ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO
NHU CẦU HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và
THPT Trần Phú Hà Nội)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thu Hƣơng
Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN
và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào. Tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên Trần Thị Phương Thảo MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của nghiên cứu 7
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
5. Phạm vi nghiên cứu 8
6. Câu hỏi nghiên cứu 8
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
8. Giả thuyết nghiên cứu 9
9. Phương pháp nghiên cứu 9
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.1Các khái niệm công cụ 13
1.1.1 Nhu cầu 13
1.1.2 Công tác xã hội 13
1.1.3 Học sinh THPT 14
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 14
1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 14
MỤC CHỮ VIẾT TẮT CTXH Công tác xã hội
THPT Trung học phổ thông
THPTDL Trung học phổ thông dân lập
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của trẻ em quyết định không nhỏ đến vận mệnh của một đất
nước. Trẻ em luôn cần nhận được sự quan tâm, chăm sóc và yêu thương của toàn xã
hội để có thể phát triển toàn diện. Cùng với sự phát triển về mặt kinh tế, xã hội, văn
hóa của đất nước. Quá trình xã hội hóa của cá nhân diễn ra nhanh chóng, sự du nhập
của lối sống và văn hóa phương Tây, kinh tế thị trường, cùng với các tệ nạn xã hội
có tác động mạnh mẽ tới trẻ em, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên – nhóm lứa tuổi
có nhiều thay đổi về tâm sinh lý , luôn nhạy cảm trước những biến động của xã hội.
Học sinh THPT gồm các em đa số từ lứa tuổi 16-18, là lứa tuổi vị thành
niên. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của cuộc đời con người. Giai đoạn này các
em phải đối mặt với nhiều “khủng hoảng” đầu đời, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của
các điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế của gia đình, nhà trường và xã hội, gặp
nhiều khó khăn, áp lực trong học hành, thi cử cũng như định hướng nghề nghiệp
cho tương lai
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười học
chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường học khiến cho việc học hành ngày càng sa
sút. Bên cạnh đó, các em gặp phải các khó khăn trong học tập, trong các mối quan
hệ xã hội, có nhiều vướng mắc trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, gia
đình, Những điều này có thể dẫn đến các vấn đề như rối nhiễu cảm xúc (lo âu, trầm
cảm, tức giận, ), rối nhiễu hành vi (chống đối xã hội, bạo lực học đường,…),
nghiện game, sử dụng chất gây nghiện, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự
tử,…Do đó, cần có một giải pháp phòng ngừa về mặt lâu dài cũng như các can thiệp
kịp thời để các em lấy lại cân bằng và tự giải quyết vấn đề của chính mình.
Thực tế các nước trên thế giới cho thấy công tác xã hội trong trường học
đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên. Ở Việt Nam, công
tác xã hội đã và đang trên đà phát triển và dường như vẫn còn thiếu vắng một mạng
lưới cơ sở cung cấp các dịch vụ công tác xã hội trong trường học nhằm giải quyết
hiệu quả các vấn đề trên. Trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ này, người viết lựa
xã hội trường học. [3]
Về vấn đề vai trò của nhân viên CTXH trong trường học, các nhà nghiên cứu
đã sử dụng những thước đo khác nhau, và được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau.
Jacqueline Agresta đã nghiên cứu về vai trò của nhân viên CTXH trong sự so sánh
giữa nhận thức vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH, nhà tâm lý học, tư vấn
viên trong trường học. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân viên CTXH trong trường
3
học, tư vấn viên dành nhiều thời gian cho vai trò là tư vấn, trong khi đó các nhà tâm
lý học dành nhiều thời gian hơn cho việc thử nghiệm tâm lý và viết báo cáo.
Tác giả Andy Frey và Nancy George Nichols lại xem xét vai trò của nhân
viên CTXH trong trường học thông qua việc nghiên cứu thực hành can thiệp rối
loạn hành vi và cảm xúc ở trẻ em, nhấn mạnh đến vai trò của nhân viên CTXH
trường học trong quá trình thực hành can thiệp [27,tr98]
Nhìn nhận vai trò từ một khía cạnh cụ thể hơn, tác giả Debra M.Hermandez
Jozefowicz-Simbeni nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ dẫn đến bỏ học ở lứa tuổi vị
thành niên, thông qua đó tìm hiểu vai trò của nhân viên CTXH trong việc nỗ lực
phòng chống nguy cơ bỏ học [38,tr128]
Vai trò của nhân viên CTXH lại được tác giả Natasha K.Bowen xem xét
thông qua việc can thiệp tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa gia đình và nhà
trường nhằm thúc đẩy sự thành công trong việc giáo dục con em họ. Nhân viên
CTXH đóng vai trò là người kết nối, tăng cường sự trao đổi thông tin giữa gia đình
và trường học và cung cấp cho gia đình các nguồn tài nguyên giáo dục[29,tr 45].
Tương tự như vậy, nghiên cứu của C.Anne Broussard cũng đã chỉ ra vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Nhà –
Trường (Home-school), đặc biệt đối với các gia đình đa sắc tộc nhằm giảm bớt vấn
đề phức tạp này tại các trường học ở Mỹ [32,tr78].Cũng nhằm nhấn mạnh đến vấn
triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính khoa học và có hệ
thống. Tác giả đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam
như: Nhiệm vụ của công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và
phát triển như thế nào, làm thế nào để có thể phát triển công tác xã hội một các tập
thể Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về thực trạng công tác xã hội tại
Việt Nam, phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp với Bộ lao động
thương binh và xã hội, Ủy ban dân số Gia đình và trẻ em, Bộ Giáo dục và đào tạo
và 3 trường Đại học để tiến hành một cuộc khảo sát và phân tích hiện trạng về lĩnh
vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức về công tác xã hội và các quan điểm của
nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát triển công tác xã hội như một nghề ở
Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng
họ đã được đào tạo công tác xã hội. Việc đào tạo này phần lớn nói đến các khóa đào
tạo ngắn hạn được cấp chứng chỉ, và có khoảng từ 15% đến 20% đục đào tạo công
tác xã hội cấp Đại học. Môt số người trả lờ rằng họ được đào tạo công tác xã hội
thực tế là những người có bằng đạo học của một chuyên ngành hoặc các lĩnh vực
5
khác và họ có học qua những lớp đào tạo tại chức về công tác xã hội. Loại hình
công việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và
phát triển công đồng, còn công tác tham vấn, quản lý ca và công tác hành chính là
loại hình công việc chiếm phần ít. Từ những kết quả nghiên cứu, tác giả thảo luận
khung chương trình phát triển công tác xã hội và đưa ra một số ý tưởng cho phát
triển công tác xã hội ở Việt Nam.
“Nguồn nhân lực Công tác xã hội và nhu cầu đào tạo” – Đặng Kim
Khánh Ly trong Kỷ yếu hội thảo khoa học 2010 – Đổi mới Công tác xã hội trong
điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận và thực
tiễn. Tác giả khẳng định Công tác xã hội ngày càng có vị trí quan trọng trong sự
Nhu cầu công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
Cần có một đội ngũ cán bộ CTXH chuyên nghiệp, đông đảo được đào tạo để đáp
ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi.
“Nhu cầu về hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện
nay” – tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới
CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận
và thực tiễn – 2010. Tác giả đã đưa ra những nhu cầu hoạt động CTXH đối với sự
phát triển kinh tế xã hội. Nhu cầu can thiệp CTXH trong một số lĩnh vực của đời
sống như: các nhóm yếu thế trong xã hội, các nhóm có nhu cầu được chăm sóc sức
khỏe tâm thần, các lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những nhu cầu
trong hoạt động đào tạp CTXH, đội ngũ nhân viên CTXH còn thiếu và yếu chưa
đảm bảo được chất lượng. Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa phát triển
CTXH theo hướng chuyên nghiệp hóa gắn liền với thực tiễn. Những nhu cầu về
hoạt động nghiên cứu thuộc lĩnh vực CTXH: nghiên cứu vấn đề liên quan đến nhóm
yếu thế, những phương pháp, kỹ thuật, kỹ năng thực hành CTXH Bên cạnh đó, tác
giả có một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động CTXH đáp ứng nhu cầu phát
triển CTXH: thể chế hóa ngành CTXH một cách chính thức, chú trọng hơn nữa
công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành CTXH.
Nghiên cứu của Trần Thanh Hương về “Nhu cầu và thực trạng hoạt động
nghề CTXH hiện nay qua đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội” đã tìm
hiểu nhận thức cũng như vai trò của hoạt động công tác xã hội trong thực tiễn. Đồng
thời chỉ ra một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của công tác xã hội
và mô hình phát triển hoạt động công tác xã hội một cách chuyên nghiệp. Đây chính
là điểm mới của đề tài khi chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động công
7
tác xã hội, đặc biệt là qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội những người trực
8
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nhu cầu CTXH trong trường học THPT
4.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh THPT Dân lập Văn Hiến, học sinh THPT Trần Phú, Hà Nội
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi thời gian: tháng 1/2012 đến tháng 5/2013
5.2 Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường Trường THPT Dân lập Văn
Hiến và trường THPT Trần Phú, Hà Nội
5.3 Giới hạn nghiên cứu:
Trong khuôn khổ đề tài luận văn, nghiên cứu chủ yếu hướng đến việc nhận
diện, đánh giá các vấn đề mà học sinh đang gặp phải cũng như nhu cầu cần sự trợ
giúp của nhân viên CTXH trường học, trên cơ sở đó thử nghiệm một số vai trò của
nhân viên CTXH trong trường học
6. Câu hỏi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, người nghiên cứu cố gắng đi tìm câu trả lời cho 3 câu
hỏi lớn:
Thực trạng các vấn đề khó khăn mà học sinh THPT thường gặp phải là gì?
Các hình thức hỗ trợ học sinh giải quyết khó khăn học đường hiện nay như
thế nào?
Vai trò của nhân viên CTXH được thể hiện như thế nào trong trường học?
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các vấn đề khó khăn mà học
sinh THPT hiện đang gặp phải cũng như tìm hiểu nhu cầu cần có CTXH trong
các nhà nghiên cứu phân tích các sự kiện, hiện tượng một cách khách quan, hiệu
quả. Nhờ có phương pháp này, người nghiên cứu đã hoàn thiện được cơ sở nghiên cứu lý
luận của đề tài, làm tiền đề cho việc xây dựng bảng hỏi và nghiên cứu thực tiễn
9.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Công tác xã hội là một ngành nghề còn mới ở Việt Nam hiện nay. Do vậy,
trước khi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng nhu cầu CTXH trong trường học,
chúng tôi đã có buổi trò chuyện với các em học sinh cũng như giáo viên trong
trường nhằm mục đích giới thiệu qua về Công tác xã hội là gì? Vai trò và nhiệm vụ
10
của một nhân viên CTXH trong trường học là gì để thầy cô cũng như các bạn học
sinh có những hình dung cơ bản nhất về một nhân viên CTXH trong trường học.
Nghiên cứu sử dung phương pháp thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu các vấn đề
khó khăn trong học đường của học sinh THPT. Từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế
bảng hỏi để đi sâu tìm hiểu, đánh giá nhu cầu cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH
trong trường học. Bên cạnh đó, các buổi thảo luận nhóm cũng được triển khai sau
khi bảng hỏi được phát ra nhằm kiểm chứng lại nguồn thông tin thu được từ bảng
hỏi đồng thời nhằm đi sâu, làm rõ thêm một số vấn đề chưa được thể hiện rõ trong
bảng hỏi.
Nghiên cứu tiến hành 4 buổi thảo luận nhóm bao gồm: 3 buổi thảo luận
nhóm với học sinh 3 khối 10,11,12 và 1 buổi thảo luận nhóm với các giáo viên chủ
nhiệm và cán bộ Đoàn trường. Số lượng thành viên tham gia thảo luận của mỗi
nhóm là 7 người.
9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đích bổ sung,
tìm hiểu sâu hơn về những thông tin mà người nghiên cứu quan tâm nhưng còn
thiếu hay chưa có được những thông tin cụ thể, chi tiết trong quá trình thực hiện các
20
12
21
19
Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên các tiêu chí:
Đánh giá thực trạng các khó khăn mà học sinh gặp phải
Đánh giá của học sinh về những hình thức giúp đỡ học sinh hiện có của
trường
Tìm hiểu nhận thức của học sinh về các hoạt động trợ giúp của CTXH
trường học
Tìm hiểu nhu cầu được trợ giúp của học sinh.
9.5 Phương pháp quan sát
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu sử dụng phương pháp quan
sát nhằm mục đích thu thập thêm thông tin khách quan của khách thể nghiên cứu,
mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình học tập, mối quan hệ bạn bè
của học sinh, thái độ, hành vi của học sinh trong các giờ học,
Quá trình quan sát được tiến hành cụ thể như sau:
+ Tiến hành quan sát 1 buổi học sinh hoạt lớp nhằm quan sát mối quan hệ giữa
giáo viên và học sinh:
Buổi sinh hoạt lớp ngày thứ 7, ngày 16/3/2013, lớp 10, trường THPTDL Văn Hiến.
Nội dung buổi sinh hoạt: Tổng kết tuần, lập kế hoạch các hoạt động nhằm
hướng đến chào mừng ngày thành lập Đoàn 26/3.
Theo quan sát, buổi sinh hoạt diễn ra khá sôi nổi. Các em có nhiều ý kiến
đóng góp cho các hoạt động vui chơi trong ngày 26/3. Tuy nhiên, cũng có một số
em còn nói chuyện và làm việc riêng trong giờ sinh hoạt. Mối quan hệ giữa giáo
viên và học sinh khá thân thiện.
luôn có đối tượng. Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa
đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định hướng đồng thời là động
lực bên trong kích thích hoạt động của con người”.
Trong cuốn từ điển Tâm lý, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhu cầu là điều
kiện cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu
hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức. Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung
của tập thể, khi hòa hợp khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ
yếu, giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi”.
Theo Trần Hiệp trong tâm lý học xã hội cho rằng: “Nhu cầu là một trạng thái
tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện nhất định để đảm bảo
sự tồn tại và sự phát triển của mình. Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt
động nhằm đạt được những điều mình mong muốn”
1.1.2 Công tác xã hội
“Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã
hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [3]
(Nguồn: Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ - NASW, 1970)
"Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan
hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc
sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con
14
người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi
trường của họ. Nhân quyền và CTXH là các nguyên tắc căn bản của nghề". [3]
(Nguồn: Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông
qua tháng 7 /2000 tại Montréal, Canada (IFSW)
Công tác xã hội trong trường học được hiểu là: “Các dịch vụ công tác xã hội
đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành CTXH trên
toàn thế giới.
Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến là thuyết hệ
thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái. Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng lý
thuyết hệ thống sinh thái - một lý thuyết được vận dụng nhiều trong CTXH. Đại
diện của lý thuyết này là Hearn, Siporin, Germain & Gitterman. Thuyết hệ thống
sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác của con người với môi trường sinh thái của
mình. Sự can thiệp tại bất cứ điểm nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo
ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống. Vì thế, NVthân chủH cần sáng tạo khi lập kế
hoạch với thân chủ, tạo ra những ảnh hưởng cho những hệ thống liên quan, hướng
đến việc hỗ trợ một cách hiệu quả nhất.
“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau
để hoạt đông thống nhất”. Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống (Tiểu hệ
thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ), các tiểu hệ thống được phân biệt
với nhau bởi các ranh giới) đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ
thống lớn hơn.
Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống (cá nhân) đó bao
gồm nhiều tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình
cảm, hành động và các hệ thống phản ứng… Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các đặc
điểm về sinh lý, nhận thức, tình cảm cũng như như tâm tư nguyện vọng của các cá
nhân trong nhóm như một hệ thống. Từ đó có thể đưa ra các phương pháp trợ giúp
phù hợp với từng thân chủ
Hệ thống mà NVCTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng
đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hoá mà con người tồn tại. Tuy nhiên hệ
thống được phân thành 3 hình thức chính sau đây:
Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp …
Hệ thống chính thức: Nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ quan…
Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học …
Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản, cũng là cơ chế
hoạt động của hệ thống:
vai trò kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho thân chủ khi có nhu cầu.
Tóm lại, nghiên cứu sử dụng thuyết hệ thống để xem xét mối tương tác giữa
thân chủ với các cá nhân các cũng như các hệ thống nguồn lực xung quanh thân
chủ. Từ đó có những định hướng cho việc can thiệp. 17
1.2.2 Lý thuyết Vai trò
Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau.
Lý thuyết về vị trí – vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí xã hội là
vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định
trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác. Vị thế xã hội là vị trí xã hội
gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo. Vị thế chính “ là bất kỳ
vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa
vụ đặc thù”. Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau. Phạm vi quyền
và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá
thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ. Nhưng khi xem xét vị trí với những quyền và
nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự
khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực.
Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế
khác nhau. Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát
hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được,
một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được.
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương
ứng. Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác
nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau. Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình
hành vi được xã hội mong đợi. Mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của
sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, nhà ở, tình dục…).