ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HỒNG GIANG KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CƯ DÂN TRONG CÁC KHU
ĐÔ THỊ MỚI XÂY Ở HÀ NỘI GẦN ĐÂY
(Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội) Chuyên ngành : XÃ HỘI HỌC
Mã số : 603130
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. MAI VĂN HAI
VIỆC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG Ở KHU ĐÔ THỊ MỚI 46
1. Nhu cầu và nguyện vọng của ngƣời dân 46
2. Kinh nghiệm tổ chức không gian công cộng của một số nƣớc trên thế giới 55
3. Một số giải pháp trong việc tổ chức không gian công cộng trong các đô thị mới ở Hà Nội 59
Phần C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1. Kết luận 65
2. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC
1
PHẦN A: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các khu đô thị mới hiện nay, ngoài không gian ở đóng vai trò
chủ đạo còn tồn tại các loại hình không gian khác, trong đó có không gian
công cộng. Không gian công cộng (KGCC) là một phần quan trọng trong hệ
thống các không gian và không thể thiếu trong cấu trúc của khu ở hay đô thị.
Không gian công cộng luôn gắn với không gian ở, nó góp phần hoàn thiện,
nâng cao chất lƣợng sống cho ngƣời dân trong các khu đô thị mới, thông qua
đó góp một phần quan trọng làm đẹp cho thủ đô Hà Nội.
Không gian công cộng là những không gian thân thiện, gần gũi với mọi
ngƣời. Ðó là nơi mà mọi ngƣời có thể trò chuyện với nhau, cùng vui chơi,
cùng nhau thi thố tài năng. Ðó cũng là nơi mà mọi ngƣời có thể mua sắm,
ngồi nhâm nhi tách cà phê và đắm mình vào cảnh vật xung quanh. Thậm chí
đơn giản hơn, không gian thân thiện có thể xuất hiện lúc mọi ngƣời trò
chuyện trong khi chờ xe buýt. Với tính chất mở và thân thiện, không gian
công cộng đã trở thành những nơi chốn quen thuộc của mọi ngƣời, ngoài ngôi
nhà của họ.
Tuy nhiên, cƣ dân trong các khu đô thị lại luôn phải đối mặt với hàng
Thông qua khảo sát về ý kiến của ngƣời dân đối với việc sử dụng
không gian công cộng tại một khu đô thị mới (khu đô thị Văn Quán, quận Hà
Đông, Hà Nội), luận văn cung cấp thêm nguồn số liệu thực tế cho việc nghiên
cứu và giảng dạy bộ môn Xã hội học đô thị, Xã hội học văn hóa… Ngoài ra,
việc vận dụng một vài lý thuyết xã hội học trong quá trình nghiên cứu cũng
góp phần tìm hiểu khả năng áp dụng các lý thuyết vào thực tiễn đời sống xã
hội ở Việt Nam.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm luận cứ khoa học trong
việc tìm hiểu, đánh giá hiện trạng không gian công cộng từ đó tìm ra giải
pháp phát triển thích hợp cho hệ thống cấu trúc không gian ở nói chung và hệ
thống tổ chức không gian công cộng nói riêng tại Hà Nội. Đây là một việc
3
làm thiết thực, thể hiện khả năng ứng dụng của đề tài vào trong đời sống thực
tiễn của đất nƣớc.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
- Qua việc khảo sát ở khu đô thị mới Văn Quán, Hà Nội, đề tài có mục
tiêu mô tả thực trạng của việc xây dựng, sử dụng cũng nhƣ tâm tƣ, nguyện
vọng của cƣ dân đối với không gian công cộng trong các khu cƣ trú của họ.
- Phân tích các giá trị tốt đẹp cần bảo tồn, phát huy, cũng nhƣ sự cần
thiết của không gian công cộng trong các khu đô thị mới hiện nay, những
thiếu hụt một số yếu tố cần khắc phục, từ đó đề xuất các giải pháp duy trì và
phát huy các giá trị tích cực của không gian công cộng đối với cuộc sống
hàng ngày của ngƣời dân.
3.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích nêu trên đề tài có những nhiệm vụ chính sau đây:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận cơ bản, làm cơ sở cho việc khảo sát
và nghiên cứu không gian công cộng.
thƣơng, tiểu chủ, ngƣời làm dịch vụ, v…v….)
+ Mức sống (gồm ba mức: giàu, trung bình, nghèo)
+ Giới tính: (nam, nữ)
+ Độ tuổi: (gồm 3 nhóm: trẻ - trung niên - cao tuổi)
+ Nguồn gốc xuất thân (ngƣời Hà Nội gốc hay từ nơi khác đến).
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng nhƣ hiện nay thì không gian
công cộng ở các khu đô thị mới vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu và nguyện
vọng của ngƣời dân ở hai phƣơng diện: đời sống vật chất và đời sống tinh
thần.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
7.1 Sử dụng tài liệu đã có nhằm giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về
lĩnh vực này, từ đó thừa kế và định hƣớng về vấn đề nghiên cứu.
7.2 Phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu 10 trƣờng hợp, các đối
tƣợng phỏng vấn có nghề nghiệp và trình độ học vấn khác nhau. Thông tin
5
thu đƣợc từ các cuộc phỏng vấn sâu mang tính chất bổ trợ và đƣợc dùng chủ
yếu nhƣ là những dẫn liệu minh họa, giải thích, bổ sung thêm cho các dữ liệu
định lƣợng
7.3 Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi: Nhằm đo lƣờng nhận thức thái
độ cũng nhƣ tâm tƣ, nguyện vọng của ngƣời dân về việc tổ chức, sử dụng,
quản lý không gian công cộng hiện nay ở các khu đô thị. Ở đây tác giả đã sử
dụng 150 phiếu hỏi, trong đó nam chiếm 38%, nữ chiếm 62%, giàu là 15,4%,
nghèo là 37,3%, trung bình là 47,4%; nhóm ngƣời dƣới 35 tuổi là 27,3%,
trung niên là 46%, ngƣời cao tuổi là 26,7%.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung chính của Luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng.
Chƣơng I trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, trong đó bao
luận văn cao học, chúng tôi chỉ lựa chọn hai lý thuyết để ứng dụng: đó là lý
thuyết cấu trúc chức năng và lý thuyết xung đột.
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng có lịch sử phát triển khá dài với nhiều
tác giả lớn nhƣ: Bronislaw Malinowski, Radcliffe – Brown, Talcott Parsons,
Robert Merton, v v…Ở đây chúng tôi cũng chỉ vận dụng quan điểm của
Robert Merton mà thôi.
Công trình khoa học nổi tiếng nhất của Merton là cuốn “Lý thuyết xã
hội và cấu trúc xã hội” (Social Theory and Social structure).
Theo đó thì nghiên cứu xã hội theo cấu trúc - chức năng là sự giải thích
một hiện tƣợng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với
những cấu trúc mà nó là một bộ phận cấu thành. Nói cho dễ hiểu là mỗi bộ
phận hay thành phần của cấu trúc tổng thể đều giữ một hoặc nhiều chức năng.
Các chức năng rối loạn sẽ dẫn đến sự bất ổn của cấu trúc. Việc thực hiện đúng
chức năng của các thành phần tạo nên cấu trúc sẽ đảm bảo cho cả hệ thống
ổn định và bền vững. Giống nhƣ quan niệm của Durkheim và Parsons,
7
Merton cho rằng các cấu trúc văn hoá mà cụ thể là hệ các giá trị xã hội là
những yếu tố cơ bản để lý giải cơ chế hoạt độngvà phối hợp hoạt động của
các thiết chế xã hội. Một đóng góp lớn của Merton đối với chủ thuyết chức
năng trong xã hội học là việc phát hiện ra sự loạn phản chức năng còn gọi là
phi chức năng hay phản chức năng. Khác với Parsons luôn coi mọi hệ quả của
một thiết chế xã hội là chức năng với nghĩa là những tác dụng tốt, có lợi cho
toàn bộ cấu trúc xã hội, Merton chỉ ra những phản chức năng của thiết chế xã
hội. Phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm
giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc. Để nhận diện sự loạn chức
năng hay phản chức năng cần trả lời câu hỏi: hệ quả của một hiện tƣợng xã
hội đem lại lợi ích hay gây tổn hại tới lợi ích của ai?
Cần thấy rằng hệ quả có thể là chức năng, tức là có lợi cho nhóm ngƣời
diện của đời sống xã hội: mục đích, đánh giá, lợi ích, hệ tƣ tƣởng….Các cách
thức thực hiện hành vi xung đột vừa đa dạng vừa bị chi phối bởi nhiều động
cơ khác nhau. Việc phân tích, tìm hiểu làm rõ động cơ của các hành vi xung
đột sẽ giúp cho việc quản lý xã họi tiếp cận đƣợc các giải pháp khoa học, qua
đó đƣa các quan hệ xã hội trở về trạng thái bình thƣờng và ổn định để phát
triển.
Vận dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu không gian công cộng
trong các khu đô thị mới ở Hà Nội hiện nay, chúng tôi thấy đôi khi xuất phát
từ các lợi ích, nhu cầu, thị hiếu khác nhau nên các nhóm xã hội khác nhau
cũng có thể xảy ra mâu thuẫn, xung đột về không gian công cộng. Cụ thể ở
đây là xung đột giữa ban quản lý dự án với ngƣời dân tại các khu chung cƣ về
phí dịch vụ quá cao hay việc sử dụng sai mục đích khu đất trong quy hoạch,
mâu thuẫn xung đột giữa ngƣời dân bình thƣờng với những ngƣời làm dịch vụ
(nhƣ mở quán, trông xe…) v v….
Việc phân tích các loại hình và nguyên nhân xung đột sẽ giúp hiểu thêm
những mặt tích cực cũng nhƣ những khó khăn trong việc quản lí và khai thác
không gian công cộng hiện nay.
Trong nghiên cứu này, tác giả thử vận dụng hai lý thuyết trên làm cơ sở
để giải thích cho việc sử dụng không gian công cộng của ngƣời dân trong các
khu đô thị mới. Mỗi cách tiếp cận trên đều có những mặt mạnh và mặt yếu
9
của nó. Tuy nhiên, sự phối hợp cả hai cách tiếp cận trên sẽ giúp chúng tôi hạn
chế bớt những thiếu sót của từng cách tiếp cận đơn lẻ, qua đó chúng tôi hi
vọng phản ánh đƣợc về không gian đô thị đúng nhƣ những gì nó đang diễn ra
trong thực tế.
2. Định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc
- Định nghĩa các khái niệm làm việc
+ Khái niệm “không gian công cộng”
Không gian công cộng có nhiều cấp độ khác nhau từ vĩ mô nhƣ không
xác định phù hợp với qui hoạch xây dựng đô thị đƣợc cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền phê duyệt.
Những khu nhà ở đô thị tập trung có quy mô trên 10 ha phù hợp với một
bán kính phục vụ khép kín hoàn chỉnh theo dạng một khu ở hay có cấu trúc
nhƣ một đơn vị ở thƣờng đƣợc gọi là khu đô thị mới.
Khái niệm khu đô thị mới cho đến nay vẫn chỉ đƣợc hiểu nhƣ một khu
xây dựng mới (có quy mô từ 10 ha trở lên) tập trung theo dự án đầu tƣ phát
triển hoàn chính, đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, và các công trình
công cộng khác để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh.
Các khu đô thị mới này đƣợc bố trí gắn với một đô thị hiện có hoặc với một
đô thị mới đang hình thành, có ranh giới chức năng xác định, phù hợp với quy
hoạch xây dựng đô thị đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt
(Theo TS.KTS Trần Trọng Hanh).
Vào ngày 05 tháng 01 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Quy chế khu
đô thị mới kèm theo Nghị định số 02/2006/NĐ-CP. Bộ Xây dựng quản lý việc
áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng đối với công trình thuộc dự
án khu đô thị mới.
Dự án khu đô thị mới đƣợc lập có quy mô chiếm đất từ 50 ha trở lên.
Trƣờng hợp diện tích đất để dành cho dự án nằm trong quy hoạch đất đô thị
nhƣng bị hạn chế bởi các dự án khác hoặc bởi khu đô thị đang tồn tại thì cho
phép lập dự án khu đô thị mới có quy mô dƣới 50 ha nhƣng không đƣợc nhỏ
hơn 20 ha.
Giới hạn trong phạm vi luận văn này chỉ dùng thuật ngữ khu đô thị mới
để chỉ các khu ở đƣợc xây dựng hoàn chỉnh đồng bộ các công trình kiến trúc
và hạ tầng cơ sở để quản lý khai thác sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của một bộ phận dân cƣ đặc trƣng theo khu vực. Khu đô thị mới có
11
quy mô diện tích tƣơng đƣơng một hoặc một tổ hợp các đơn vị ở, giới hạn
nhỏ hơn 100 ha.
của Phạm Mạnh Hải. Luận văn đã xác định tầm quan trọng của sinh hoạt
cộng đồng trong đô thị nói chung và trong phạm vi nhà ở cao tầng nói riêng.
Diễn giải các quá trình lịch sử phát triển, các biểu hiện của đời sống sinh hoạt
cộng đồng từ xƣa tới nay. Khảo sát các không gian chức năng sinh hoạt cộng
đồng trong nhà ở câo tầng, các mối quan hệ giữa chúng qua đố phân tích
những tác động tƣơng hỗ giữa việc tổ chức các không gian này với đời sống
của cƣ dân trong đó. Cũng ở công trình này, tác giả đã phát hiện, đề xuất các
nguyên tắc chung để tổ chức các không gian chức năng trong nhà ở cao tầng
nhằm mục đích nâng cao tính gắn kết của cộng đồng, ứng dụng thực tiễn vào
thiết kế cụ thể công trình nhà ở cao tầng trong một khu đô thị mới của Hà
Nội.
Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học nhƣ một
số luận văn thạc sỹ của các trƣờng Đại học Kiến trúc, Đại học Xây dựng hay
những đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Qui hoạch Đô thị và Nông thôn -
Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, các đề tài này chỉ dừng ở bƣớc tổ chức không gian
ở hoặc tổ chức không gian vui chơi giải trí của một địa bàn cụ thể.
Nhìn chung lại, có thể thấy các công trình nghiên cứu về không gian
công cộng từ trƣớc đến nay đều đƣợc thực hiện bởi các kiến trúc sƣ hoặc các
kỹ sƣ xây dựng chủ yếu tập trung nghiên cứu ứng dụng các giải pháp Quy
hoạch, Kiến trúc, Quản lý đô thị không gian công cộng cho các khu đô thị vì
vậy đều nghiêng về kinh tế hoặc kỹ thuật mà chƣa quan tâm đầy đủ đến khía
cạnh xã hội của vấn đề nghiên cứu. Đề tài “ Không gian công cộng dƣới góc
nhìn của cƣ dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây” của chúng
tôi chính là một cố gắng nhằm bổ sung cho khiếm khuyết đó.
4. Giới thiệu địa bàn khảo sát
Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội, khu đô thị mới Văn Quán là một
khu dân cƣ đô thị mới khang trang với cảnh quan môi trƣờng xanh, sạch, đẹp
cùng hệ thống các công trình hạ tầng xã hội đồng bộ nhƣ nhà trẻ, siêu thị,
trung tâm y tế…
14
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu đô
thị mới Văn Quán Các công trình nhà ở cao tầng, công trình công cộng đƣợc bố trí dọc theo
các trục đƣờng lớn xung quanh khu đất để tạo cảnh quan cho trục đƣờng và
hình thành tuyến phố thƣơng mại. Các công trình đƣợc xây dựng lùi vào chỉ
giới đƣờng đỏ, phần đất phía trƣớc đƣợc tổ chức kết hợp sân vƣờn, cây xanh.
Nhóm nhà biệt thự đƣợc bố trí xung quanh hồ điều hòa. Nhà ở cao tầng có
1 tâng dành cho mục đích công cộng đƣợc bố trí dọc theo các đƣờng giao
thông bao quanh khu đất.
Trong các nhóm nhà kết hợp tổ chức lối vào nhà với sân vƣờn và bãi đỗ xe
nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu sinh hoạt dân cƣ.
Khu đô thị mới Văn Quán (quận Hà Đông - Hà Nội) đƣợc khởi công
xây dựng cuối năm 2003, do Tổng Công ty Đầu tƣ phát triển nhà và đô thị
(HUD) làm chủ đầu tƣ, đƣợc tổ chức khánh thành vào ngày 3 tháng 2 năm
2007.
15
Hình 1.2: Lễ cắt băng khánh thàh Khu đô thị mới Văn Quán (nguồn:
internet) Với diện tích gần 62 ha, với quy mô dân số gần 15.000 ngƣời, khu đô
thị Văn Quán đƣợc thực hiện trong 3 năm rƣỡi với tổng mức đầu tƣ khoảng
- Trở lại đôi chút về lối sống cộng đồng truyền thống của người Việt
Lối sống sinh hoạt cộng đồng đƣợc thể hiện ở những hoạt động văn hóa
từ: hội làng, những cuộc vui biểu diễn văn nghệ truyền thống đến những nhu
cầu giao tiếp hàng xóm, láng giềng, thôn làng. Đó cũng là những hoạt động ở
những phạm vi hẹp hơn nhƣ cúng bái ông bà tổ tiên, ôn lại các sự kiện lịch sử
trong gia đình, dòng họ.
Với truyền thống sản xuất nông nghiệp, làng xã trở thành cái nôi văn
hóa của ngƣời Việt, ở đó lối sống cộng đồng là một đặc trƣng nổi bật. Trong
làng xã, mỗi con ngƣời là một thành viên chịu sự ràng buộc nhiều mối quan
hệ phức tạp: Gia đình, dòng họ ngõ xóm, giáp, phƣờng, hội… Nếp nghĩ
“sống ở làng, sang ở họ” đã đi vào tiềm thức, các giá trị nhân văn làng xã cơ
bản đƣợc hình thành từ hai nguyên tố nền sản xuất nông nghiệp tiểu nông và
lối sống cộng đồng.
Nét đặc trƣng lối sống của làng còn thể hiện qua các mối quan hệ theo
nhóm nơi ở. Mỗi nhà thƣờng là một gia đình gồm 3 - 4 thế hệ sống trên một
khuôn viên bám theo ngõ, xóm. Mỗi xóm lại có một vài dòng họi có quan hệ
huyết thống hoặc phần nào quan hệ kinh tế. Nhiều xóm tạo thành làng, trong
phạm vi mỗi xóm, hình thành mối quan hệ tối lửa tắt đèn có nhau, họ quan
tâm đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhau, giúp đỡ nhau. Thói quen và
lối sống sinh hoạt ấy đã có từ hàng nghìn năn nay hình thành lối sống mang
nặng tính cộng đồng làng xã.
Cội nguồn cơ bản của các loại hình sinh hoạt cộng đồng là thời vụ cấy
trồng và cầu mong sinh sôi đông đúc. Thờ cúng tổ tiên vốn là một tín ngƣỡng
18
của ngƣời dân trồng lúa nƣớc. Sự gắn bó thiết tha với mảnh đất chôn rau cắt
rốn của mỗi ngƣời cùng với ý nghĩa có chung một dòng họ với tổ tiên, với
ông tổ của làng đã tạo nên mối liên kết bền vững với ngƣời dân trong làng.
Nó thể hiện tính đoàn kết chung sống hoà thuận và đó chính là nét sinh hoạt
nổi bật của sinh hoạt văn hóa cộng đồng thôn làng.
Hình 2.1: Cây đa bến nước- một không gian sinh hoạt truyền thống
Làng Việt Nam với kết cấu có tính cộng đồng cao nhƣ cộng đồng lãnh
thổ, cộng đồng kinh tế tự cung tự cấp, cộng đồng tâm lý với các phong tục về
sinh nở, ma chay hiếu hỉ. Những yếu tố này đã có tác dụng quan trọng đến
hình ảnh thôn làng. Một đặc trƣng quan trọng của cộng đồng làng xã là tính
khép kín của nó. Chúng ta thƣờng thấy những luỹ tre, bờ rào lớn bao kín
quanh làng. Xung quanh làng là đất canh tác với lối bố cục khép kín hƣớng
nội.
Sinh hoạt cộng đồng vốn là một tập quán rất gắn bó với ngƣời Việt
Nam từ xƣa. Làng xã nào của Việt Nam cũng có đình, chùa và chợ. Đó là
không gian công cộng của làng. Đình là chỗ tập họp của cộng đồng để lo toan
và bàn tính mọi việc của làng, của nƣớc, chùa là nơi tụ họp của quần chúng để
hƣớng niềm tin vào một Tôn giáo hay một vị Thánh Thần nào đấy, còn chợ là
nơi tụ họp để mua bán, trao đổi hàng hoá trong cuộc sống hàng ngày. Ðấy là 3
nét tiêu biểu trong sinh hoạt cộng đồng của ngƣời Việt và những nét đặc trƣng
này còn in dấu ấn rất đậm trong tâm hồn của con ngƣời, kể cả ở thời hiện đại. 20
Hình 2.2: Một số hình ảnh về không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống
21
Hình 2.3: Một số hình ảnh sinh hoạt cộng đồng trong quá trình đô thị hóa
Bên cạnh cái chợ, những ngôi chùa với những lễ hội cũng là những
không gian công cộng mang đầy tính nhân văn của ngƣời Việt. Ngày nay
bƣớc vào cuộc sống hiên đại, những ngôi chùa, những lễ hội đƣa ngƣời ta trở
về với cội nguồn, làm phong phú thêm cho những bản sắc văn hoá riêng của
mình. Xã hội càng hiện đại thì cuộc sống con ngƣời càng có nhu cầu cao hơn
về tâm linh. Chính những công trình tôn giáo với không khí tƣng bừng lễ hội
là những không gian công cộng đầy tính nhân văn, những kiến trúc tôn giáo là
một trong những yếu tố không kém phần quan trọng trong cấu thành quy
hoạch kiến trúc của đô thị. Những kiến trúc tôn giáo đó trong những ngày
thƣờng lại là mảng xanh, là những nốt lặng trong bản nhạc rộn rịp náo nhiệt
với những nhịp điệu ồn ào và náo nhiệt của một thành phố to lớn.
Thực ra trong cuộc sống hiện đại hôm nay vẫn rất cần có một không
23
gian công cộng để cho mỗi cộng đồng bàn về việc dân, việc nƣớc, để giúp
nhau giải quyết những mối quan hệ rất bình thƣờng trong cuộc sống hàng
ngày.
Quá trình đô thị hóa các đô thị lớn song song với quá trình dịch cƣ từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực đô thị. Cùng với quá trình gia tăng dân số
tự nhiên, quá trình gia tăng dân số cơ học thiếu sự kiểm soát đã khiến cho hầu
hết các đô thị Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng rơi vào tình trạng quá
tải về cƣ dân đô thị. Sự thay đổi cơ cấu dân số do quá trình dịch cƣ, sự ảnh
hƣởng của phƣơng thức sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của các