ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN KIM ANH MÂU THUẪN GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG TỨ LIÊN
QUẬN TÂY HỒ VÀ XÃ THƯỢNG CÁT HUYỆN
TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Đặng Cảnh
Khanh HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
2.3.2.2. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái đã trưởng thành 38
2.3.2.3. Mâu thuẫn giữa người cao tuổi và cháu 40
2.3.3. Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ 41
2.3.3.1. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành 41
2.3.3.2. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái đã trưởng thành 42
2.3.3.3. Mâu thuẫn giữa ông bà và các cháu 47
2.3.4. Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong lĩnh vực vui chơi, giải trí 50
2.3.4.1. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành 50
2.3.4.2. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái đã trưởng thành 54
2.3.4.3. Mâu thuẫn giữa ông bà và các cháu 55
2.4. Hệ quả của những mâu thuẫn trong gia đình đến sự vận động, biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay 59
KẾT LUẬN 68
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các hình thức mâu thuẫn trong gia đình.
Biểu đồ 2.2: Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành.
Biểu đồ 2.3: Sự hỗ trợ giữa ông bà và cháu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sự mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành trong lĩnh vực
hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt
qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát
huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua nhiều thời kỳ phát
triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi, nhưng chức
năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng,
không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, công tác gia đình hiện nay vẫn còn nhiều yếu kém và đang đối
mặt với nhiều thách thức. Việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều
thiếu sót và bất cập. Hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Tình trạng ly hôn, ly thân,
chung sống không kết hôn, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia
tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội.
Những biểu hiện tiêu cực trong hôn nhân với người nước ngoài đang làm cho xã
hội lo lắng. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như hiếu nghĩa,
thuỷ chung, kính trên nhường dưới đang có biểu hiện xuống cấp. Sự xung đột giữa
các thế hệ về lối sống và việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi đang đặt ra
những thách thức mới. Các tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, rượu chè, mại dâm và
nạn dịch HIV/AIDS đang thâm nhập vào các gia đình. Nạn bạo hành trong gia
đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải lang
thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển… 2
Khi đề cập đến gia đình, người ta không chỉ nói đến các chức năng của gia
đình như chức năng tái sản xuất con người, chức năng kinh tế, chức năng xã hội
hoá cá thể và một số chức năng khác mà còn đề cập đến những vấn đề xã hội của
gia đình như hôn nhân, ly hôn, bạo lực, giá trị chuẩn mực, di cư Tất cả những
vấn đề đó ít nhiều ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình mà
một trong những yếu tố là mâu thuẫn.
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã có
những thay đổi toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
xã hội liệu có phải được nảy sinh từ những mối quan hệ này? Có thể nói, mối
quan hệ giữa các thế hệ gia đình phản ánh bản chất của hệ thống gia đình, là
vấn đề cốt lõi của thiết chế gia đình. Nó chính là quan hệ xã hội của xã hội
được thu nhỏ trong khuôn khổ gia đình.
Nhận thức được điều này, tác giả đã chọn vấn đề “Mâu thuẫn giữa các
thế hệ trong gia đình” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là chỉ ra được những yếu tố kinh tế - xã hội tác
động đến những mâu thuẫn giữa các thế hệ và làm rõ thực trạng của những mâu
thuẫn hiện nay trong gia đình thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận
nghiên cứu thực trạng mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình ở Thành
phố Hà Nội.
- Phân tích thực trạng mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình ở Thành phó
Hà Nội.
- Phân tích và làm rõ các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội có tác động đến các
mối quan hệ nói chung và những mâu thuẫn nói riêng giữa các thế hệ trong
gia đình ở Thành phố Hà Nội.
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị, phương hướng phù hợp
nhằm bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp của người Hà Nội.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể, phạm vi, mẫu nghiên cứu :
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình
ở Thành phố Hà Nội.
4
3.2.Khách thể nghiên cứu:
+ Đại diện hộ gia đình (thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu)
+ Đại diện các ban ngành của phường, xã (Phó Chủ tịch UBND xã/
phường, Hội người cao tuổi, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên )
5
Thu nhập bình quân/tháng :
- 1 triệu – dưới 1,5 triệu: 35 người, chiếm 17,5%
- 1,5- 2 triệu: 86 người, chiếm 43,0%
- Trên 2 triệu: 79 người, chiếm 39,5%
Nghề nghiệp:
- Cán bộ, CNVC: 56 người, chiếm 28%
- Nông nghiệp: 42 người, chiếm 21%
- Người nội trợ hoặc đã về hưu: 13 người, chiếm 6,5%
- Buôn bán dịch vụ: 79 người, chiếm 39,5%
- Làm những nghề khác: 10 người, chiếm 5%
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích một số tài liệu đã có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Qua đó, bổ sung thêm cho những thiếu hụt trong việc
phân tích các số liệu định lượng thu được từ điều tra bảng hỏi.
4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp định lượng được tiến hành thông qua các phiếu hỏi cá nhân
dành cho chủ hộ gia đình. Việc thực hiện phỏng vấn người dân bằng bảng hỏi
nhằm đo lường thực trạng mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình.Về mẫu nghiên
cứu: Mỗi xã/phường chọn đại diện 100 hộ gia đình tham gia trả lời phiếu hỏi x 2
xã/phường = 200 phiếu hỏi.
4.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Các phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu sâu thực trạng những
mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình và các yếu tố ảnh hưởng đến những
mâu thuẫn này. Phương pháp phỏng vấn sâu giúp nhóm nghiên cứu có cái nhìn
rõ hơn về vấn đề mà trong những câu hỏi định lượng không thể trả lời được.
Đối tượng được phỏng vấn là các thành viên của các hộ gia đình từ hai thế hệ
Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội
Thu nhập, lao động, giao thông, sức khoẻ, giáo dục,
nhà ở, môi tr-ờng, cuộc sống gia đình, hoạt động xã
hội của phụ nữ, an ninh xã hội, vui chơi, giải trí
Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình
Cha mẹ và con
cái đã tr-ởng
thành
Cha mẹ và con cái
ch-a tr-ởng thành
Ông bà và cháu
chắt
Các chính sách kinh tế - xã hội
8
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
lớn của tư duy khoa học và những hoạt động thực tiễn về gia đình. Nhằm nâng cao
nhận thức về những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu về gia đình, GS.TS. Đặng
Cảnh Khanh và PGS.TS.Lê Thị Quý đã biên soạn cuốn sách “Gia đình học”.
Thông qua những hướng tiếp cận khác nhau, các tác giả đã giúp cho người đọc
nhận thức được những vấn đề cơ bản nhất trong nghiên cứu và học tập về gia đình,
lý giải một cách đúng đắn lý luận và thực tiễn về gia đình, những định hướng cơ
bản cho việc xây dựng một mô hình gia đình mới. Qua đó, các tác giả cũng muốn
nêu lên một vài kiến nghị với Đảng, Nhà nước hướng tới việc hoạch định các
chính sách và giải pháp đúng đắn cho vấn đề gia đình ở nước ta trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Với sự trợ giúp của UNFPA/SDC, tác giả Vũ Mạnh Lợi cũng tiến hành một
nghiên cứu về bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình - sự thay đổi ở Việt nam - Kết
quả và khuyến nghị”. Nghiên cứu đã đưa ra thực trạng về bạo lực gia đình, từ đó
đưa ra những kết quả và khuyến nghị giúp phòng chống tình trạng bạo lực gia đình
ở Việt Nam. Gần đây, một cuộc điều tra toàn diện Gia đình Việt Nam đã được tiến
hành trên quy mô toàn quốc trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc gia giữa
chính phủ Việt Nam và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Ủy ban Dân sô,
Gia đình và Trẻ em đã phối hợp cùng Tổng cục Thống kê và Viện Gia đình và
Giới thuộc Viện khoa học Xã hội Việt Nam. Nội dung của cuộc điều tra này tập
trung vào bốn lĩnh vực của gia đình là quan hệ gia đình, các giá trị và chuẩn mực
của gia đình, kinh tế gia đình và phúc lợi gia đình. Các số liệu về thế hệ gia đình đã
được đưa ra trong cuộc điều tra này, tuy nhiên đây chỉ là số liệu ban đầu về số thế
hệ trong các gia đình Việt Nam, chưa khai thác sâu mâu thuẫn giữa các thế hệ gia
đình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống gia đình. Điều đó cho thấy, mâu thuẫn
giữa các thế hệ trong gia đình chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu hiện
có về gia đình. Vì vậy, đề tài “Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình Việt Nam
hiện nay” sẽ đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra. 10
11
công nghiệp hoá hiện đại hoá không chỉ đơn giản là sự tăng trưởng của kinh tế và
sự thay đổi của công nghệ mà nó còn là một thách thức về xã hội, văn hoá, đạo
đức, lối sống, tình cảm, tâm lý Nhiều quốc gia trong quá trình tiến lên hiện đại
hoá đang phải trả giá cho sự đổ vỡ của mối quan hệ giữa con người và con người,
sự gia tăng của tệ nạn xã hội do việc xem nhẹ vấn đề gia đình và chính sách xã hội
đối với gia đình.
Với ý nghĩa quan trọng và vai trò to lớn của gia đình trong giai đoạn phát
triển mới khi đất nước ta bước vào thế kỷ XXI thực hiện công nghiệp hoá hiện đại
hoá. Ngày 4 tháng 5 năm 2001 Chính phủ Việt Nam đã quyết định lấy ngày 28
tháng 6 hàng năm là ngày gia đình Việt Nam với những hành động vì gia đình và
trẻ em. Mục đích của ngày gia đình Việt Nam là: “Đề cao trách nhiệm lãnh đạo các
ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường
xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, đẩy
mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, góp phần vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
1.3. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu:
1.3.1. Lý thuyết Cơ cấu chức năng:
Theo thuyết cơ cấu chức năng, xã hội được coi như một hệ thống hoàn
chỉnh gồm có các bộ phận có quan hệ qua lại với nhau. Mỗi bộ phận thực hiện một
số chức năng đối với toàn bộ hệ thống. Đó là mối quan hệ giữa cơ cấu và chức
năng. Các nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống đã cố gắng tìm hiểu xem
các cơ cấu khác nhau thì thực hiện những chức năng gì trong hệ thống rộng lớn mà
chúng là bộ phận. Tương tự như vậy, các nhà nghiên cứu xem xét thiết chế gia
đình ở phương diện cơ cấu và chức năng của nó.
Thuyết cơ cấu chức năng hướng sự chú ý của chúng ta tới cách ứng xử của
cá nhân được định hướng bởi cấu trúc mà nó tham dự. Mặc dù cá nhân luôn có sự
tham gia lựa chọn cách ứng xử trong những tình huống cụ thể, song sự lựa chọn
của họ có thể rất khác nhau tuỳ thuộc vào vị thế và vai trò của họ trong cơ cấu xã
quyết định của gia đình. Cháu là trung tâm của sự đầu tư phát triển nhằm vào lợi
ích kỳ vọng của cả gia đình. 13
1.3.2. Lý thuyết xung đột
Lý thuyết xung đột có ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu xã hội học trong
đó có xã hội học gia đình. Nói đến xung đột tức là phải đề cập đến vai trò, đến sự
xung đột về vai trò. Xung đột vai trò (role conflict) thường xảy ra dưới ba hình
thức:
- Xung đột vai trò giữa các thành viên trong một hệ vai trò khi các kỳ vọng
mong đợi ở nhau, mâu thuẫn với nhau.
- Xung đột vai trò trong bản thân người giữ vai trò khi những mong đợi,
hoặc nhu cầu mâu thuẫn với nhau. Ví dụ như người phụ nữ vừa thực hiện vai trò
người vợ người mẹ lại vừa thực hiện vai trò kinh tế và thành đạt xã hội.
- Xung đột vai trò giữa các vai trò thuộc các hệ vai trò khác nhau khi những
mong đợi hoặc những nhu cầu trao đổi của các thành viên mâu thuẫn với nhau. Để
các cá nhân có thể thực hiện tốt vai trò của mình thì các chuẩn mực xã hội và
chuẩn mực nhóm phải rõ ràng. Mặt khác các cá nhân phải học hỏi các vai trò trong
quá trình xã hội hoá, tức là phải học hỏi về những yếu cầu mà họ cần phải thực
hiện trong một vai trò nhất định. Không phải bao giờ những điều mà cá nhân hiểu
về vai trò và sự mong đợi của xã hội với các vai trò đó cũng phù hợp với nhau. Các
nghiên cứu về trẻ em và người già cho thấy trẻ em thường không nhận thức được
đầy đủ vai trò của mình mà gia đình và xã hội trông đợi, còn người già thường
khung hoảng về vai trò sau khi về hưu.
Simmel cho rằng xung đột giữa các cá nhân là một vấn đề xã hội tất yếu vì
xã hội là một quá trình thay đổi không tĩnh tại, xã hội luôn luôn biến đổi trong
những mong muốn, trong lĩnh vực và trong những mục đích của các cá nhân. ông
cho rằng xã hội tồn tại trong sự tác động qua lại của rất nhiều cá nhân và nhóm xã
hội và khi có nhiều cá thể tham dự thì tất nhiên xã hội sẽ có những xung đột. Sự
cho rằng nếu về phương diện hôn nhân, loài người đi từ quần hôn đến hôn nhân cá
thể, thì trên lĩnh vực gia đình, loài người đi từ đại gia đình đại gia đình mẫu hệ, đại
gia đình phụ hệ đến tiểu gia đình. Nói chung người ta quan niệm đại gia đình gồm
từ ba thế hệ trở lên, là một đơn vị kinh tế và là tế bào của xã hội. Tiểu gia đình
cũng là đơn vị kinh tế và tế bào của xã hội, nhưng chỉ bao gồm bố mẹ và con cái.
15
Có sự đa dạng các hình thức gia đình. Để phân tích sự sắp xếp gia đình đa
dạng và phong phú đó, các nhà xã hội học sử dụng hai khái niệm chủ chốt, đó là
gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân. Gia đình mở rộng là một nhóm người có
quan hệ dòng họ từ 3 thế hệ trở lên, chung sống với nhau (hoặc là rất gần gũi với
nhau), thường tạo thành một hộ độc lập. Gia đình hạt nhân chỉ bao gồm cha mẹ
(hoặc cha, hoặc mẹ) và những người con còn phụ thuộc vào họ…
Thế hệ và thế hệ người
Từ điển Larousse thế kỷ 20, tập 3, xuất bản năm 1930 nêu lên khái niệm thế
hệ về mặt sinh học, đó là chức năng thông qua đó các sinh vật có tổ chức tự sinh
sản. Có sự sinh sản tự nhiên (vô tính) và sinh sản hữu tính. Theo nghĩa rộng, đó là
một quá trình những sinh vật có tổ chức giống nhau, từ những sinh vật này nảy
sinh những sinh vật mới.
Khái niệm thế hệ được hiểu là chỉ một tập hợp người, thường có cùng một
độ tuổi. Mặc dù họ có tính đa dạng khác nhau về nghề nghiệp, hoàn cảnh sinh
sống, tính cách nhưng họ cùng chứng kiến và cùng trải qua diễn biến của các sự
kiện lịch sử trọng đại (về kinh tế, chính trị, văn hoá ) và sống trong một khoảng
thời gian nhất định, có những hồi ức chung, kinh nghiệm chung, tạo nên một tổng
thể khá thuần nhất. Cơ cấu gia đình được phân loại theo những tiêu chí khác nhau.
Một trong những tiêu chí thường đươc sử dụng là căn cứ vào số thế hệ trong gia
đình. Theo số thế hệ trong gia đình, có hai loại gia đình chủ yếu: Gia đình hạt nhân
và gia đình mở rộng.
Gia đình hạt nhân (nuclear family) gồm hai vợ chồng và những đứa con
chưa đến tuổi trưởng thành (con đẻ hoặc con nuôi) của cặp vợ chồng đó. Gia đình
phát triển của gia đình và xã hội.
Thực tế cho thấy, trong xu hướng phát triển của xã hội, lớp trẻ thì không hài
lòng với những gì đã có. Họ thường có thái độ phủ định những gì cản trở sự phát
triển. Sự phủ định này nên được nhìn nhận theo khía cạnh tích cực. Tức là họ
không hẳn xóa bỏ, triệt tiêu những giá trị cũ mà có thể làm cho nó đạt đến một sự
tươi mới, cập nhật, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới hiện đại hơn. Đó
chính là sự kế chuyển cần thiết, đảm bảo cho đời sống xã hội luôn được vận hành
theo hướng tiến về phía trước. Chính vì thế, cần có thái độ lạc quan khi bàn về
"mâu thuẫn thế hệ".
17
Mâu thuẫn thế hệ là một vấn đề bình thường. Nó xuất hiện không chỉ ở xã
hội Việt Nam và cũng không chỉ mới xuất hiện. Vấn đề là cách nhìn nhận mâu
thuẫn đó như thế nào, trong từng thời đoạn, từng hoàn cảnh, từng bức tranh xã
hội ra sao. Mâu thuẫn thế hệ xuất hiện như một lẽ tự nhiên. Nó là sự phản ánh
mâu thuẫn giữa tính kinh nghiệm và tính sáng tạo trong hoạt động của gia đình và
xã hội. Cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng "già" và "trẻ", do vậy cũng là một cuộc
đấu tranh mang tính biện chứng. Tuy nhiên, trong xã hội còn có cơ chế tự điều
chỉnh, giữa các thế hệ luôn có sự thỏa hiệp. Chính vì thế, họ hoàn thiện lẫn nhau.
Người già phải gạt bỏ lối tư duy dựa trên kinh nghiệm để có cách nhìn mới như
người trẻ. Họ không được phép trì trệ, bảo thủ nữa bởi sung lực của người trẻ kéo
họ đi. Người trẻ thì đột khởi nhưng cần luôn biết rằng, những bài học kinh nghiệm
mà người già truyền lại nó giống như cái phanh trên một cỗ xe, phanh thì giải
phóng chứ không phải là kìm hãm tốc độ. Họ phải biết điều tiết tốc độ. Họ cần
uống cạn lời khuyên và tiêu hóa mọi cảnh tỉnh, răn đe của lớp người đi trước.
18
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bằng cách sử dụng các phương pháp định tính và định lượng tiến hành
trước. Cơ cấu kinh tế vẫn chuyển dịch đúng hướng với việc phát triển đa dạng các
thành phần. Trong số 174 dự án đang triển khai, huyện đã cơ bản bàn giao mặt
bằng 60 dự án và đang chỉ đạo triển khai giải phóng mặt bằng 78 dự án
khác…trong đó có những dự án trọng điểm của thành phố như đường Láng - Hoà
Lạc; đường Lê Văn Lương kéo dài; dự án Khu công nghệ cao sinh học; dự án mở
rộng đường 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn…Huyện cũng đã tiến hành các dự án cụm
công nghiệp giai đoạn II, cụm sản xuất làng nghề may Cổ Nhuế; thực hiện chuyển
đổi mô hình quản lý các chợ Xuân Đỉnh II, Tây Tựu, chợ thôn Trung Văn, chợ
Phùng Khoang II nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế.
Trong kế hoạch phát triển, huyện Từ Liêm đã đặt ra mục tiêu từ năm 2010 -
2020, huyện sẽ trở thành vùng đô thị mới của thành phố Hà Nội với các công trình
hiện đại, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh với chất lượng cao.
Văn hoá - Xã hội
Bên cạnh tập trung phát triển kinh tế, huyện Từ Liêm cũng quan tâm nhiều
đến các vấn đề văn hoá - xã hội. Trong hơn 10 năm qua, huyện đã đầu tư hơn 1000
tỉ đồng vào việc xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng. Trên 95% đường giao thông
của huyện được trải nhựa và bê tông hóa, hệ thống điện, nước đáp ứng nhu cầu
phục vụ nhân dân và sản xuất. Sự nghiệp văn hóa thể thao, giáo dục và đào tạo, y
tế không ngừng phát triển, 100% trạm y tế được nâng cấp và có bác sĩ chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân. Tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ Phụ nữ không sinh con thứ 3;
Câu lạc bộ Tuổi trẻ hạnh phúc - KHHGĐ, câu lạc bộ Nam Nông dân được duy trì
và thường xuyên hoạt động. Kỷ niệm này Gia đình Việt Nam, huyện đã tổ chức
truyền thông liên tục trên hệ thống loa truyền thanh, pa nô, khẩu hiệu, tổ chức mít
tinh. Huyện tổ chức lễ biểu dương 20 gia đình tiêu biểu, 32 gia đình thực hiện tốt
chính sách DSGĐTE.
2.1.2. Quận Tây Hồ
Quận Tây Hồ được thành lập năm 1995, là nơi tập trung nhiều di tích danh
thắng, di tích Văn hóa - Lịch sử có giá trị của Thủ đô Hà Nội. Sau 15 năm xây
dựng và phát triển, quận Tây Hồ đã có bước phát triển mạnh với những thành tựu
thuộc khu vực phát triển của Thành phố trung tâm. Với vị trí đó, Tây Hồ có điều
kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực (bao gồm cả nguồn vốn tài chính,
21
nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ) để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế -
xã hội của quận nói riêng và của Thủ đô Hà Nội nói chung.
Văn hoá - Giáo dục - Y tế
Được xác định là trung tâm dịch vụ - du lịch - văn hoá của thành phố, quận
Tây Hồ đã có nhiều biện pháp nhằm phát triển hơn nữa các loại hình sinh hoạt văn
hoá cũng như các trùng tu, sửa chữa, bảo vệ các danh lam thắng cảnh hiện có của
vùng. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) về "Xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Quận uỷ tập trung lãnh đạo các cấp uỷ
Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ
tổ chức nhiều hoạt động phong phú, có hiệu quả trong việc thực hiện Nghị quyết.
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" được nhân dân
hưởng ứng tích cực. Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn "Gia đình văn hoá", "Tổ dân phố
văn hoá", "Khu dân cư tiên tiến xuất sắc" tăng cả về số và chất lượng góp phần xây
dựng nếp sống văn hoá người Hà Nội.
Về giáo dục, tỉ lệ các cấp học đều đạt và vượt chỉ tiêu hàng năm. Cơ sở vật
chất các trường được quan tâm đầu tư đáp ứng yêu cầu dạy và học. Hiện toàn quận
đã có 7 trường đạt chuẩn quốc gia. Sự nghiệp y tế được quan tâm chỉ đạo, mạng
lưới y tế cơ sở từng bước được củng cố và kiện toàn, có 5/8 phường được công
nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế. Quận đã hoàn thành xây dựng mới và đưa vào sử
dụng Trung tâm y tế quận với phòng khám đa khoa. Trang thiết bị được đầu tư mới
nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn quận.
2.2. Một số lý luận về những nhân tố tác động đến mâu thuẫn giữa các
thế hệ gia đình hiện nay.
Thực tế cho thấy, nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm qua đã
tạo ra nhiều thay đổi lớn về kinh tế - xã hội, văn hoá. Những thay đổi này cũng kéo
theo những thay đổi trong nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân và gia đình trong