ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THANH TRÀ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở
Vườn Quốc gia Ba Vì LUẬN ÁN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
HÀ NỘI, 2007
15
1.2 Tình hình phát triển DLST theo hướng bền vững
17
1.2.1 Tình hình chung
17
1.2.2 Những vấn đề nảy sinh
19
1.2.3 Những định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững
22
Chương 2. Vườn quốc gia Ba Vì và hiện trạng hoạt động du lịch hiện
nay
26
2.1 Khái quát về VQG Ba Vì
26
2.1.1 Sự hình thành và phát triển
26
2.1.2 Yếu tố tự nhiên
29
2.1.2.1 Vị trí địa lý
29
2.1.2.2 Thổ nhưỡng
29
2.1.2.3 Khí hậu
29
2.1.2.4 Hệ thực vật
30
2.1.2.5 Hệ động vật
33
2.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại VQG Ba Vì
33
2.2.3.6 Tình hình tham quan
46
2.2.3.7 Trung tâm du khách
49
2.2.3.8 Bảo vệ tài nguyên môi trường
50
2.2.3.9 Tiếp thị và quảng bá du lịch
52
Chương 3. Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại VQG Ba Vì
53
3.1 Đáp ứng tối đa nhu cầu chính đáng của du khách
54
3.1.1 Chỉ số hấp dẫn du khách của VQG Ba Vì
54
3.1.2 Gia tăng tính hấp dẫn du lịch
55
3.1.2.1 Thiết kế những loại hình du lịch mới
55
3.1.2.2 Tiếp thị du lịch có trách nhiệm (Marketing xanh)
67
3.1.2.3 Tiếp thị và quảng bá du lịch
74
3.2 Gia tăng phúc lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương
76
3.2.1 Tăng thu nhập cho dân địa phương
78
3.2.1.1 Thu hút lao động địa phương
79
3.2.1.2 Sử dụng hàng hoá và dịch vụ của địa phương
90
3.3.2.1 Tôn tạo các điểm du lịch, các di tích văn hoá- lịch sử
92
Kết luận và kiến nghị
93
Phụ lục
Tài liệu tham khảo Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì5
Những chữ viết tắt
VQG - Vườn quốc gia
KBTTN - Khu bảo tồn thiên nhiên
DLST - Du lịch sinh thái
ĐDSH - Đa dạng sinh học
IUCN - (International Union for Convervation of Nature) :
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì6
Danh mục biểu bảng
Bảng 1: Danh sách VQG ở Việt Nam.
môi trường và lãng phí tài nguyên từ sự phát triển du lịch ngày càng tăng. Các hệ
sinh thái vẫn đang ngày một bị con người xâm phạm không thương tiếc. Điều đó đã
làm ảnh hưởng tới cuộc sống tự nhiên, đồng thời gây hại đến chính lợi ích của con
người qua việc làm cạn kiệt dòng tài nguyên mà chúng ta đang sống phụ thuộc. Hậu
quả to lớn là tính đa dạng của nhiều loài dộng, thực vật đã giảm sút mạnh và đang
đe doạ tiềm năng phát triển DLST ở nước ta. Việt nam là nước so mức độ đa dạng
sinh học đứng thứ 10 thế giới nhưng tốc dộ suy giảm được xếp vào loại nhanh nhất.
Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị xâm phạm như tài nguyên rừng hay tài nguyên nước.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì8
Ngoài ra phải kể đến hiện tượng nhiều nhà kinh doanh trong lĩnh vực du lịch đã quá
tập trung vào những lợi ích kinh tế trước mắt đã khai thác không hợp lý các nguồn
tài nguyên du lịch của địa phương. Điều này xảy ra chính là do trong quá trình khai
thác tài nguyên tại các vùng du lịch cả nước còn bộc lộ nhiều bất cập như chưa bám
sát quy hoạch và chiến lược tổng thể phát triển du lịch của cả nước, từng vùng du
lịch, chưa tính đến hiệu quả lâu dài và tính lưỡng dụng trong đầu tư phát triển các
loại hình du lịch, có nơi mới chỉ chú ý đến phát triển du lịch thuần tuý mà chưa coi
trọng các mặt khác, thậm chí còn gây tác hại đến tài nguyên và môi trường du lịch.
Do vậy, mặc dù tốc độ tăng trưởng du lịch những năm qua tiếp tục đạt mức
khá cao nhưng khả năng cạnh tranh của Du lịch Việt nam so với các nước khác
trong khu vực thì vẫn còn ở mức thấp. Sự phát triển thiếu bền vững trên sẽ khiến
ngành du lịch Việt Nam dù đang có sẵn nhiều lợi thế sẽ vẫn bị bỏ xa các nước trong
khu vực và trên thế giới.
Vấn đề mang tính nguyên tắc xuyên suốt là làm sao để phát triển du lịch
mang tính bền vững và có hiệu quả.
Hiện nay phát triển bền vững nổi lên thành mô hình mới cho chính sách toàn
cầu, quốc gia, khu vực và địa phương. Uỷ ban môi trường và phát triển của Liên
hiệp quốc đã xác nhận “Phát triển bền vững thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai
Đồng thời bao giờ cũng coi trọng công tác bảo vệ môi trường sinh thái. Đề cao sự
tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để
tăng cường phát triển cộng đồng, làm tốt công tác bảo tồn thiên nhiên với phát triển
du lịch. Tuy nhiên sự phát triển du lịch Hà Tây mới đang ở giai đoạn đầu khai thác
tiềm năng môi trường sinh thái mà thiên nhiên ban tặng.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào khu vực
VQG Ba Vì- khu rừng nguyên sinh nằm trên dãy núi Ba Vì, cách Hà Nội 60 km về
phía Tây Nam. Sự đa dạng của các hệ sinh thái cùng nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ
thú là những yếu tố thuận lợi cho việc phát triển DLST tại đây. Tuy nhiên tiềm năng
để phát triển DLST tại VQG chưa được đánh giá đầy đủ và khai thác hợp lý, thiếu
quy hoạch chi tiết, chưa gắn với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Đó chính là rào
cản cho sự phát triển bền vững ở khu vực này. Đưa ra những giải pháp phát triển
bền vững tại đây mang tính chất khả thi là một việc làm cấp thiết hiện nay.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì10
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vườn quốc gia Ba Vì là một điểm du lịch cũng đã được nhiều tác giả quan
tâm và nghiên cứu. Cụ thể là:
- Cuốn sách Vườn quốc gia Ba Vì, những nhân tố tự nhiên và kinh tế – xã hội
của tác giả Nguyễn Văn Trương.
- Bài phát biểu của DS. Trần văn ơn – Trường ĐH Dược Hà Nội : Bảo vệ cây
thuốc trong và xung quanh khu vực vườn quốc gia Ba Vì, tỉnh Hà Tây tại Hội nghị
Quốc gia về các Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam được tổ chức
tại Hà Nội từ ngày 23 đến ngày 24 tháng 2 năm 1995, dưới sự tài trợ của Hội các
vườn Quốc gia Nhật Bản.
- Cuốn sách Núi Ba Vì - truyền thuyết và lịch sử của tác giả Nguyễn Tường
- Chương 2: Vườn quốc gia Ba Vì và hiện trạng hoạt động du lịch hiện
nay.
- Chương 3: Giải pháp bền vững tại VQG Ba Vì.
Giải pháp phát triển du lịch bền vững luôn là một vấn đề quan trọng và
cấp bách hiện nay do vậy để đạt được hiệu quả trong vấn đề này cần sự nghiên
cứu thấu đáo, song với giới hạn của một luận văn cao học sẽ không tránh khỏi
những hạn chế thiếu sót trong quá trình phân tích, trình bày và luận giải.
Rất mong được sự cảm thông sâu sắc của các Nhà khoa học, các Thầy Cô
cùng Đồng nghiệp – những người quan tâm đến vấn đề này.
Xin cám ơn PGS.TS Nguyễn Đình Hoè và Hội đồng khoa học, các cán bộ
công tác tại VQG Ba Vì cùng các bạn đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn và cung cấp thông tin, tư liệu, trao đổi kinh nghiệm để tôi hoàn thành luận
văn này.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì12
Chương 1
Khái quát chung về hoạt động du lịch tại các vườn Quốc giavà khu bảo
tồn thiên nhiên ở Việt Nam
1.1 giới thiệu chung
1.1.1 Hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Việt nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam á, phía đông bán đảo Đông
Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Căm–pu-chia, phía đông, nam
và tây nam là biển Đông. Bờ biển Việt nam dài 3.260 km, biên giới đất liền dài
4.510 km Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, vừa sát ranh giới
của chí tuyến bắc vừa tiếp giáp với đại dương mênh mông. Nước ta có 3/4 diện tích
- Khu bảo vệ cảnh quan.
Hệ thống rừng đặc dụng được thành lập nhằm mục đích chủ yếu để bảo tồn
thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của Quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng,
nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi
du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.
Trải qua mấy chục năm nỗ lực và phấn đấu hiện nay Việt nam đã có 68 khu
bảo tồn đất ngập nước, 15 khu bảo tồn biển, 129 khu rừng đặc dụng, trong đó có 30
VQG, 49 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo vệ loài và sinh cảnh, 39 khu bảo vệ
cảnh quan.
Dưới đây là danh sách các VQG được Chính phủ công nhận và được quản lý
bởi Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, Uỷ Ban nhân dân cấp tỉnh:
Bảng 1: Danh sách các VQG ở Việt Nam (Nguồn: )
STT
Tên
Địa điểm
1
Vườn Quốc gia Hoàng Liên
Lào Cai
2
Vườn Quốc gia Ba Bể
Bắc Cạn
3
Vườn Quốc gia Bái Tử Long
Quảng Ninh
4
Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Phú Thọ
5
Vườn Quốc gia Tam Đảo
Vĩnh Phúc
Thừa Thiên-Huế
15
Vườn Quốc gia Chư Môm Ray
Kon Tum
16
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh
Gia Lai
17
Vườn Quốc gia Yok Đôn
Đắc Lắc
18
Vườn Quốc gia Chư Yang Sin
Đắc Lắc
19
Vườn Quốc gia Cát Tiên
Đồng Nai
20
Vườn Quốc gia Bù Gia Mập
Bình Phước
21
Vườn Quốc gia Côn Đảo
Bà Rịa-Vũng Tàu
22
Vườn Quốc gia Lo Go Sa Mát
Tây Ninh
23
Vườn Quốc gia Tràm Chim
Đồng Tháp
24
Vườn Quốc gia U Minh Thượng
nhiều loài côn trùng. Động vật rừng có rất nhiều loài đặc hữu, trong đó hơn 100 loài
chim, 78 loài thú. Nhiều loài có giá trị và ý nghĩa lớn cần được bảo vệ như voi, tê
giác, bò rừng, trâu rừng, bò xám, hổ báo, hươu nai, vượn, voọc Trong 30 năm
qua, nhiều loài động, thực vật được bổ sung vào danh sách các loài của Việt Nam
như 5 loài thú mới là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, chà vá chân xám và thỏ
vằn Trường Sơn, 3 loài chim mới là khướu vằn đầu đen, khướu Ngọc Linh và
khướu Kon Ka Kinh, khoảng 420 loài cá biển và 7 loài thú biển. Nhiều loài mới
khác thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư và động vật không xương sống cũng đã được
mô tả. Về thực vật, tính từ năm 1993 đến năm 2002, các nhà khoa học đã ghi nhận
thêm 2 họ, 19 chi và trên 70 loài mới. Để bảo vệ và duy trì hệ sinh thái này, trong
những năm qua, Việt nam đã tăng cường đầu tư cho các chương trình, dự án bảo tồn
sinh học. Theo báo cáo môi trường Việt Nam năm 2005 đạt xấp xỉ 51,8 triệu USD,
gấp 10 lần so với một thập kỷ trước.
1.1.3 Những tồn tại và thách thức
Trong thế kỷ 20 thảm thực vật rừng nước ta bị thu hẹp nhanh chóng. Diện
tích rừng giảm từ 43% năm 1945 xuống còn 30% năm 2000. Việc thu hẹp diện tích
rừng, gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên rừng và biển, việc áp dụng quá
rộng rãi các giống mới trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến sự mất đi của nhiều
hệ sinh thái. Trên thực tế tốc độ suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta phát triển
nhanh hơn so với các nước khác trên thế giới.
Nhằm quản lý, bảo vệ, phát triển, khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi động
vật rừng, nhất là các loài quý hiếm, đặc hữu của nước ta, ngăn chặn có hiệu quả việc
săn bắt tuỳ tiện, huỷ diệt khai thác bừa bãi thiếu tính toán dẫn đến nguồn lợi động
vật rừng bị cạn kiệt một cách nhanh chóng, khuyến khích các hoạt động phát triển
nguồn lợi động vật rừng, giữ cân bằng sinh thái tự nhiên, bảo vệ nguồn gen phù hợp
với phát triển lâm nghiệp quốc gia, với tập quán và luật pháp quốc tế về bảo vệ môi
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì16
17
1.2 Tình hình phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững
1.2.1 Tình hình chung
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch thế giới WTO trên phạm vi toàn cầu [9],
lượng khách du lịch tham gia hoạt động DLST ở các vùng thiên nhiên hoang dã
đang chiếm 20% tổng số khách du lịch quốc tế và doanh thu đạt trên 20 tỷ
USD/năm. Tại Australia có đến 45% số người dành sự ưu tiên lựa chọn DLST cho
kỳ nghỉ của mình. ở Mỹ, hàng năm hệ thống VQG đã đón tới 270 triệu lượt khách.
Canada đón gần 40 triệu lượt khách và doanh thu từ DLST mang lại hàng tỷ USD.
Đối với các quốc gia như Nepan, Indonesia, Kenya DLST chiếm một tỷ lệ lớn
trong doanh thu du lịch. Theo nhận định của các chuyên gia du lịch thế giới, DLST
sẽ là xu hướng phát triển tất yếu trên toàn cầu trong những năm sắp tới. Hiện có
nhiều quốc gia coi mục tiêu này là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Trước đây DLST chỉ được mọi người hiểu đơn thuần đó là hoạt động du lịch
tiếp cận với thiên nhiên, hay còn gọi là du lịch thiên nhiên. Đó là loại hình du lịch
dựa vào hoạt động tham quan tài nguyên thiên nhiên không quan tâm đến việc bảo
tồn hay bền vững. Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh
thái cho Việt Nam năm 1999 đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là một loại
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trường, và
đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của
cộng đồng địa phương”. DLST là hoạt động du lịch có trách nhiệm đối với môi
trường tự nhiên, văn hoá xã hội, qua đó du khách được nâng cao nhận thức về môi
trường, bảo vệ và cải thiện môi trường, nâng cao mức sống của cộng đồng địa
phương.
Theo các chuyên gia văn hoá, Việt Nam là một trong những nước á Đông có
nền văn hoá lâu đời và phong phú với nhiều dân tộc, mỗi dân tộc lại có những nét
văn hoá đặc trưng riêng. Những đặc điểm về thiên nhiên và con người đã tạo cho
mỗi vùng miền những độc đáo riêng về phong cảnh – khí hậu – văn hoá. Thành phố
núi để tránh tàn phá 50 ha rừng và phá vỡ cảnh quan tại VQG Bạch Mã. Tại VQG
Ba Vì nhiều công ty du lịch của tư nhân đã hình thành nhận hàng trăm hecta rừng để
quản lý, bảo vệ phục vụ cho phát triển du lịch. Các khu du lịch biển nổi tiếng như
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì19
Cát Bà, Hạ Long, Côn Đảo, Phú Quốc đã và đang có kế hoạch sử dụng tài nguyên
sinh vật biển để phát triển các loại hình du lịch hấp dẫn.
1.2.2 Những vấn đề nảy sinh
Theo tác giả Stepanie Thullen [17] “ Du lịch sinh thái là một phân đoạn thị
trường du lịch mới tại Việt Nam. Hiện nay, hầu hết các chương trình du lịch đến các
vùng thiên nhiên mới chỉ ở tình trạng đại trà hoặc du lịch thiên nhiên, ít mang tính
bền vững, gây thiệt hại đối với môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương”. Các
khu bảo tồn, điểm du lịch chính đối với khách DLST thường có ít hoặc không có
khả năng quản lý du lịch và du lịch ít khi được đưa vào kế hoạch quản lý của các
khu này. Điều đó dẫn đến tình trạng không kiểm soát được số lượng và hoạt động
của du khách trong các VQG. Mặc dù nhiều khu bảo tồn có đề ra các quy định về
môi trường cho du khách, việc vi phạm thường bị làm ngơ.
Trên thực tế việc phát triển loại hình DLST theo hướng bền vững còn gặp rất
nhiều khó khăn. So với DLST của thế giới thì DLST của Việt Nam vẫn còn mới mẻ
cho nên việc tổ chức vẫn còn nhiều hạn chế. Hoạt động DLST mới chủ yếu là phục
vụ tham quan và một phần là nghiên cứu hệ sinh thái tại các VQG hoặc KBTTN.
Do vậy sản phẩm đích thực của DLST hiện chưa có mà mới chỉ là loại hình du lịch
thiên nhiên nhiên như dã ngoại, đi bộ trong rừng, quan sát động thực vật, thăm bản
làng dân tộc mang “màu sắc” của DLST. Tại Peru, một số các Hội thảo về DLST
đầu tiên đã sử dụng thành công môi trường thiên nhiên như là một lớp học, đó là
Hội thảo về Rừng mưa Nhiệt đới của tổ chức Các Chuyến Du Hành Quốc tế [16].
Ngày nay, chương trình này tiếp tục được mở rộng để đáp ứng nhu cầu về các
chuyến dã ngoại đặc biệt, bao gồm những học hỏi về cây thuốc và dược liệu.
hưởng tiêu cực đối với ĐDSH trong các VQG và KBTTN như làm mất hoặc thu
hẹp nơi sống của động vật, gây ô nhiễm không khí, gây tiếng ồn ảnh hưởng đến tập
tính, mối quan hệ của các loài, làm thay đổi cảnh quan tự nhiên. Để sử dụng bền
vững ĐDSH trong hệ thống các VQG và KBTTN trong kinh doanh DLST nhất
thiết phải dựa vào sự phát triển kinh tế – xã hội, có nghĩa là phải quan tâm đúng
mức đến công tác quy hoạch, quản lý môi trường, môi trường du lịch.
Tại cuộc hội thảo đánh giá việc thực hiện Công ước đa dạng sinh học do Bộ
tài nguyên và Môi trường phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì21
(UNDP) tổ chức tại Hà Nội vào ngày 23/11/2006, Cục bảo vệ môi trường cho biết
tỷ lệ đầu tư cho bảo tồn ĐDSH hiện chiếm 20-30% tổng đầu tư cho lĩnh vực môi
trường. Tuy nhiên, chất lượng đầu tư bảo tồn chưa cao, hiện Việt Nam chưa có khu
bảo tồn biển nào và mới chỉ có 2 khu bảo tồn sinh thái đất ngập nước . Các hệ sinh
thái bị suy thoái cũng chưa được phục hồi một cách hiệu quả. Theo Báo cáo diễn
biến môi trường Việt nam năm 2005 cho thấy có gần 700 loài động thực vật đang bị
đe doạ, tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong đó có trên 300 loài đe doạ tuyệt chủng ở
cấp độ toàn cầu, 49 loài bị đe doạ toàn cầu tại Việt Nam thuộc loại „cực kỳ nguy
cấp‟. Báo cáo trên khẳng định nếu với xu hướng vẫn tiếp diễn như vậy, ở thập kỷ
đầu tiên của thế kỷ 21, Việt nam có thể phải chứng kiến một làn sóng tuyệt chủng
đối với một số loài động thực vật hoang dã ở mức độ chưa từng thấy trong lịch sử ,
kèm theo các tác hại tiềm tàng về môi trường và kinh tế.
Đối với các hoạt động DLST, nếu được tổ chức một cách hợp lý thì đa số các
tác động tiêu cực đều được giảm thiểu vì chính bản thân sự phong phú của đa dạng
sinh học và các cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn. Bên cạnh đó với tính chất tuyên
truyền, giáo dục, DLST cũng đem lại nhiều hiểu bết và trách nhiệm cho du khách
để họ có ý thức đối với việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái. Có thể nói
hoạt động du lịch mang lại nguồn thu đáng kể, hỗ trợ công tác bảo tồn và cải thiện
1.2.3 Những định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững
Phát triển DLST là điều tất yếu, mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội
nhưng nếu phát triển không tuân thủ theo nguyên tắc cơ bản của DLST mà hậu quả
lại chính con người phải gánh chịu. Vì vậy phát triển DLST ở nước ta phải theo
hướng bền vững cả về môi trường tự nhiên và xã hội. Theo giáo sư Ross Dowling -
Đại học Edith Cowan (Australia) [15] để phát triển DLST theo hướng bền vững thì
Việt Nam cần tiến hành một loạt các giải pháp như chuẩn bị chiến lược và kế hoạch
hành động; Liên kết các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển DLST; Tiến hành công
tác Marketing dựa trên tiềm năng độc đáo và đặc trưng riêng có của DLST Việt
Nam; xây dựng hệ thống thông tin DLST; Mời các chuyên gia quốc tế có kinh
nghiệm giúp đỡ, phát triển loại hình DLST; Xây dựng và triển khai các nhãn sinh
thái, sản phẩm sinh thái. Điều này sẽ làm cho DLST giúp cho ngành Du lịch phát
triển bền vững, đóng góp tích cực hơn nữa vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên
nhiên và giá trị văn hoá của các cộng đồng bản địa.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì23
Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn quan trọng của quá trình thiết lập hệ
thống KBTTN Quốc gia. Rất nhiều thành tựu đã đạt được trong hai thập kỷ qua và
những hiểu biết về vai trò quan trọng của các VQG, khu dự trữ thiên nhiên và các
khu bảo tồn khác trong phát triển kinh tế địa phương và quốc gia đã tăng lên đáng
kể. Bên cạnh chức năng bảo tồn ĐDSH, các KBTTN đồng thời cung cấp những
dịch vụ môi trường và các sản phẩm thiết yếu cho sự tăng trưởng các ngành thuỷ
điện, thuỷ sản, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp cũng như phát triển đô thị.
Ngày 14/8/2007, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội
nghị triển khai thực hiện ”Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học”. Đây
là kế hoạch hành động lần thứ hai của Việt nam và đã được Thủ tướng phê duyệt.
Kế hoạch hành động ĐDSH đầu tiên của Việt Nam đã được phê duyệt năm 1995.
Hội nghị nhận định từ đó đến nay, Việt nam đã đạt được những thành tựu nhất định,
cơ chế, chính sách, thị trường, quy hoạch, đào tạo, phát triển cơ sở hạ tầng, tổ chức
quản lý . . . một cách đồng bộ để phát triển DLST theo hướng vừa bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên vừa phát huy những giá trị văn hoá độc
đáo và đảm bảo tính bền vững hoạt động của DLST tại các VQG.
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở VQG Ba Vì25
Sơ đồ du lịch vườn quốc gia ba Vì (Nguồn: Ban Quản lý VQG Ba Vì)