TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
KHOA XÃ HỘI HỌC
NGUYỄN THỊ CHÚC Một số yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng
tiếp cận nƣớc sạch của ngƣời nghèo đô thị
(Qua khảo sát tại Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 5.01.09
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN: TS. NGUYỄN QUÝ THANH
1. Sơ lƣợc hiện trạng ngành cấp nƣớc đô thị Việt Nam 18
2. Cơ sở lý luận và lý thuyết tiếp cận 21
2.1 Cơ sở lý luận 21
2.2 Lý thuyết phân tầng xã hội 21
2.3 Quan điểm giới và cộng đồng 23
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 26
4. Các khái niệm cơ bản 34
4.1 Quan điểm về ngƣời nghèo và cách tiếp cận 34
4.2 Mức chuẩn nghèo 36
4.3 Ngƣời nghèo đô thị Hà Nội 37
* Đặc điểm của ngƣời nghèo đô thị tại địa bàn khảo sát 38
4.4 Nƣớc sạch 39
Chƣơng II: ngƣời nghèo đô thị và sự tiếp cận của họ đến nƣớc sạch 41
I. Đặc điểm kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng của địa bàn nghiên cứu 41
1. Đặc điểm kinh tế xã hội 41
1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội phƣờng Trần Phú - Quận Hoàng Mai 41
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội phƣờng Cự Khối - Quận Long Biên 42
4
2. Đặc điểm cơ sở hạ tầng 44
II. Hiện trạng sử dụng nƣớc 46
1. Các nguồn nƣớc cho sinh hoạt và mục đích sử dụng 46
2.Chất lƣợng nguồn nƣớc 50
III. Những khó khăn trong việc tiếp cận nƣớc sạch 56
1. Những rào cản về tài chính 56
1.1 Vấn đề giá nƣớc 56
1.2 Chi phí dùng nƣớc sinh hoạt hàng tháng 58
1.3 Chi phí lắp đặt và vị trí địa lý 61
5
Bảng
Bảng 1: Dự kiến nhu cầu cấp nƣớc đô thị và vốn đầu tƣ 8
Bảng 2: Các chỉ số cấp nƣớc đô thị Việt Nam năm 2002 19
Bảng 3: Các dạng tham gia của cộng đồng 24
Bảng 4: Những khó khăn trong việc cấp nƣớc cho ngƣời nghèo 29
Bảng 5: Thu nhập bình quân đầu ngƣời của ngƣời dân Hà Nội năm 2002 37
Bảng 6: Nguồn nƣớc và mục đích sử dụng 47
Bảng 7: Mối quan hệ giữa chất lƣợng nƣớc kém và việc đƣờng ống cấp nƣớc của
thành phố chƣa đến địa phƣơng 53
Bảng 8: Mối quan hệ giữa chất lƣợng nƣớc kém và hệ thống đƣờng ống xuống cấp
54
Bảng 9: Mối quan hệ giữa chất lƣợng nƣớc kém và việc thành phố chƣa có tiền đầu
tƣ 54
Bảng 10: Giá tiêu thụ nƣớc sạch của Hà Nội 57
Bảng 11: Chi phí dùng nƣớc sinh hoạt trung bình/1 đấu nối năm 2003 59
Bảng 12: Chi phí dùng nƣớc trong tổng thu nhập và tổng chi tiêu của các hộ gia đình
tại một số thị trấn của Việt Nam 60
Bảng 13: Mối quan hệ giữa mức chi tiêu và số tiền sẵn sàng chi trả 67
Bảng 14: Những khó khăn về nƣớc sạch theo quan điểm giới 68
Bảng 15: Nguyên nhân và hậu quả của các khó khăn về nƣớc sạch 72
Bảng 16: Hƣớng giải quyết những khó khăn về nƣớc sạch ở phƣờng Trần Phú 79
Bảng 17: Hƣớng giải quyết những khó khăn về nƣớc sạch ở phƣờng Cự Khối 80
Bảng 18: Những đóng góp của nƣớc vào các mục tiêu của chiến lƣợc xoá đói giảm
nghèo 108
Bảng 19: Những khó khăn về cơ sở hạ tầng tại Tổ 19 phƣờng Trần Phú 111
Hình 1: Bản đồ quận Hoàng Mai 42
Hình 2: Bản đồ quận Long Biên 43
Hình 3: Mô hình bể lọc nƣớc giếng khoan đã ngả màu vàng của một hộ gia đình . 52
Hình 4: Bể nƣớc ăn (đã lọc) ngả màu rêu xanh và nổi váng của một hộ gia đình 53
Phụ lục
Phụ lục 1: Phiếu trao đổi ý kiến 95
Phụ lục 2: Khung phỏng vấn sâu 98
Phụ lục 3: Khung phỏng vấn nhóm 100
Phụ lục 4: Một vài số liệu tƣơng quan tiêu biểu 103
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề nƣớc sạch đƣợc xem là một phần trong chiến lƣợc chống đói
nghèo và dịch bệnh ở khắp các quốc gia, là một trong những mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ. Bởi lẽ, nƣớc không chỉ tạo ra môi trƣờng sinh thái nơi con
ngƣời sinh sống, không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày mà còn đóng
vai trò quan trọng trong quá trình mƣu sinh của những ngƣời dân nông thôn,
liên quan đến việc tăng cƣờng sức khỏe, giảm nghèo đói, tăng thu nhập và
giúp cải thiện những điều kiện sống cho ngƣời dân đô thị.
Mặc dù là một quốc gia giàu tài nguyên nƣớc, nhƣng nguồn tài nguyên
nƣớc ngọt nƣớc ta đang chịu sức ép ngày càng tăng từ nhiều phía do sự gia
tăng dân số, đô thị hoá, phát triển kinh tế và biến đổi môi trƣờng.
Tuy đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia có thành tựu xóa đói
giảm nghèo nhanh nhất, năm 2002 còn 17,2%, đến năm 2004 giảm xuống còn
8,3%, nhƣng theo ƣớc tính, Việt Nam vẫn còn khoảng 5-10% dân số nằm
45%
Tỷ lệ bao phủ dịch vụ (%)
65
85
100
Tiêu chuẩn cấp nƣớc (lít/ngƣời/ngày)
90
120
150
Nhu cầu cấp nƣớc (triệu m
3
/ngđ)
3,7
6,5
13,8
Nhu cầu vốn đầu tƣ (triệu USD)
1.000
2.600
5.500
Nguồn: Nghị quyết đại hội đảng IX
Bên cạnh những cải tổ trong lĩnh vực cấp thoát nƣớc cả về thể chế lẫn
chính sách, biến nƣớc sạch thành một hàng hóa mang tính chất kinh tế chứ
không còn là một sản phẩm có tính xã hội, đƣợc bao cấp, trợ giá nhƣ trƣớc
đây, tháng 5/2002, Thủ tƣớng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lƣợc toàn diện
về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo (GPRCS). Văn bản này ghi dấu mốc
lần đầu tiên các vấn đề xóa đói giảm nghèo liên quan đến nƣớc sạch đã đƣợc
đề cập một cách cụ thể thành nhiều vấn đề khác nhau (xem Bảng 16). Tại mục
tiêu 11 của chiến lƣợc này là đảm bảo phát triển cơ sở hạ tầng vì ngƣời nghèo
đã đề ra định hƣớng đầu tƣ vào các cộng đồng nghèo để tăng cƣờng cơ sở hạ
tầng cấp nƣớc, tƣới nông nghiệp, vệ sinh, phòng chống thiên tai và tăng cƣờng
tiếp cận nƣớc sạch của ngƣời nghèo đô thị (qua khảo sát tại Hà Nội)”,
chúng tôi mong muốn giúp các nhà quản lý có một cái nhìn đầy đủ, chính xác
về thực trạng và nhu cầu dùng nƣớc của những ngƣời nghèo tại những khu đô
thị mới, đồng thời đề xuất những giải pháp giải quyết tình trạng này xuất phát
từ mong muốn và khả năng của cộng đồng địa phƣơng.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.1 2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hƣớng đến làm sáng tỏ các vấn đề sau:
10
Một là, mô tả thực trạng sử dụng nƣớc sạch của ngƣời nghèo đô thị và tìm
hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận của họ đối với nƣớc sạch.
Hai là, chỉ ra cách thức và biện pháp để ngƣời nghèo đô thị có thể tiếp cận với
nƣớc sạch theo quan điểm giới và cộng đồng.
1.2 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
1. Xem xét thực trạng việc sử dụng nƣớc sạch tại địa bàn nghiên
cứu về các vấn đề nguồn nƣớc, chất lƣợng, khối lƣợng…
2. Những khó khăn tác động đến việc sử dụng nƣớc là gì? Khả năng
chi trả (chi phí dùng nƣớc, chi phí kết nối vào hệ thống nƣớc máy
của thành phố), vị trí địa lý, thủ tục hành chính, vấn đề hộ khẩu, ý
thức và thái độ của ngƣời sử dụng nƣớc.
3. Phụ nữ và nam giới nhìn nhận những khó khăn này nhƣ thế nào
và đƣa ra hƣớng giải quyết ra sao?
3. Giả thuyết
1. Khả năng chi trả là yếu tố chính cản trở ngƣời nghèo đô thị sử dụng
nƣớc sạch.
2. Vị trí địa lý có tác động đến khả năng của các hộ gia đình trong việc
thực tế của cộng đồng, những ngƣời sử dụng dịch vụ.
Khả năng
tiếp cận
nước sạch của
người nghèo
đô thị
Vai trò giới và
cộng đồng
Vị trí địa lý
Thủ tục hành
chính
Khả năng tài
chính
12
Phƣơng pháp này cũng giúp đánh giá tầm quan trọng của nhu cầu sử
dụng nƣớc so với các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu khác trong nhóm các
yếu tố cơ sở hạ tầng đƣợc xem xét.
Những nhận định về ƣu điểm của phƣơng pháp này đã đƣợc chứng
minh rất nhiều qua các nghiên cứu, dự án ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới.
nƣớc Mini của phƣờng). Cơ cấu giới: nam chiếm 76 ngƣời, nữ chiếm 44
ngƣời.
Việc điều tra bằng bảng hỏi đƣợc tiến hành với tất cả các hộ gia đình tại
địa bàn khảo sát theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo hành trình. Vì
hầu hết các chủ hộ gia đình đều đi làm vắng về ban ngày nên việc tiếp cận chỉ
đƣợc thực hiện vào buổi chiều hoặc tối. Những hộ gia đình mà chủ hộ đi vắng
quá 2 lần, khó tiếp cận hoặc từ chối trả lời sẽ đƣợc thay thế bằng hộ gia đình
khác, cứ nhƣ vậy cho đến khi hoàn thành mẫu chọn. Tuy nhiên, tại tổ 1,
phƣờng Cự Khối, quận Long Biên, do địa bàn khá phân tán, số lƣợng hộ gia
đình khó tiếp cận cao, vì thế chúng tôi chuyển một phần số hộ cần điều tra
sang tổ 2, là tổ tiếp giáp, nơi cũng có những điều kiện khó khăn tƣơng tự nhƣ
tổ 1.
5.2 Thảo luận nhóm tập trung
Chúng tôi đã tiến hành thảo luận nhóm tập trung với hai nhóm nam và
nữ ở mỗi phƣờng, qua đó có thể xem xét và kiểm chứng sự khác biệt về giới
trong việc nhìn nhận những khó khăn về vấn đề nƣớc sạch, những nguyên
nhân, hậu quả và hƣớng giải quyết các vấn đề này.
Thông qua sự giới thiệu của tổ trƣởng tổ dân phố, những thành viên
đƣợc chọn tham gia thảo luận là những cá nhân nhiệt tình, hăng hái tại địa
phƣơng.
Trong các cuộc thảo luận nhóm, nhiều công cụ đƣợc sử dụng nhằm khai
thác các thông tin, tính xác thực của vấn đề đƣợc nghiên cứu tại địa phƣơng.
Các kỹ thuật của đánh giá có tham dự nhƣ: liệt kê vấn đề, phân loại vấn đề,
xếp hạng vấn đề, phân tích nhân quả.
14
5.3 Phỏng vấn bán cấu trúc
Việc phỏng vấn bán cấu trúc đƣợc tiến hành với một số lãnh đạo cấp
chính trị và xã hội tƣơng tác với nhau và thƣờng bổ sung cho nhau theo
những cách thƣờng làm trầm trọng thêm sự khốn cùng mà ngƣời nghèo đang
phải gánh chịu” [21, 1]
Hai là, nghiên cứu này giúp làm sáng tỏ hơn cách tiếp cận và giải quyết
những vấn đề mà ngƣời nghèo đang phải đối mặt theo hƣớng tiếp cận có sự
tham gia của cộng đồng, theo quan điểm giới - một cách tiếp cận đang rất phổ
biến và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu giúp chúng ta thấy đƣợc những khó khăn cản trở ngƣời
nghèo đô thị tiếp cận nƣớc sạch, đặc biệt tại các khu đô thị mới thành lập, nơi
điều kiện kinh tế - xã hội đang trong bƣớc đầu hình thành và phát triển. Đồng
thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những biện pháp, cách thức mà cộng đồng tại địa
phƣơng mong muốn tiến hành để giải quyết những khó khăn mà họ đang phải
đối mặt.
Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản lý có một cái nhìn toàn cảnh về
thực trạng sử dụng nƣớc sạch tại địa phƣơng, tìm ra hƣớng giải quyết phù hợp
nhất với tình hình.
7. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
7.1 Khách thể nghiên cứu:
Ngƣời nghèo đô thị.
7.2 Đối tƣợng nghiên cứu:
Một số yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận nƣớc sạch của ngƣời nghèo đô
thị.
16
8. Phạm vi, thời gian khảo sát
Nghiên cứu này đƣợc tiến hành vào tháng 4 và tháng 5 năm 2005 tại hai
quận mới thành lập Long Biên và Hoàng Mai.
Hồng.
Tại hai khu vực này, các hộ gia đình đƣợc tiếp cận và phỏng vấn cá
nhân, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bằng bảng hỏi…
18
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Sơ lƣợc hiện trạng ngành cấp nƣớc đô thị Việt Nam
Ngành cấp nƣớc đô thị Việt Nam có lịch sử hơn 100 năm trở lại đây,
ban đầu chỉ có ở một số đô thị tƣơng đối lớn, nhằm phục vụ chủ yếu cho các
công chức ngƣời Pháp và ngƣời Việt và cho vài khu phố buôn bán. Việc bán
nƣớc đã thay đổi qua các phƣơng thức từ chỗ cung cấp qua các vòi công cộng
và không thu tiền đến hình thức thu khoán ở miền Bắc và thu qua đồng hồ ở
miền Nam. Cơ chế sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cấp nƣớc đã qua một
thời kỳ dài đƣợc sự bao cấp của Nhà nƣớc, hoạt động theo cơ chế sự nghiệp
có thu và sản xuất theo kế hoạch đƣợc giao, đƣợc ngân sách tỉnh bù lỗ.
Ngành cấp nƣớc đô thị Việt Nam chỉ thực sự phát triển khởi sắc từ giữa
thập kỷ 90 trở lại đây nhờ sử dụng vốn ODA để phát triển và hiện đại hoá, bắt
đầu bằng dự án cấp nƣớc Hà Nội do Phần Lan viện trợ không hoàn lại. Đến
nay, tất cả các thành phố lớn và đô thị tỉnh lỵ đều đã có dự án cấp nƣớc, qua
đó ngành cấp nƣớc đô thị Việt Nam đƣợc tiếp cận với công nghệ hiện đại và
với phƣơng thức quản lý mới. Hiện nay, việc phát triển hệ thống cấp nƣớc cho
các đô thị đang tập trung vào hai cực: một cực là các thành phố lớn nhƣ Hà
Nội và TP, Hồ Chí Minh, cực kia là các đô thị nhỏ ở huyện (thị trấn), còn đô
thị khác thì quan tâm chủ yếu đến việc mở rộng mạng lƣới đƣờng ống phân
8,4 ngƣời
5
Tỷ lệ thất thoát bình quân
38%
6
Tỷ lệ thu tiền nƣớc qua đồng hồ
96%
7
Lƣợng nƣớc tiêu thụ bình quân
90 lít/ngƣời/ngày
8
Giá nƣớc bình quân
2,087 đồng/m
3
9
Thời gian cung cấp dịch vụ bình quân cả nƣớc
21 giờ/ngày
Nguồn: Hội Cấp thoát nước Việt Nam, 2002
So với cấp nƣớc đô thị nói chung, tình hình cấp nƣớc tại các đô thị nhỏ
(thị trấn thuộc huyện và thị tứ thuộc xã) kém phát triển. Hiện nay chỉ 45% thị
trấn đƣợc cấp nƣớc máy, tập trung phần lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các
thị tứ hầu nhƣ chƣa có hệ thống cấp nƣớc. Khoảng 10% thị tứ đƣợc cấp nƣớc
máy thông qua chƣơng trình cấp nƣớc nông thôn. Nguồn vốn đầu tƣ cấp nƣớc
đô thị nhỏ đa dạng hơn so với cấp nƣớc các đô thị thuộc tỉnh: ngoài nguồn vốn
ngân sách (khoảng 60%) và nguồn vốn ODA (khoảng 30%) còn có nguồn vốn
của tƣ nhân và tiền đóng góp của cộng đồng dân cƣ vào Hợp tác xã cấp nƣớc
(khoảng 10%).
Nhìn chung, các hệ thống cấp nƣớc đô thị nhỏ mới chỉ khai thác khoảng
50% công suất vì gặp phải sự cạnh tranh để thay thế của nƣớc mƣa và nƣớc
thế giới tính là phải tăng thêm công suất 4,6 triệu m
3
/ngày và lắp đặt thêm
36.000km đƣờng ống nhƣng chuyên gia của JICA lại cho rằng mục tiêu đó là
1
Dự án phát triển cấp nƣớc đô thị Việt Nam: báo cáo tiền khả thi, 2004
21
phi thực tế). Muốn vậy thì từ nay đến 2020 phải đầu tƣ ít nhất là 2 tỷ USD nữa
(tính theo giá hiện nay) để phát triển cấp nƣớc đô thị.
2. Cơ sở lý luận và lý thuyết tiếp cận
2.1 Cơ sở lý luận
Nghiên cứu này dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các sự vật, hiện tƣợng xã hội
đƣợc xem xét tại một thời điểm không gian và thời gian xác định, đồng thời
cũng đƣợc xem xét dƣới sự tác động qua lại, biện chứng của các sự vật hiện
tƣợng này với sự vật hiện tƣợng khác.
2.2 Lý thuyết phân tầng xã hội
Nghiên cứu này áp dụng các quan điểm của lý thuyết phân tầng xã hội.
Trong xã hội học khi đề cập đến phân tầng xã hội ngƣời ta thƣờng nói đến bất
bình đẳng xã hội, coi đó nhƣ là một yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên sự
phân tầng. Một quan niệm về “sự phân tầng trong xã hội học thƣờng đƣợc áp
dụng để nghiên cứu cấu trúc xã hội bất bình đẳng, đó là nghiên cứu những hệ
thống bất bình đẳng giữa những nhóm ngƣời nảy sinh nhƣ là kết quả không
chủ ý của những quan hệ xã hội và những quá trình xã hội.” [6,228] Trong đó,
“bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng (không bằng nhau) về các cơ hội
hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều
chúng, nó mang tính chủ quan. Bất bình đẳng trong ảnh hƣởng chính trị có thể
đƣợc nhìn nhận nhƣ là có đƣợc từ những ƣu thế vật chất hoặc địa vị cao,
nhƣng có thể bản thân chức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt đƣợc địa vị
và những cơ hội trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, hệ thống
phân tầng phản ánh một cách mạnh mẽ những mối quan hệ kinh tế. Vì thế,
những bất bình đẳng về các cơ hội trong cuộc sống là chủ yếu, những chênh
lệch về địa vị xã hội và ảnh hƣởng chính trị thƣờng phụ thuộc vào những cơ
hội vật chất này.
23
Áp dụng quan điểm trên để lý giải những yếu tố ảnh hƣởng đến khả
năng tiếp cận nƣớc sạch của ngƣời nghèo đô thị, nghiên cứu chỉ ra rằng ngƣời
nghèo có ít cơ hội tiếp cận nƣớc sạch hơn so với ngƣời giàu: những chi phí tài
chính cho việc sử dụng nƣớc là một gánh nặng đối với họ, vị trí địa lý ở xa
khu trung tâm khiến họ khó tiếp cận với các dịch vụ hạ tầng, những thủ tục
hành chính với những yêu cầu khắt khe (chẳng hạn vấn đề hộ khẩu) gây cản
trở việc tiếp cận nƣớc sạch của họ. Đồng thời, do vị trí của một quận mới
thành lập, ở xa trung tâm, những khu vực này ít có cơ hội nhận đƣợc sự quan
tâm, đầu tƣ của các cấp chính quyền khiến cho mạng lƣới đƣờng ống cấp
nƣớc chƣa vƣơn tới nơi.
2.3 Quan điểm giới và cộng đồng
Khái niệm sự tham gia của cộng đồng xuất hiện vào giữa thập kỷ 60 và
đã không đƣợc tổ chức Thập niên cung cấp nƣớc uống và vệ sinh quốc tế
(IDWSSD) chấp nhận cho tới giữa thập kỷ 80, sau khi Chính phủ và các nhà
tài trợ nhận ra họ không có khả năng vận hành và duy trì các hệ thống nƣớc
sạch và vệ sinh một cách hoàn toàn tập trung. Các nhà lập kế hoạch đã nhận
thấy rằng để chia sẻ trách nhiệm bảo trì thì ngƣời hƣởng lợi hoặc ngƣời sử
dụng phải đƣợc tham gia qua một số hình thức trong việc tiếp tục bảo trì các
8. Cam kết tập thể về thay đổi hành vi
9. Phát triển tự lực
10. Các dự án cộng đồng tự quản
Nguồn: Unicef, Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về nước và vệ sinh môi trường, 2004
Trong lĩnh vực cung cấp nƣớc gia đình, phụ nữ cần đƣợc xem trọng vì họ
chịu trách nhiệm về nƣớc ở cấp hộ gia đình và có ảnh hƣởng truyền thống tới
bất cứ quyết định nào về cung cấp nƣớc ở cộng đồng. Do đó, nếu phụ nữ đƣợc
tham gia vào đầy đủ các bƣớc của dự án thì những rủi ro, tốn kém trong việc
thiết kế hệ thống sẽ đƣợc giảm thiểu. Hơn nữa, việc tham gia tích cực của phụ
25
nữ trong các tổ chức quản lý của cộng đồng sẽ góp phần đảm bảo cho các tổ
chức này hoạt động hiệu quả, đạt đƣợc hiệu quả về chi phí.
Theo quan điểm giới thì nhu cầu của phụ nữ gồm hai loại là nhu cầu thực
tế, thực dụng và nhu cầu chiến lƣợc. Nhu cầu thực tế, thực dụng là những nhu
cầu do phụ nữ và nam giới xác định trong vai trò đã đƣợc xã hội thừa nhận.
Đó là các điều kiện vật chất, đáp ứng những nhu cầu trƣớc mắt cần thiết của
cả hai giới trong những khung cảnh cụ thể, liên quan đến những vấn đề trong
cuộc sống nhƣ nƣớc uống, dinh dƣỡng, sức khoẻ, đồng lƣơng, hạnh phúc gia
đình
Nhu cầu chiến lƣợc: Xuất phát từ những nhu cầu riêng, của phụ nữ, xuất
phát từ vị trí yếu kém của phụ nữ nhƣ cải thiện vị trí kinh tế - chính trị - xã
hội, những thách thức của sự phân công lao động theo giới nhƣ quyền kiểm
soát, ra quyết định
Nhƣ vậy, giải quyết vấn đề nƣớc sạch chính là đáp ứng những nhu cầu
thực tế, thực dụng. Đó là sự thoả mãn nhu cầu nƣớc sạch trong sinh hoạt, đáp
ứng nhu cầu bảo đảm sức khoẻ cho con ngƣời. Tuy nhiên, việc giải quyết
dụng công nghệ thích hợp.
Chính vì vậy, nghiên cứu này đƣa ra quan điểm tiếp cận vấn đề dƣới
góc độ giới và đặt cộng đồng vào vị thế trung tâm cho phép lý giải thực trạng
việc sử dụng nƣớc, nguyên nhân của những khó khăn và tìm ra phƣơng hƣớng
giải quyết vấn đề trên cơ sở những gợi ý và thảo luận của các nhóm tham gia.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về nghèo đói và nƣớc sạch từ lâu đã trở thành mối quan tâm
của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nƣớc, đặc biệt là các tổ
chức quốc tế.
Bởi lẽ, dân số đô thị của thế giới đang gia tăng nhanh chóng, chủ yếu tập
trung ở các nƣớc đang phát triển. Điều đáng lƣu tâm hơn cả của sự gia tăng