch xem xét giải quyết và tổ chức thực hiện dứt điểm nhằm
hạn chế đơn thư tồn đọng, quyết định có hiệu lực pháp luật không tổ chức thực
hiện được.
C. KẾT LUẬN
Trong thực tế giải quyết các tranh chấp, trong đó tranh chấp về đất đai,
nhà ở là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm. Các quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên, ảnh hưởng
đến đời sống vật chất và tinh thần của những người liên quan và trật tự xã hội mà
pháp luật bảo vệ. Do vậy, việc cân nhắc thận trọng từng vụ việc, đưa chúng vào
mối quan hệ tác động qua lại để xem xét thấu đáo vừa là đạo đức công vụ, vừa là
trách nhiệm của các công chức thừa hành. Quyền lợi của các bên tranh chấp luôn
đối nghịch nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Làm
thế nào để giải quyết thấu tình đạt lý là mục đích của pháp luật, là chính sách

2.2 Phương án 2 6
3. Chọn phương án giải quyết 7
4. Tổ chức thực hiện 9
IV. Một số nhận xét và kiến nghị 10
1. Nhận xét chung 10
2. Kiến nghị 12
C. Kết luận 14
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp năm 1980, 1992;
2. Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003;
3. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, 2004, 2005; Nghị định
136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ
4. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1998, 2006;
5. Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1997 của Hội đồng Chính phủ ban
hành chính sách cải tạo và quản lý XHCN đối với nhà đất cho thuê ở
các tỉnh phía nam;
6. Nghị quyết 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội; Nghị quyết
755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội và Nghị định 197/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của Chính
phủ quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà
đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính
sách cải tạo XHCN trước ngày 01/7/1991
7. Thông tư số 83/TC-TCT ngày 07/10/1994 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh về thuế nhà, đất.
17
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status