Mạng lưới xã hội của các tiểu thương ở một chợ vùng biên (Nghiên cứu trường hợp chợ Cốc Lếu, tỉnh Lào Cai - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
& TẠ THỊ TÂM

MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA CÁC
TIỂU THƢƠNG Ở MỘT CHỢ VÙNG BIÊN
(Nghiên cứu trƣờng hợp chợ Cốc Lếu, tỉnh Lào Cai) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Hà Nội, tháng 11-2013 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CTQG
Chính trị Quốc gia
KHXH
Khoa học xã hội
Nxb.
Nhà xuất bản
MLXH
Mạng lưới xã hội
PV
Phỏng vấn
QHTN


THỐNG KÊ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Thống kê nguồn gốc hàng hóa ở chợ Cốc Lếu
41
Bảng 3.1: Chợ ở khu Lao Hà Yên năm 1958
43
Bảng 3.2: Mạng lƣới chợ ở các huyện, thị tỉnh Lào Cai
44
Bảng 3.3: Số lƣợng chợ ở tỉnh Lào Cai năm 2011
45
Bảng 3.4: Hệ thống chợ ở thành phố Lào Cai
46
Bảng 3.5: Thống kê ngành hàng và thành phần tộc ngƣời buôn bán
ở chợ A Cốc Lếu, Lào Cai năm 2012
53
Bảng 3.6: Thống kê số lƣợng các phƣờng hội của tiểu thƣơng ở chợ
59
Bảng 4.1: Một số sản phẩm của gia đình ngƣời Giáy bán ở chợ Cốc Lếu và
thị trấn Hà Khẩu
88
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
5
5
6
1.2. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.1 Các khái niệm cơ bản dùng trong luận văn
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
11
11
13
15
Tiểu kết chƣơng 1
21
Chƣơng 2
VAI TRÒ ĐỊA - KINH TẾ CỦA CHỢ CỐC LẾU TRONG
MẠNG LƢỚI CHỢ VÙNG BIÊN Ở LÀO CAI 22
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý
2.1.2. Lịch sử hình thành
2.1.3. Thành phần tộc người
22
22
24
26
6

trong tỉnh
3.1.2.3. Quan hệ mua và bán giữa chợ Cốc Lếu với các địa phương và
dân tộc ở Trung Quốc
43
43
47
47
48

50

3.2. Quan hệ giữa những ngƣời bán hàng trong chợ
3.2.1. Nguồn gốc tiểu thương ở chợ Cốc Lếu
3.2.2. Quan hệ xã hội của người bán hàng
3.2.3. Quan hệ bạn hàng giữa các tiểu thương
3.2.4. Quan hệ với người bán hàng rong

50
50
54
56
60
3.3. Quan hệ giữa ngƣời mua và ngƣời bán
3.3.1. Về giá cả và sự lựa chọn
62
62
7

3.3.1.1. Đối với người đồng tộc
3.3.1.2. Đối với người dân tộc khác

77

78
4.3. Quan hệ giữa những ngƣời buôn bán nhỏ xuyên biên giới
4.3.1. Nguồn gốc hình thành các nhóm người buôn bán nhỏ xuyên
biên giới
4.3.2. Nhu cầu liên kết của nhóm người buôn bán nhỏ trong bối cảnh
thương mại vùng biên
4.3.3. Mối quan hệ của người buôn bán nhỏ với nhau
4.3.4. Mối quan hệ giữa người buôn bán nhỏ và bạn hàng Trung Quốc
80

80

81

90
90
Tiểu kết chƣơng 4
92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
94
8

TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
PHỤ LỤC
Danh sách những người cung cấp thông tin
Danh mục công trình có liên quan đến luận văn
Bảng hỏi

Ở Việt Nam, chợ có từ khá lâu đời. Đây là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi
mua bán hàng hoá, dịch vụ vừa là nơi giao lưu văn hóa thoả mãn nhu cầu sản xuất
vật chất, tinh thần của người dân ở nhiều nơi, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu,
vùng xa, biên giới và hải đảo với quy mô, đặc điểm riêng của từng địa phương. Hệ
thống chợ ở các địa phương có những liên hệ và gắn kết với nhau tạo nên mạng lưới
thị trường.
Mạng lưới thị trường và chợ là một trong những thành tố quan trọng trong nền
kinh tế hàng hóa, có quan hệ hữu cơ với văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa xã hội
và văn hóa nhận thức (tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ…). Mặt khác, mạng lưới thị
trường và chợ có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có
giao lưu, tiếp nhận và trao đổi giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Điều đó làm
cho mạng lưới thị trường cũng như chợ luôn mang hơi thở của đời sống, có sức sống
mãnh liệt, thích ứng để sinh tồn và phát triển. Cũng như các hoạt động kinh tế khác,
mạng lưới chợ và các tiểu thương nổi lên như một hiện tượng kinh tế nổi trội, phổ
biến; đúng như câu nói dân gian lưu truyền “Nhân giai xu thị đạo”, có nghĩa là mọi
người đều đua nhau chạy chợ, đây là hệ thống vi thị trường, có cơ chế tích tiêu hàng
hóa, tiền tệ lưu thông gọn nhẹ, linh hoạt của những người sản xuất và buôn bán nhỏ.
Từ trước đến nay, đặc biệt kể từ khi Đổi mới năm 1986 và chính sách mở cửa
của nước ta, các cửa khẩu vùng biên là nơi diễn ra các hoạt động thương mại nhộn
nhịp, đem lại thu nhập kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của
cư dân vùng biên giới. Trong bối cảnh đó, mạng lưới thị trường cũng như chợ ở hầu
hết các khu vực khác đều có những thay đổi để thích ứng và phát triển trong bối cảnh
nền kinh tế có những chuyển đổi mới. Vì vậy, những vấn đề phát triển kinh tế vùng
biên, các trao đổi xuyên biên giới và các mối quan hệ tộc người (QHTN) vùng biên
giới đang trở thành những mối quan tâm lớn đối với các ngành khoa học xã hội.
Nghiên cứu mạng lưới xã hội (MLXH) của tiểu thương ở chợ là chủ đề khá mới
mẻ và hấp dẫn, không chỉ cung cấp những hiểu biết toàn diện về kinh tế và văn hóa
mà còn thấy được sự thay đổi, thích ứng và phát triển của các tộc người trong bối
cảnh kinh tế đất nước có nhiều thay đổi ở từng khu vực cụ thể.
Khu vực biên giới Việt - Trung, trong đó có thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai là

Nghiên cứu của chúng tôi hướng tới giải quyết các vấn đề cụ thể sau:
- Nghiên cứu làm rõ vai trò địa - kinh tế của chợ Cốc Lếu với mạng lưới chợ
vùng biên ở Lào Cai.
- Tìm hiểu về QHTN thông qua quan hệ bạn hàng, quan hệ người bán hàng với
khách hàng trong việc xây dựng MLXH của các tiểu thương ở chợ Cốc Lếu.
- Tìm hiểu và phân tích MLXH qua quan hệ buôn bán xuyên biên giới của các
tiểu thương thông qua các mối quan hệ với bạn hàng người Hoa từ Trung Quốc sang,
11

quan hệ với các tộc người khác và quan hệ giữa những người buôn bán nhỏ xuyên
biên giới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mạng lưới xã hội hay các quan hệ xã hội của
các tiểu thương ở chợ vùng biên. Mẫu nghiên cứu tập trung vào MLXH của các tiểu
thương ở chợ Cốc Lếu, thành phố Lào Cai.
Nghiên cứu tập trung vào một địa bàn cụ thể, chợ Cốc Lếu, thành phố Lào Cai.
Đây là khu vực trải qua quá trình phát triển kinh tế nhanh và năng động ở khu vực
biên giới Việt - Trung, đồng thời, là không gian tập trung một lượng lớn cư dân địa
phương và người ngoại tỉnh đến đây tham gia vào hoạt động thương mại. Đặc biệt,
kể từ khi tái lập lại tỉnh Lào Cai và Việt Nam - Trung Quốc mở cửa và xúc tiến mạnh
mẽ các hoạt trao đổi kinh tế ở vùng biên giới từ năm 1991 đến nay đã trở thành động
lực mạnh mẽ để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng biên giới.
Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu điểm ở chợ Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh
Lào Cai. Lào Cai là tỉnh biên giới phía Đông Bắc, giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),
có khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Lào Cai lớn nhất cả nước, hoạt động buôn bán xuất
nhập khẩu ở đây diễn ra sôi động và phát triển bậc nhất ở nước ta.
Chợ Cốc Lếu có vị trí rất thuận lợi trong hoạt động buôn bán hàng hóa ở biên
giới. Chợ có lịch sử hình thành từ rất sớm và có truyền thống buôn bán phát triển.
Hiện nay, chợ Cốc Lếu là chợ lớn và nổi tiếng nhất ở Lào Cai. Chợ là điểm đến của

biên ở Lào Cai
Chƣơng 3: Mạng lưới xã hội của các tiểu thương ở chợ Cốc Lếu
Chƣơng 4: Quan hệ buôn bán xuyên biên giới và mạng lưới xã hội của tiểu
thương 13

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Vùng đất biên giới Việt - Trung đã được các nhà truyền giáo và thám hiểm, các
sỹ quan đồn trú, các nhà khoa học đã thu thập nhiều thông tin về khu vực này. Đến
nay, các nhà khoa học đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử và đặc điểm
văn hóa của các tộc người, phong tục tập quán của cư dân sinh sống tại khu vực biên
giới được biết đến như Bonifacy đã đăng một số nghiên cứu về các dân tộc khác
nhau sinh sống ở khu vực này như: Khảo sát về người Tày ở vùng sông Chảy Bắc Bộ
và miền Nam Trung Quốc (1907), Các nhóm dân tộc vùng sông Chảy (1904),
Chuyên khảo về người Mán Cao Lan (1905) Revue Indochinoise, Các dân tộc tỉnh

Schoenberger, Christine Bonnin và một số học giả nước ngoài khác đã có những
nghiên cứu về chợ ở vùng cao Việt Nam, tìm hiểu về chợ buôn trâu và vai trò của
con trâu trong đời sống sinh kế của các TNTS ở huyện Simacai, Lào Cai. Một nghiên
cứu khác cũng của Sarah Turner về chủ đề buôn bán ở vùng nông thôn tỉnh Vân Nam
giáp biên giới Việt Trung. Các bài viết này khám phá các mạng lưới và thực tiễn
kinh doanh của cư dân vùng biên ở phía Bắc Việt Nam (Turner Sara, 2010).
1.1.2. Nghiên cứu của các học giả trong nước
Từ khi Đổi mới đến nay, hệ thống chợ ở nước ta (cả nông thôn và thành thị) đã
phát triển khá mạnh mẽ, tác động của chợ đến đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi cộng
đồng là khác nhau. Chợ trở thành trung tâm trao đổi kinh tế, thúc đẩy các hoạt động
thương nghiệp trong một nền kinh tế hàng hóa tiền tệ phát triển sôi động, đồng thời,
14

là nơi giao lưu văn hóa. Hàng hóa nông sản và thủ công nghiệp được sản xuất hàng
loạt với khối lượng lớn được mang ra thị trường để trao đổi, buôn bán, thông qua
mạng lưới chợ, các làng buôn, các tuyến buôn bán liên vùng đường sông, đường biển
và ven biên giới.
Ở một số địa phương, chợ phát triển thành trung tâm kinh tế vùng/ trung tâm
thương mại dịch vụ, đồng thời là địa phương có sự chuyển đổi kinh tế xã hội mạnh
mẽ theo hướng đô thị hóa, công nghiệp hóa. Đặc biệt, vùng miền núi, biên giới các
hoạt động trao đổi, buôn bán dường như còn dè dặt và thiếu hệ thống, đến nay, các
hoạt động này đã sống dậy và đang hồi sinh, trở thành trung tâm buôn bán sôi động
và đã có những đóng góp tích cực trong nền kinh tế quốc dân.
Các nghiên cứu trong nước đã đề cập nhiều đến chủ đề chợ và những trao đổi
buôn bán của các khối cư dân. Tuy nhiên, vẫn có ít người quan tâm đến MLXH của
những người buôn bán, các quan hệ xã hội này diễn ra như thế nào trong bối cảnh
kinh tế, văn hóa và không gian tộc người cụ thể ? Đó là sản phẩm của những mối
quan hệ cá nhân hay được tồn tại bởi những quan hệ duy tình hay duy lý, thậm chí
các mối quan hệ truyền thống, vai trò, sức mạnh của các quan hệ cá nhân đối với
nghề nghiệp các tiểu thương ở chợ ?.

Doãn (2010) đã đưa ra những kiến giải về chợ làng không những làm giải thể kinh tế
tiểu nông làng xã mà còn góp phần củng cố cấu trúc kinh tế truyền thống lấy nông
nghiệp làm cơ sở. Chợ làng không phải là thành thị mà chỉ là một phần nhỏ của
thành thị hòa trong nông thôn. Qua đó, tác giả khẳng định chợ chính là mắt xích quan
trọng trong kết cấu kinh tế - xã hội nông - công - thương, chợ có sức sống bền lâu
trong cộng đồng cư dân.
Bên cạnh các công trình này, trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Dân tộc học,
Văn hóa Dân gian… đã xuất hiện các công trình chuyên khảo về chợ, mạng lưới chợ
hay các quan hệ xã hội ở khía cạnh khác nhau có liên quan đến chợ. Đặc biệt, qua
một số nghiên cứu được tiếp cận dưới góc nhìn Sử học và Dân tộc học của Nguyễn
Đức Nghinh như “Chợ chùa thế kỷ XVII” (1979); “Mấy nét phác thảo về chợ làng
(qua những tài liệu các thế kỷ XVII, XVIII) (1980)”; “Chợ làng, một nhân tố củng cố
mối liên hệ dân tộc” (1981); Nguyễn Đức Nghinh, Trần Thị Hòa (1981) “Chợ làng
trước cách mạng tháng Tám (thử nghiệm nghiên cứu trên địa bàn huyện đồng
bằng)”; nội dung của các nghiên cứu trên đặc biệt lưu tâm đến mạng lưới chợ làng,
tác giả cho rằng chợ làng có vai trò thương nghiệp rất quan trọng. Theo kết quả
nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Đức Nghinh và Trần Thị Hòa thì trước cách mạng
tháng 8 -1945, ở vùng Bắc Bộ cứ khoảng 7km
2
(khoảng 3 làng đến 6 làng) thì có 1
chợ. Tiếp theo kết quả nghiên cứu trên thì khoảng 5.120 người ở Bình Lục (Hà Nam)
có 1 chợ và 3.300 người ở Quỳnh Côi (Thái Bình) có 1 chợ, riêng ở Bình Lục thì cứ
khoảng 3,2 đơn vị làng có 1 chợ. Như vậy, hệ thống chợ làng khá dày đặc, đó là biểu
hiện của nền kinh tế hàng hóa mở rộng. Mạng lưới chợ làng đã tạo nên mối liên hệ
kinh tế giữa các địa phương và trong phạm vi toàn quốc, đó chính là mối liên hệ dân
tộc, các quan hệ giữa các tộc người trong trao đổi hàng hóa, chợ đã trở thành một
phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Tác giả Diệp Đình Hoa, Bùi Xuân
16

Đính (1983) với “Quan hệ giao lưu buôn bán qua một chợ làng trung du (trước cách

người bên kia biên giới cũng sang giao lưu. Chợ họp trên những khu đất rộng, vừa là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa như trâu, bò, ngựa, lợn, gà…
vừa là nơi để buộc ngựa, phương tiện đi lại của đồng bào. Có lẽ, đa số tộc người
vùng cao đến chợ ngoài mục đích trao đổi hàng hóa còn để giao lưu văn hóa. Khi
17

xuống chợ, đồng bào mang theo con gà, gùi măng, dắt theo con ngựa để bán. Thậm
chí, có người dắt bò, dắt ngựa đến chợ chỉ là để khoe, khảo giá tài sản của mình, đến
khi tan chợ họ lại dắt về. Ngoài ra, đồng bào đến chợ với nhu cầu lớn hơn là gặp gỡ
bạn bè, giao lưu tình cảm, tìm kiếm bạn tình, hát đối đáp, giao duyên đến khi tan
chợ… Ngày nay, chợ vùng cao, đặc biệt là chợ vùng cao biên giới còn là điểm du
lịch thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan, đây chính là điểm sáng trong
đời sống kinh tế, xã hội ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Sự xuất hiện của khách du
lịch không chỉ có tác động về mặt kinh tế (tạo việc làm trong khu vực dịch vụ, bảo
tồn và phát huy nghề truyền thống như thêu, dệt, làm thuốc… ) mà còn tăng cường
sự giao lưu văn hóa - xã hội.
Các công trình nghiên cứu về chợ, viết về chợ ở khu vực Tây Bắc xuất hiện
khá sớm. Thế kỷ thứ XVIII, trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn
(1878) đã cung cấp một số tên chợ ở Tuyên Quang và Hưng Hóa. Đến đầu thế kỷ
XIX, công trình “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của Lê Quang Định (1806) đã
miêu thuật về một số chợ ở Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang. Bộ “Đại Nam nhất thống
chí” thời Tự Đức phần viết về tỉnh Hưng Hóa có ghi danh sách 6 phố chợ. Đặc biệt,
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số sỹ quan Pháp và tòa công sứ Lào
Cai, Yên Bái có viết các loại tiểu chí như “Lược khảo về Lục An Châu” (1898),
“Lược khảo về Bảo Hà” (1898), “Tiểu chí xứ Lào Cai” (1909), “Địa chí Lào Cai”
(1933)… Các công trình trên có ghi chép một số nét về các chợ ở Lào Cai, Bảo Hà,
chợ ở Phố Ràng… Báo cáo kinh tế hàng năm của tỉnh Lào Cai (1957 - 1959) cũng đề
cập nhiều đến hệ thống các chợ, việc xây dựng mở rộng chợ, việc trao đổi, buôn bán,
giá cả các mặt hàng ở chợ.
Nghiên cứu về chợ, chợ phiên vùng cao trong những thập niên gần đây có tác

trung mô tả, phân tích yếu tố “chợ tình” và các hoạt động văn hóa chủ yếu ở chợ Sa
Pa. Đây cũng là những gợi mở đáng quý cho những nghiên cứu tiếp theo.
Kể từ khi Việt Nam - Trung Quốc bình thường hóa quan hệ trở lại, việc
nghiên cứu các chính sách phát triển vùng biên đã được đặt ra với sự ra đời của hàng
loạt các công trình nghiên cứu như: Buôn bán qua biên giới Việt - Trung: lịch sử,
hiện trạng triển vọng (Nguyễn Minh Hằng, 2001), Phát triển kinh tế miền núi phía
Bắc và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh chủ quyền an ninh biên giới (Đinh
Trọng Ngọc, 2001), Buôn bán qua biên giới Việt - Trung và một số nhận xét về điều
kiện để phát triển buôn bán qua biên giới (Lê Tuấn Thanh, 2004). Các nghiên cứu
này chỉ nhìn vấn đề từ phía Việt Nam mà thiếu cái nhìn so sánh xuyên biên giới.
Ở Viện Dân tộc học, khoảng 5 năm gần đây đã có một số đề tài có liên quan
đến vấn đề kinh tế - xã hội của cư dân các tỉnh biên giới: “Các giải pháp văn hóa -
xã hội hạn chế, đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở một số dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam”
do TS. Vũ Thị Hồng và TS. Đào Huy Khuê làm Chủ nhiệm (2006 - 2007), đề cập
đến tình hình tệ nạn xã hội trong mối quan hệ giữa các tộc người ở vùng Đông Bắc.
“Một số vấn đề bức xúc của đồng bào dân tộc Tày - Nùng - Giáy trong quá trình
phát triển kinh tế, văn hóa ở Lạng Sơn và Lào Cai” do Tiến sĩ Đặng Thanh Phương
làm Chủ nhiệm (2008 - 2009). “Vai trò của người Việt trong sự phát triển bền vững
19

vùng Đông Bắc Việt Nam” do PGS, TS. Bùi Xuân Đính làm Chủ nhiệm (2008 -
2009) nghiên cứu vai trò của người Việt trong phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,
xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, sự thích nghi với môi
trường sống ở vùng Đông Bắc.
Viện Dân tộc học mới có một nghiên cứu trực tiếp về “Một số vấn đề cơ bản
về dân tộc dưới tác động của sự phát triển vùng biên giới Việt - Trung (Nghiên cứu
về người Hà Nhì ở một làng của tỉnh Lào Cai và một làng thuộc châu Hồng Hà, tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc)”. Kết quả nghiên cứu thực địa dựa trên cơ sở tư liệu ở một
làng người Hà Nhì tại tỉnh Lào Cai.
Nhìn chung, đã có một lượng tương đối các công trình nghiên cứu về chợ dưới

.
Ở Việt Nam, theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh, mạng lưới xã hội được hiểu như là
mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội khác trong một thực thể xã hội nhất
định, dù đó là chính thống hay phi chính thống, thường xuyên hay bất thường, các
mạng lưới xã hội “chuyên chở” các mối quan hệ qua lại về kinh tế, xã hội và văn hóa
giữa các cá nhân hay nhóm xã hội, đảm bảo tính liên thông, cân bằng, ổn định, gắn
kết của một thực thể xã hội… (Ngô Đức Thịnh, 2008).
Quan hệ xã hội (Social network) là những quan hệ giữa người với người được
hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng,
đạo đức, văn hóa, v.v… Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội. Những
tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà có mục đích, có hoạch định, có xu
hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô hình tương tác. Quan hệ xã hội là quan
hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động. Các quan hệ này được hình thành
trên những tương tác xã hội ổn định, có tính lặp lại, v.v Các tương tác này còn có
thể mang những đặc trưng khác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ xã hội khác
nhau
2
.
Ở phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc, khái niệm Quanxi (quan hệ) đã có
từ lâu và được nghiên cứu nhiều. Guanxi (phát âm: “gwan - shee”), một từ tiếng
Trung có nghĩa là những mối quan hệ tương trợ cần thiết cho thành công. Để thành
công trong lĩnh vực kinh doanh cần phải kết hợp hài hòa giữa những quan hệ xã giao
với những quan hệ mang tính chất cá nhân. Guanxi có nghĩa là nghệ thuật tinh tế
trong việc xây dựng và nuôi dưỡng quan hệ. Nhưng thực chất, Guanxi có nghĩa là
một mối quan hệ được xây dựng sau một thời gian dài, chúng ta có thể hiểu đó là
“quan hệ tốt”. Bốn nguyên tắc cơ bản của một mối quan hệ tốt có thể hiểu ngắn gọn
là: sự tin tưởng (tôn trọng và hiểu người khác), sự quý mến (trung thành và nghĩa
vụ), sự phụ thuộc (sự hòa hợp lẫn nhau, tôn chỉ hai bên cùng có lợi) và sự thích nghi
(kiên trì và mở mang kiến thức). Trong nghệ thuật của quan hệ có ba yếu tố quan
trọng, đó là: đạo đức, chiến thuật và xã giao đan xen với nhau. Quan hệ được xây

tại trong từng mối quan hệ giữa các cá nhân, nhóm hay các tổ chức xã hội. Trong
mạng xã hội, vốn con người là đầu mối trung tâm còn vốn xã hội nằm ở các đường
liên hệ và liên kết với các đầu mối. MLXH có thể chia thành mạng lưới vi mô (quan
hệ xã hội trong phạm vi nhỏ, các nhóm nhỏ) và MLXH vĩ mô (quan hệ xã hội trong
các nhóm lớn hay trong cộng đồng xã hội rộng).
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng khái niệm vốn xã hội như một cách tiếp cận
tổng thể để khám phá MLXH của các tiểu thương. Vốn xã hội (Social Captial): đây là
thuật ngữ được sử dụng từ đầu thế kỷ XX, nhưng nó chỉ được dùng một cách rộng rãi
sau công trình của Coleman, Buordieu và Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu
những năm 1990. Vốn xã hội được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn
khác như vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn con người. Bourdieu đưa ra định nghĩa về
vốn xã hội “Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực, hữu hình hay vô hình hoặc sự tích
lũy của một cá nhân hay một nhóm bởi một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ
qua lại có mức độ thể chế hóa nhiều hay ít đã được thừa nhận. Thừa nhận rằng vốn
22

có thể có những hình thức khác nhau là tuyệt đối cần thiết để giải thích cấu trúc và
những động lực về sự khác biệt giữa các xã hội” (Dẫn theo Hoàng Bá Thịnh, 2008).
Cùng thời với Boundieu, nhà xã hội học người Mỹ Jame Coleman đã đưa ra
một khái niệm rất rộng về vốn xã hội: “Vốn xã hội được định nghĩa bằng chức năng
của nó. Nó không phải là những thực thể riêng lẻ mà là những thực thể đa dạng, với
hai thành tố chung: bao gồm một số khía cạnh của các cấu trúc xã hội và các khía
cạnh của cấu trúc xã hội khiến cho các hành động của các tác nhân dễ dàng cho dù
các cá nhân hoặc liên kết các tác nhân trong cấu trúc đó. Cũng giống như các hình
thức khác nhau của vốn, vốn xã hội được hình thành, tạo nên khả năng đạt được
những mục tiêu cụ thể mà nếu không có vốn xã hội thì sẽ không thể đạt được” (Dẫn
theo Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr 46).
Khi nghiên cứu về vốn xã hội không thể không đề cập đến cách giải thích về
vốn xã hội theo quan điểm chức năng của Coleman. Ông định nghĩa vốn xã hội là

động xã hội để lý giải hành vi ứng xử của các tiểu thương trong môi trường kinh tế -
xã hội ở vùng biên. Qua việc tìm hiểu mối QHTN và sự tương tác với bạn hàng,
khách hàng cũng thể hiện những mối liên kết nhất định trong MLXH của các tiểu
thương ở chợ.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Điền dã dân tộc học là phương pháp chính để thu thập tư liệu cho đề tài
nghiên cứu. Các thao tác, kỹ thuật cụ thể được áp dụng trong nghiên cứu này là: quan
sát tham dự, phỏng vấn dưới các hình thức khác nhau (phỏng vấn nhanh, phỏn vấn
sâu, phỏng vấn câu chuyện cuộc đời, sử dụng bảng hỏi…), điều tra hồi cố, thảo luận
nhóm, thu thập tài liệu thứ cấp, sử dụng các tài liệu thống kê có sẵn…
Điền dã, thu thập tư liệu ở chợ vùng biên Lào Cai cho đề tài luận văn này có
những thuận lợi và khó khăn riêng so với địa bàn đô thị hay nông thôn khác. Chợ
vùng biên là địa bàn nhạy cảm, phức tạp, buộc nhà nghiên cứu phải có kinh nghiệm
cá nhân, bản lĩnh và ứng xử nhanh và nhạy bén để xử lý linh hoạt các tình huống.
Thứ nhất, về những thuận lợi: khi điền dã ở một chợ vùng biên ở Lào Cai,
người nghiên cứu tiết kiệm được thời gian đi lại, tăng thời gian làm việc ở thực địa,
có thể đi điền dã bất cứ thời gian nhàn rỗi nào để thu thập hoặc xác minh lại tư liệu,
việc gặp người buôn bán tương đối thuận lợi vì phần lớn thời gian họ ở chợ.
Bên cạnh đó, khó khăn khi khảo sát địa bàn chợ vùng biên cũng rất nhiều.
Nếu như ở nông thôn, nơi con người sống thân thiện, chan hòa và cởi mở thì những
người buôn bán ở chợ vùng biên có vẻ như dè dặt, cảnh giác và đề phòng, lạnh lùng
và hơi khó gần, một số người tỏ ra ghê gớm và thiếu thân thiện với người lạ. Vì vậy,
công việc bắt buộc phải gặp được các vị đứng đầu cơ quan hành chính này, nếu
không gặp được, có nghĩa là công việc đang ùn tắc ở đó. Bởi, địa bàn nghiên cứu khá
nhạy cảm do ở gần biên giới, vấn đề “an ninh biên giới” luôn được các nhà quản lý
và cơ quan hành chính “đề cao cảnh giác”. Mặt khác, khi tiếp xúc với người buôn
bán hoặc người đi chợ ở vùng biên giới, nếu không có giấy giới thiệu của Sở văn hóa
hoặc của Ban quản lý chợ thì công việc điều tra và lấy tư liệu sẽ vô cùng khó khăn.
24


+ Kỹ năng thu thập thông tin ở thực địa:
Khi đến chợ nghiên cứu, tôi chưa vội bắt tay ngay vào công việc, đầu tiên là
“đi chơi chợ”, “đi ngắm chợ” để nắm rõ các khu vực hàng hóa, bố trí chợ, các lối vào
chợ, các di tích như đình, chùa, miếu ở gần chợ, hay các ngõ ngách quanh chợ…
Những ngày tiếp theo, tôi đi lang thang ngắm chợ để nắm được tình hình, làm quen
25

với người bán hàng, trò chuyện thân mật và làm quen, xây dựng quan hệ với người
buôn bán hay những người bán hàng ở bên ngoài vỉa hè chợ để biết thêm thông tin về
chợ. Ngày ngày đến chợ, tôi thường quan sát các hoạt động và đặt mình trong bối
cảnh sống cuộc sống ở chợ, lấy chợ đặt cá nhân vào trong bối cảnh bán hàng thay,
hay vị trí người đi chợ mặc cả, người môi giới, dẫn khách, giới thiệu khách. Từ đó,
người nghiên cứu tạo nên một mạng lưới quan hệ với người bán hàng. Mối quan hệ
với người bán hàng được xây dựng tốt, người bán hàng coi nhà nghiên cứu là người
thân, bạn thân để có thể giãi bày tâm sự, chia sẻ cảm xúc, hiểu được suy nghĩ của
người trong cuộc. Qua đó, nhà nghiên cứu mô tả theo cảm quan những giá trị nhãn
quan của người buôn bán.
Sau những ngày đầu làm quen, tôi bắt đầu vẽ sơ đồ chợ, sơ đồ các ngành hàng
và biết được “lịch đi chợ, thời điểm bán đắt hàng, thời điểm người bán hàng rảnh
rỗi”, từ đó, xây dựng lịch điền dã trong ngày, trong tuần một cách hiệu quả. Ví dụ: ở
nhóm hàng đồ lưu niệm và giải khát rất đông khách du lịch trong nước, du lịch nước
ngoài và khách Trung Quốc, người bán hàng bận suốt cả ngày, thậm chí không còn
thời gian để ăn trưa và nghỉ trưa, vì vậy, cơ hội để nói chuyện, thực hiện phỏng vấn
với người bán hàng ở khu vực này rất khó khăn. Như vậy, buổi tối khi đã về nhà họ
mới có thời gian tiếp chuyện với tôi, hoặc nếu muốn nói chuyện với họ, tôi phải ở
chợ đến lúc người bán hàng thu dọn hàng hóa thì tôi mới có hỏi được vài câu, thực
sự lúc này người bán hàng cũng khá mệt nên kết quả phỏng vấn không cao.
Tiếp theo, tôi lập được danh sách những người buôn bán tiêu biểu ở các ngành
hàng khác nhau, thông qua trưởng các ngành hàng, các thành viên trong Ban Quản lý
chợ, một số người am hiểu và thân thiện khác trong chợ như đội Bảo vệ… Sau đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status