Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em ở tỉnh Lào Cai hiện nay (nghiên cứu tại thành phố Lào Cai và huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ THỊ THU THỦY
(Mau M58, 80 trang , 1 quyen) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ TRẺ EM
VỀ QUYỀN TRẺ EM Ở TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY
( NGHIÊN CỨU TẠI TP LÀO CAI VÀ HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Mã ngành: 60 31 30
Mã ngành: 60.31.30
1.1.2. Thuyết xã hội hóa 25
1.1.3. Lý thuyết vai trò 28
1.2. Các khái niệm công cụ 30
1.2.1. Khái niệm trẻ em 30
1.2.2. Khái niệm quyền trẻ em 31
1.2.3. Khái niệm câu lạc bộ quyền trẻ em 36
1.3. Những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về quyền trẻ em 37
1.3.1. Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em 37
1.3.2. Những chính sách của Nhà nƣớc về thực hiện quyền trẻ em 38
1.4. Tổng quan tình hình các câu lạc bộ trẻ em về Quyền trẻ em ở Việt Nam 39
1.5. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 41
1.5.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Lào Cai 41
1.5.2. Tình hình thực hiện quyền trẻ em tại tỉnh Lào Cai 43
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC CÂU LẠC BỘ TRẺ EM VỀ QUYỀN
TRẺ EM Ở TP LÀO CAI VÀ HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI 47
2.1. Tình hình hoạt động của các CLBTE về Quyền trẻ em tại TP. Lào Cai và Huyện Bát
Xát 47
3
2.1.1. Số lƣợng CLBTE về Quyền trẻ em và cơ quan quản lý 47
2.1.2. Mục đích, nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của các CLBTE về Quyền trẻ em
50
2.1.3. Địa điểm và kinh phí hoạt động của các CLBTE về Quyền trẻ em 56
2.1.4. Nội dung, hình thức tổ chức sinh hoạt và tần suất hoạt động của CLBTE về Quyền
trẻ em 58
2.1.5. Mức độ tham gia của trẻ em vào các CLBTE về Quyền trẻ em 61
2.2. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của các CLBTE về Quyền trẻ em 68

UBBV&CSTE : Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em
UBBV&CSTEVN : Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
THCS : Trung học cơ sở
TNCS HCM : Thanh niên cộng sản Hồ chí Minh
CLBTE : Câu lạc bộ trẻ em
LHQ : Liên hợp quốc
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
BCH TW : Ban chấp hành trung ương
CSVN : Cộng sản Việt Nam
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TE : Trẻ em
UBND : Ủy ban nhân dân
UNICEF : Tổ chức Nhi đồng Liên Hiệp quốc

5
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình trẻ em theo nhóm tuổi 44
Bảng 1.2: Số lượng các câu lạc bộ theo địa bàn từng huyện 45
Bảng 2.1: Đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động 61
Bảng 2.2: Mức độ tham gia của trẻ vào hoạt động của các CLBTE về

em 88
Biểu đồ 3.8: Hiểu biết về quyền và bổn phận trẻ em theo đánh giá của cán
bộ/giáo viên 90
Biểu đồ 3.9: Hiểu biết về quyền và bổn phận trẻ em theo đánh giá của cha
mẹ 91

7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước
quốc tế về Quyền trẻ em (1990). Điều này thể hiện sự quan tâm của nhà nước
trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Theo đó Việt Nam có nghĩa
vụ phải thực thi những nguyên tắc và chuẩn mực quy định trong Quyền trẻ
em.
Trên thực tế, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã và đang chuyển tải các
nội dung cơ bản của quyền trẻ em và tạo điều kiện cụ thể ở Việt Nam bằng
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình nhằm ghi nhận, thực thi và bảo
vệ tốt hơn quyền trẻ em ở Việt Nam. Bằng chứng là các văn bản hướng dẫn
thi hành (Nghị định 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 và nghị định
71/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011). Đặc biệt, trong chương trình nghị sự của
Quốc hội năm 2012 – 2013, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một
trong những luật sẽ được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.
Nhiều chính sách cụ thể hóa Luật BVCS&GD Trẻ em đã được ban
hành và thực thi có hiệu quả, thí dụ chỉ thị số 55/CT-TW, Quyết định số 19
QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phòng ngừa và giải quyết trẻ em lang thang,
trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em bị lao động trong điều kiện nặng nhọc,
độc hại, Quyết định 267/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ

vậy, vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa nhận thức về Quyền trẻ em và
các hành động cụ thể. Hiện nay, việc quán triệt nội dung các Quyền của trẻ
em từ lời nói, nhận thức đến hành động vẫn chưa thực sự đồng đều. Nhiều
hoạt động truyền thông vẫn chưa thực sự có hiệu quả trong việc tham gia
khuyến khích thay đổi hành vi bền vững nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho
trẻ em. Đâu đó, vẫn tồn tại những khoảng trống, những thiếu hụt trong nhận
thức đến hành động thực tiễn cũng là một quá trình lâu dài. Bởi lẽ, có thể
9
người dân nhận thức được nhưng nhận thức đó chưa trở thành hành động
trong thực tiễn, càng khó hình thành được một khuôn mẫu ứng xử trong xã
hội.
Trong những năm vừa qua, các hình thức tổ chức thực hiện quyền tham
gia của trẻ em đã được quan tâm và thúc đẩy thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ
em được phát triển toàn diện hơn cả về thể chất và tinh thần. Với mục đích
nhằm thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam, tạo điều kiện hơn nữa
cho trẻ em đóng góp ý kiến của mình vào các vấn đề ảnh hưởng đến các em,
lấy cơ sở để củng cố và cải tiến các hình thức tổ chức, hoạt động của các câu
lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em. Đồng thời nhằm tìm hiểu thực trạng các hình
thức tổ chức câu lạc bộ trẻ em hoạt động về quyền trẻ em góp phần đa dạng
hơn nữa vào các hình thức hoạt động để thu hút ngày một đông trẻ em tham
gia, hiểu rõ được quyền của mình. Tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ “Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em ở tỉnh Lào Cai
hiện nay.”(Nghiên cứu tại TP Lào cai và Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai).
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trẻ em là nhóm xã hội đặc biệt luôn chiếm được sự quan tâm rất lớn
của Đảng, Chính phủ và các tổ chức xã hội. Do đó trong những năm qua, đã
có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về các vấn đề của trẻ em nói chung và

trình dựa trẻ cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em Việt Nam” của
Christitan Salazar Volkmann có một mục về sự tham gia và tăng cường quyền
năng đề cập đến sự tham gia của trẻ em. Nghiên cứu này nhận định rằng
“Quan niệm của người Việt Nam về trẻ em còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi
Khổng giáo là yêu cầu trẻ em phải vâng lời cha mẹ. Mãi đến gần đây vấn đề
tham gia của trẻ em và người chưa thành niên mới được coi trọng hay được
đặt thành vấn đề bàn luận ở Việt Nam. Hầu như không có thông tin gì về vấn
đề này chỉ có một vài nghiên cứu về mức độ các ý kiến của trẻ em được tham
11
gia ở gia đình và trường học được khẳng định rằng ý kiến của trẻ em không
đóng góp một vai trò quan trọng trong gia đình hay cộng đồng.
Luận văn Thạc sĩ Trần Thị Thúy Hảo, người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Đinh Văn Hường – ĐH KHXH &NV. “Báo in với vấn đề quyền
tham gia của trẻ em hiện nay”. Tìm hiểu, đánh giá việc tuyên truyền và thực
hiện nhóm quyền tham gia của trẻ em trên báo Thiếu niên tiền phong, Thiếu
nhi dân tộc, Hoa học trò, Tạp chí gia đình và trẻ em. Nghiên cứu đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền và
thực hiện Quyền tham gia của trẻ em trên 4 sản phẩm báo chí trên. Những giải
pháp này góp phần tạo môi trường thuận lợi nhất để trẻ em có cơ hội thể hiện
suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình, đồng thời tác động tới các đối
tượng liên quan đến trẻ em.
Công trình nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em về vấn đề
quyền trẻ em hiện nay” (Quan cuộc điều tra kiến thức, thái độ, hành vi của
cộng đồng về quyền trẻ em 2004 – 2005), của tác giả Trịnh Hòa Bình đăng
trên tạp chí xã hôi học số 4 (92) 2005, nghiên cứu tập trung điều tra về kiến
thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em, (2004 – 2005) trên quy
mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với sự tham gia của 3000 cha mẹ trong

ích.
Báo cáo “Hai mươi năm Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế
Quyền trẻ em - Từ tầm nhìn tới hành động” của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội (2010). Báo cáo đã tổng kết những thành quả đạt được sau 20 năm
phê chuẩn Công ước quốc tế Quyền trẻ em. Báo cáo nhấn mạnh để tiếp tục
thực hiện hiệu quả hơn Công ước quốc tế Quyền trẻ em tại Việt Nam trong
thời gian tới, “Chúng ta cần tiếp tục duy trì và thực hiện tốt hơn các quyền
được sống; quyền được phát triển với chất lượng ngày càng cao của trẻ em.
Mặt khác, còn tiếp tục phải giải quyết những vấn đề của các quyền được bảo
vệ, được an toàn, thúc đẩy các quyền được tham gia để mọi trẻ em đều có cơ
13
hội tiếp cận các dịch vụ, phúc lợi xã hội, phát huy tối đa các cơ hội trưởng
thành, được sống trong môi trường gia đình hạnh phúc” - Bộ trưởng Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu.
Báo cáo “Hoạt động, tư vấn – xây dựng chương trình truyền thông –
vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 – 2005” do PLAN
INTERNATIONAL HÀ NỘI tài trợ, 2001 – Trịnh Hòa Bình và cộng sự thực
hiện đã đánh giá nhận thức của người dân về Luật BVCS&GDTE và một số
quyền cơ bản của trẻ em trên 9 tỉnh/thành phố. Từ đó xây dựng chương trình
truyền thông – vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001 – 2005. Báo cáo đã đưa
ra được những kết quả bước đầu về nhận thức của người dân về quyền trẻ em
là xây dựng chương trình truyền thông – vận động về quyền trẻ em.
Dự án “Tăng cường năng lực cho trẻ em và các tổ chức xã hội trong
Giám sát thực thi Quyền Trẻ em giai đoạn 2011 – 2012” do SIDA tài trợ
thông qua Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Việt Nam, được thực hiện bởi Hội Bảo vệ
Quyền Trẻ em (VAPCR), Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Trẻ em
(CENFORCHIL) và Trung tâm Nghiên cứu Gia đình và Phát triển Cộng đồng

đình và cộng đồng trong sự nghiệp BVCS&GD trẻ em” (GS.TS Phạm Tất
Dong làm chủ nhiệm). Tỷ lệ người dân hiểu luật BVCS&GD trẻ em là tương
đối lớn, trung bình là 80,6%. Điều này cho thấy việc tuyên truyền, phổ biến
về Luật của được thực hiện thường xuyên lien tục. Đa số người được hỏi đều
tiếp nhận Luật qua kênh tivi, đài và báo chí.
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về trẻ em nói chung và quyền trẻ em
nói riêng. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu dừng lại ở một vấn đề nhỏ trong
vấn đề quyền trẻ em và những nghiên cứu về các câu lạc bộ trẻ em hoạt động
về quyền trẻ em còn khá mới mẻ. Nghiên cứu này với mục đích tìm hiểu thực
trạng hoạt động của các câu lạc bộ Quyền trẻ em cũng như tìm hiểu hiệu quả
hoạt động của của câu lạc bộ và mức độ tham gia của trẻ trong việc tham gia
15
các tổ chức hoạt động về quyền của mình, góp phần đa dạng vào vấn đề về
Quyền trẻ em của nhân loại.
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết xã hội học vào việc làm rõ
một vấn đề xã hội đó là tìm hiểu việc tham gia các câu lạc bộ trẻ em về Quyền
trẻ em địa bàn tỉnh Lào Cai. Những kết quả của nghiên cứu sẽ phần nào làm
sáng tỏ một số khái niệm, quan điểm lý thuyết xã hội học liên quan đến trẻ em
và Quyền trẻ em.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cho thấy được tình hình hoạt động về quyền trẻ em của các câu lạc bộ
trẻ em ở địa bàn một thành phố và một huyện của tỉnh Lào Cai.
- Góp phần đề xuất những biện pháp cải thiện hiệu quả hoạt động của
câu lạc bộ trẻ em về Quyền trẻ em.
4. Mục đích nghiên cứu

- Cha mẹ của các em.
- Giáo viên làm vai trò quản lý các hoạt động đoàn – đội
- Cán bộ đoàn đội của xã
6.3. Phạm vi khảo sát
- Thời gian khảo sát: Tháng 10/2012
- Không gian khảo sát: Thành phố Lào cai và huyện Bát xát tỉnh Lào
Cai.
(1)Xã Đồng Tuyển- Thành Phố Lào Cai – Trường THCS Đồng Tuyển.
(2) Xã Quang Kim- Huyện Bát xát – Trường THCS Quang Kim
7. Câu hỏi Nghiên cứu
- Tình hình hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về Quyền trẻ em ở Lào Cai
hiện nay như thế nào?
17
- Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về Quyền trẻ em có tác động như thế
nào đến các em, cha mẹ các em, giáo viên và chính quyền địa phương?
- Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em ở tỉnh Lào Cai có
những thuận lợi, khó khăn gì?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em với nhiều loại
hình, nội dung hoạt động phong phú đã thu hút được sự tham gia của hầu hết
trẻ em và giúp nâng cao hiểu biết về quyền trẻ em.
- Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh
Lào Cai có nhiều tác động đến trẻ em nói riêng và cha mẹ, giáo viên, cán bộ
chính quyền địa phương nói chung trong việc nâng cao nhận thức về thực
hiện quyền trẻ em.
- Việc thành lập các câu lạc bộ trẻ em được các cấp chính quyền địa
phương quan tâm song vẫn còn những khó khăn riêng như thiếu cán bộ nòng

2
Phú Yên
48
120
48
3
Lào Cai
48
120
48
4
Trà Vinh
48
120
48
5
Tổng cộng
192
480
192

Tác giả là người tham gia cuộc khảo sát với vai trò là cán bộ điều tra tại
2 tỉnh Lào Cai và Bắc Cạn. Tuy nhiên do có hạn về địa bàn nghiên cứu,
nghiên cứu này chỉ phân tích số liệu và phản ánh thực trạng các câu lạc bộ về
Quyền trẻ em của tỉnh Lào Cai.
Bộ công cụ được xây dựng cho 3 đối tượng: Trẻ em, cha mẹ và cán
bộ/giáo viên với phương pháp chọn mẫu như sau:
Trẻ em
Lựa chọn trẻ em từ 11 đến dưới 16 tuổi đang tham gia câu lạc bộ trẻ em
về Quyền trẻ em như: câu lạc bộ Quyền trẻ em, câu lạc bộ phóng viên nhỏ,

(%)
1
1. Giới tính 2
1.1. Nam
70
58
3
1.2. Nữ
50
42
4
2. Khu vực 5
2.1. Thành thị
46
38
6
2.2. Nông thôn
74
62

Bảng cơ cấu mẫu cha mẹ.

65

Bảng cơ cấu mẫu cán bộ/giáo viên
Stt
Tiêu chí
Số lượng
(người)
Tỷ lệ
(%)
1
1. Giới tính 2
1.1. Nam
18
38
3
1.2. Nữ
30
62
4
2. Khu vực 5
2.1. Thành thị
35
73
6

22
10. Khung phân tích


Nhà trường
Chính
quyền

Trẻ em
23
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các lý thuyết áp dụng
1.1.1. Lý thuyết cấu trúc – chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội
học nổi tiếng như: Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim,
Malinowski, Kingley Davids và Talcott Parsons, Robert Merton.
Theo cách tiếp cận của các nhà cấu trúc - chức năng, xã hội được coi là
một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận giữ một vai trò
bình thường nào đó trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực
hiện một số yêu cầu hay chức năng nào đó và thoả mãn những nhu cầu nhất
định của xã hội. Các nhà xã hội học cấu trúc - chức năng nhấn mạnh tính liên
kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận
đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với
tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững. Đồng thời các nhà xã hội
học này luôn coi xã hội tồn tại trong trạng thái cân bằng có trật tự, hài hoà và
như một thể thống nhất chứ không phải là một nhóm hay tập hợp các cá nhân
đối nghịch. Theo họ "Các xã hội có khuynh hướng được xây dựng nội tại,
hướng tới sự hài hoà và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức hay cơ chế
sinh học." [33, tr.35].

bộ Quyền trẻ em tại xã thì chúng ta có thể nhìn nhận rằng. Các câu lạc bộ này
chịu sự quản lý của trường học hoặc Đoàn thanh niên của xã, trên đó nữa là
Đoàn thanh niên cấp huyện, trên huyện là sự quản lý của Sở lao động thương
binh xã hội tỉnh, Sở Giáo dục. Tất cả các tổ chức hoạt động đều hướng tới
mục đích là nâng cao hiểu biết về quyền và bổn phận trẻ em cho trẻ dưới 16
tuổi (Theo quy định về tuổi trẻ em của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em Việt Nam).
25
Như vậy khi đặt các câu lạc bộ trẻ em về Quyền trẻ em vào trong tổng
thể hệ thống các tổ chức hoạt động về quyền trẻ em, ta nhìn nhận được chức
năng, nhiệm vụ của các câu lạc bộ đó và hiểu sự tác động qua lại của các tổ
chức trong một hệ thống ổn định.
1.1.2. Thuyết xã hội hóa
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hoá. Nhà khoa học người
Nga G.Andreeva cho rằng: “Xã hội hoá là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân
tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội,
vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ
động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào
các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội.” [18, tr. 258- 259].
Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Có
bốn nhân tố chính tác động đến quá trình xã hội hóa cá nhân, đó là: gia đình,
nhà trường, bạn bè và các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài ra còn
một số nhân tố khác tác động đến quá trình xã hội hóa cá nhân như: nhà nước,
tôn giáo, dư luận xã hội, nơi làm việc… nhưng trong phạm vi đề tài này, tôi
chỉ xem xét bốn nhân tố chính bên trên.
Gia đình
Gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên và quan trọng với cá nhân. Đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status