Định hướng giá trị về gia đình của người công nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ THỊ VÂN ANH

Định hướng giá trị về gia đình của người công nhân đang
làm việc tại các doanh nghiệp hiện nay Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số 5.01.09

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Nghd. : PGS. TS. Vũ Hào Quang
Trước sự thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của đất nước,
những giá trị đích thực trong gia đình đang được người dân quan niệm ra sao?.
Có sự khác biệt trong định hướng giá trị về gia đình giữa công nhân đang làm
việc tại doanh nghiệp Quốc doanh và công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp
ngoài Quốc doanh hay không? Từ việc tìm hiểu nhận thức, quan điểm, nhu cầu
của công nhân về tiêu chuẩn lựa chọn con dâu, con rể; về giáo dục con cái; về 2
vai trò vợ chồng trong gia đình tác giả mới hiểu được những định hướng cho sự
phát triển nhân cách nói chung và định hướng giá trị về gia đình nói riêng họ.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tiến hành một nghiên cứu Xã hội học
thực nghiệm để lý giải các sự kiện xã hội diễn ra trong đời sống những người
công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp. Họ đóng vai trò là một nhóm xã hội
đặc thù, là một tiểu hệ thống trong một xã hội tổng thể. Bên cạnh đó, luận văn
chỉ ra những nét điển hình trong nhận thức về gia đình của công nhân trong
doanh nghiệp ngoài Quốc doanh trên cơ sở so sánh với những công nhân trong
doanh nghiệp Quốc doanh. Từ đó nêu bật lên diện mạo nhóm công nhân này
trong thời kỳ đổi mới qua nghiên cứu định hướng giá trị về gia đình của họ.

2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
2.1.Ý nghĩa khoa học:
Trong khuôn khổ tổng thể những vấn đề được đề cập đến, luận văn mang
một ý nghĩa khoa học nhất định. Từ cách tiếp cận Xã hội học với tư cách là bộ
môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ cá nhân và xã hội, quá trình xã hội hóa
cá nhân, luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết Xã hội học cơ bản như thuyết Cấu
trúc - chức năng, thuyết Hành động xã hội, thuyết Vai trò để lý giải những sự
kiện xã hội diễn ra trong đời sống gia đình họ.
Những đóng góp của luận văn sẽ giúp cho các nhà quản lý có cách nhìn
nhận đúng đắn định hướng giá trị về gia đình của công nhân tại các doanh

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
Tổng thuật những kết quả của các công trình nghiên cứu khác có liên quan
tới nội dung và mục đích nghiên cứu của đề tài.
Khảo sát công nhân đang làm việc tại 2 doanh nghiệp thuộc địa bàn Hà
Nội.
Xử lý 300 phiếu sau khi điều tra bảng hỏi bằng chương trình SPSS.
Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài (như: thuyết Vai trò, thuyết Cấu trúc -
Chức năng, thuyết Hành động xã hội)
Phân tích các số liệu thực nghiệm theo nội dung nghiên cứu: định hướng
giá trị trong hôn nhân, định hướng giá trị trong vai trò và quan hệ vợ chồng,
định hướng giá trị trong việc giáo dục con cái và định hướng giá trị trong việc sử
dụng thời gian rỗi.

4. Đối tƣợng, phạm vi, khách thể nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị về gia đình của công nhân
trong doanh nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Công ty dệt may Hà Nội và Công ty TNHH Đức Nam Long
Thời gian: Từ 03/2005 đến 01/2006
4.3. Khách thể nghiên cứu: Công nhân đang làm việc trong Công ty dệt
may Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh) và công nhân đang làm việc trong Công
ty TNHH Đức Nam Long (doanh nghiệp ngoài Quốc doanh).

5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp luận:
- Công ty dệt may Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh)
- Công ty TNHH Đức Nam Long (doanh nghiệp ngoài Quốc doanh)
Luận văn thực hiện phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tại hai đơn vị trên
với số lượng 314 phiếu và sử dụng 300 phiếu sau khi kiểm tra và làm sạch.

Doanh nghiệp Quốc doanh
Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh
Tổng
Nam
68
71
139
Nữ
82
79
161
Tổng
150
150
300
Mẫu so sánh:
Mẫu so sánh gồm 300 đơn vị được lấy từ hai doanh nghiệp trên địa bàn
ngoài Quốc doanh. Tại Công ty TNHH Đức Nam Long (doanh nghiệp ngoài
Quốc doanh) lấy được 150 phiếu theo nguyên tắc điều tra bằng bảng hỏi. 150
phiếu này được chọn làm mẫu so sánh với 150 phiếu điều tra tại Công ty dệt may
Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh) để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của
luận văn.
5.3. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
5.3.1.Phương pháp trưng cầu ý kiến.
Đây là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm cơ bản nhất của luận


8
nghiệp Quốc doanh. Tuy nhiên, quan điểm của họ về hôn nhân không có gì khác
biệt.
 Mối quan hệ vợ chồng của gia đình công nhân làm việc tại doanh
nghiệp được thể hiện một cách tương đối dân chủ, tuy nhiên hơi thiên lệch về
phía người đàn ông.
 Trình độ học vấn của cha mẹ là nhân tố ảnh hưởng đến định hướng
giáo dục cho con cái. 9

giá trị trong
việc sử
dụng thời
gian rỗi 10 PHẦN 2. NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, chủ đề gia đình đã trở thành mối quan tâm của
mọi Quốc gia trên thế giới. Chính vì tầm quan trọng của gia đình nên nhiều nhà
nghiên cứu khoa học quan tâm nghiên cứu cả cấp độ vĩ mô và vi mô nhằm tìm ra
mối quan hệ giữa gia đình và sự phát triển xã hội.
Thực sự có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu mang tính khả thi đã đóng
góp các phương án cũng như dự báo xu hướng vận động và biến đổi các mối
quan hệ trong gia đình trong giai đoạn hiện nay.
Chẳng hạn như đề tài mang mã số: KX 07 - 09 "Vai trò của gia đình trong
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam" của Trung tâm
nghiên cứu Khoa học về gia đình và Phụ nữ do GS. Lê Thi làm chủ biên, đã đề
cập đến một số nội dung cơ bản sau:
- Phân tích mô tả thực trạng vai trò của gia đình Việt Nam trong việc nuôi
dạy, hoàn thiện nhân cách con người.
- Nghiên cứu những vấn đề thuộc về mặt lý luận chỉ ra quá trình xã hội
hoá con người và chức năng cuả xã hội hoá trong gia đình truyền thống và gia
đình hiện đại.
- Chỉ ra những hạn chế trong quá trình giáo dục gia đình trong việc hình
thành nhân cách con người trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đưa ra một số

12
trình nghiên cứu khởi đầu cho những nghiên cứu của Xã hội học về lối sống gồm
có:
“Thế nào là lối sống xã hội chủ nghĩa” của Thanh Lê chủ biên (Viện
thông tin khoa học, HN 1979, 114 trang). Cuốn sách được đánh giá là công trình
khởi đầu cho hướng nghiên cứu Xã hội học lý thuyết về lối sống xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. Cuốn sách đã đề cập đến những mặt, những vấn đề cơ bản của
lối sống xã hội chủ nghĩa (khái niệm mức sống, lối sống và lối sống xã hội chủ
nghĩa; cơ sở kinh tế, chính trị tinh thần của lối sống xã hội chủ nghĩa; những đặc
điểm về nội dung của lối sống xã hội chủ nghĩa; sự phát triển của lối sống và các
nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển đó; các đặc trưng của lối sống xã hội chủ
nghĩa và lối sống tư bản )
“Về lối sống mới của tác giả", của các tác giả Phong Châu, Nguyễn Trọng
Thụ, NXB Sự thật, năm 1983. Cùng với một số nghiên cứu của Thanh Lê, cuốn
sách là một trong số ít những công trình nghiên cứu Xã hội học lối sống đầu tiên
ở nước ta trong những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ này.
Tuy lối viết còn nặng về lý luận, đôi chỗ còn sa vào việc tuyên truyền, kêu
gọi. Nhưng bằng 78 trang sách, các tác giả đã cung cấp cho người đọc một cách
nhìn hệ thống về nội dung của lối sống mới cũng như vai trò nhiệm vụ và biện
pháp để xây dựng lối sống mới ở nước ta.
Các tác giả đã gắn nội dung và biểu hiện của lối sống mới với các lĩnh vực
hoạt động cơ bản của đời sống xã hội như hoạt động lao động, hoạt động văn hoá
tinh thần, hoạt động xã hội, sinh hoạt cá nhân. Từ đó khái quát các đặc điểm của
lối sống mới - lối sống xã hội chủ nghĩa.
Cuốn sách có một chương dành cho việc phân tích mối quan hệ giữa lối
sống và sự biến đổi của xã hội qua 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản 13
xuất; cách mạng KHKT; cách mạng văn hoá tư tưởng. Chương này cũng dành

hội học lối sống. Chuyên ngành này được Trung tâm xác định là một trong
những chuyên ngành cơ bản khác ( Xã hội học đô thị, Xã hội học nông thôn, Xã
hội học thanh niên, Xã hội học lao động )
Ngoài ra, trong thời gian này (1985 - 1995), còn một số nghiên cứu thực
tiễn của một số cơ quan, Viện nghiên cứu và tổ chức đoàn thể về các khía cạnh
như giá trị, định hướng giá trị, lối sống của thanh niên sinh viên trong bối cảnh
mới của xã hội Việt Nam:
“Nữ thanh niên thập kỷ 90”, tập báo cáo những bài viết sau Hội nghị thông
tin khoa học về nữ thanh niên lần thứ 3 (tháng 9-1990) của các nhà khoa học và
hoạt động thực tiễn, tập trung vào 3 vấn đề lớn: tình hình tư tưởng và lối sống nữ
thanh niên; lao động, việc làm và một số chính sách với nữ thanh niên; nữ thanh
niên trong hôn nhân - dân số - kế hoạch hoá gia đình.
"Thực trạng lối sống văn hoá của thanh niên hiện nay", một tổng luận
phân tích của Phạm Bằng, Viện nghiên cứu Thanh niên, năm 1993.
Mục tiêu của tổng luận là tiến hành phân tích một cách hệ thống về lối
sống văn hoá của thanh niên ta ngày nay. Trên cơ sở đó dự báo xu thế phát triển
của lối sống thanh niên những năm tới, đề xuất một số kiến nghị với Đảng, Nhà
nước, với Đoàn thanh niên về những giải pháp nhằm định hướng cho thế hệ trẻ
hôm nay nhằm xây dựng cho mình một lối sống văn hoá hiện đại, lành mạnh,
mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. 15
“Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện
kinh tế thị trường” do Thái Duy Tiên chủ biên (chương trình KHCN cấp Nhà
nước KX07), năm 1994.
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và phương pháp luận, thực trạng,
kinh nghiệm nước ngoài và dự báo về ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam, trong đó vấn đề thực
trạng định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị

“Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” của Đào Trí Úc (trong
khuôn khổ của chương trình KHCN KX07)
Từ các cuộc điều tra Xã hội học với nhiều đối tượng khác nhau trên một
số vùng đại diện của 3 miền và từ việc nghiên cứu các tài liệu lý luận trong và
ngoài nước các tác giả đã phác hoạ hiện trạng ý thức, lối sống theo pháp luật của
con người Việt Nam. Qua đó làm sáng tỏ những ảnh hưởng của phương thức sản
xuất, của hệ tư tưởng, văn hóa, đạo đức, điều kiện kinh tế chính trị đến ý thức lối
sống của tác giả. Các kết luận khoa học được rút ra là cơ sở quan trọng để hình
thành hệ thống các biện pháp nhằm xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật
cho các tầng lớp dân cư. Đề tài nghiên cứu đặc điểm kiến thức pháp luật và lối
sống pháp luật của người dân trên cơ sở đánh giá đúng các “kênh” của kiến thức
pháp luật: qua đào tạo chuyên môn về pháp luật, qua phương tiện thông tin đại
chúng Từ đó sẽ thấy rõ hơn phương pháp để hoàn thiện việc đưa tri thức pháp
luật vào đời sống người dân, giúp hình thành trong họ văn hoá và tình cảm pháp
luật. Một nội dung quan trọng của đề tài là tập trung nghiên cứu về chính sách và
hệ thống pháp luật của Nhà nước, coi đó là tiền đề định hướng cho việc giáo dục 17
lối sống theo pháp luật và làm giàu tư duy pháp lý của con người. Đề tài cũng
chú ý nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp lý, các thủ tục pháp lý, cơ chế bảo
vệ quyền con người như là phương tiện để xây dựng lối sống theo pháp luật. Đây
là những đảm bảo về mặt thực tiễn và trực tiếp nhất cho việc nâng cao ý thức
pháp luật, xây dựng lối sống theo pháp luật.
“Văn hoá và lối sống - hành trang vào thế kỷ 21” của Thanh Lê
(NXBKHXH, HN 1999, 184 trang)
Đây là một tập hợp các bài viết về văn hoá lối sống, là sự tiếp nối của một
loạt các tác phẩm, bài viết bàn về lối sống của chính tác giả từ những năm 80.
Nội dung của cuốn sách bao gồm những vấn đề về mối quan hệ giữa lối
sống - nếp sống - mức sống ; cơ sở tinh thần của lối sống xã hội chủ nghĩa; nhận

đã đề cập đến việc thực hiện chức năng của gia đình trong việc truyền thụ các giá
trị văn hoá - xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác …
Hay phải kể đến Vũ Tuấn Huy với “Những khía cạnh của sự biến đổi gia
đình” (Tạp chí Xã hội học số 4/1995). Tác giả đã phân tích thông tin thu được
qua một cuộc điều tra chọn mẫu và kết luận về sự biến đổi của gia đình Việt
Nam trong mô hình hôn nhân, về vai trò người phụ nữ trong gia đình, quan hệ vợ
chồng trong gia đình. Những biến đổi đó dưới sự tác động của những biến đổi xã
hội và giao lưu văn hóa.
Ngoài ra còn có công trình của GS. Đỗ Thái Đồng với “Gia đình truyền
thống với những biến thái ở Nam bộ Việt Nam” (Tạp chí Xã hội học số 3/1990).
Tác giả kết luận: kiểu gia đình truyền thống ở nông thôn Nam bộ sẽ đứng vững 19
trong một thời gian dài nữa và đặt ra câu hỏi: kiểu gia đình truyền thống Việt
Nam ở Bắc cũng như Nam sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai.
Daniele Belanger và Khuất Thu Hồng với “Một số biến đổi trong hôn
nhân và gia đình ở Hà Nội trong những năm 1965 – 1985”. Tác giả tập trung trả
lời hai vấn đề chính: vai trò cá nhân, gia đình và Nhà nước trong việc lựa chọn
bạn đời; tiêu chuẩn người bạn đời trong hai mô hình hôn nhân khác nhau ra sao?
Nguyễn Hữu Minh với “Quyền tự do chọn bạn đời ở một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng: truyền thống và biến đổi” (Tạp chí Xã hội học số 1/1999). Tác
giả tập trung phân tích quyền tự do chọn bạn đời trong truyền thống, các yếu tố
ảnh hưởng đến quyền tự do lựa chọn bạn đời ở Đồng bằng sông Hồng.
Như vậy, suốt trong 10 năm trở lại đây (không kể những nghiên cứu trước
1985), định hướng giá trị về gia đình đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức xã hội. Những nghiên cứu
này, một mặt đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phản ánh thực tiễn xã hội (đặc
biệt là biểu hiện sự định hướng giá trị của nhóm cư dân, trong đó có thanh niên,
sinh viên Việt Nam) và ngày càng hoàn thiện dần hệ thống lý luận về lối sống,

Như vậy, về cơ bản các đề tài bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau các tác
giả đã bám sát các vấn đề cơ bản, phác thảo bức tranh về gia đình cũng như vị
trí, vai trò và chức năng của gia đình truyền thống và hiện đại. ở công trình
nghiên cứu này, tác giả đi sâu và việc phân tích các khía cạnh định hướng giá trị
trong các gia đình công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp, từ đó tìm ra
nguyên nhân cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị về
gia đình của họ. 21

2. Cơ sở lý luận của luận văn:
2.1. Những lý thuyết cơ bản vận dụng nghiên cứu:
2.1.1. Thuyết Vai trò:
Như chúng ta đã biết, vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị
thế xã hội tương ứng; nó chính là mặt động của vị thế xã hội và luôn biến đổi
trong xã hội. Vì vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách
quan căn cứ vào đòi hỏi xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền
và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó.
Theo Parsson (1902 - 1979), chức năng xã hội hoá của gia đình được
hướng vào những giá trị, qui chuẩn đạo đức phù hợp với vai trò sau này mà nó
đảm nhận. Vì vậy, những đứa trẻ học được là nhờ những khuôn mẫu về vai trò
và sự mong đợi đảm nhận vai trò của cha mẹ, thầy cô và những người xung
quanh thực hiện. Trong gia đình những đứa trẻ học được ở bố mẹ và anh chị em
không những quan điểm hành vi, nhu cầu mà còn cả định hướng giá trị.
Các nhà Xã hội học nghiên cứu về gia đình thuộc trường phái lý thuyết vai
trò đều xác định gia đình như một hệ thống các vai trò. Họ coi gia đình như một
sân khấu, trong đó các thành viên lên sân khấu đều thực hiện những vai trò nhất
định và mỗi thành viên lại có sự ràng buộc, phụ thuộc vào nhau khi đóng vai trò
của mình. Hệ thống các vai trò được chia như thế nào trong cấu trúc của gia

dưới góc độ của lý thuyết tương tác biểu trưng và lý thuyết vai trò, cần phải đặt
chúng trong những quan hệ liên cá nhân, liên nhóm cụ thể.
2.1.2.Lý thuyết cấu trúc - chức năng 23
Theo Tallcott Parsons (1902-1979) - nhà Xã hội học người Mỹ. Trong tác
phẩm của mình: "Cấu trúc hành động xã hội - 1939" ông đã đưa ra lý thuyết cấu
trúc chức năng. "Nội dung của lý thuyết cấu trúc chức năng của ông là thuyết
hành động" [Các lý thuyết Xã hội học hiện đại - của tác giả G. Endrruweit chủ
biên, Nxb. Thế giới, 1999, Tr. 76]. Ông đã lý luận rằng: bất kỳ một hành động xã
hội nào cũng có những nét chung và phải nằm trong một hệ thống nhất định.
Ông đã trình bày phân tích cấu trúc chức năng với tư cách là một phương pháp,
ông cho rằng: "Phân tích cấu trúc chức năng tức là đóng góp từng phần cho việc
giữ gìn ổn định của một cấu trúc. Tuỳ theo điều kiện là đã hoàn thành đóng góp
hay chưa mà cấu trúc được giữ ổn định hay thay đổi khi ta xét nó vào một thời
điểm khác. Sau đó, sẽ gắn những quá trình nhất định giữa hai thời điểm mà
chúng được ghép vào chức năng của các cấu trúc con và tác dụng của chúng sẽ
thay đổi được khi so sánh cấu trúc ở hai thời điểm "[Các lý thuyết Xã hội học
hiện đại - của tác giả G. Endrruweit chủ biên, Nxb. Thế giới, 1999, 80 - 81]. Lập
luận của ông đưa ra rằng: giữa cấu trúc và chức năng có mối quan hệ biện chứng
với nhau, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định. Sự thay đổi về mặt chức năng
sẽ làm hoàn thiện cấu trúc của nó. Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã
hội về mặt chức năng.
Việc vận dụng lý thuyết này vào phân tích các vấn đề cơ bản trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài sẽ cho tác giả cơ sở lý luận để phân tích sự thay đổi các
chức năng trong gia đình, đặc biệt là việc định hướng giá trị của công nhân trong
tương lai để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
2.1.3.Thuyết Hành động xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status