Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam - Pdf 25


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
***********

TRN NG HIU

MộT Số GIảI PHáP GóP PHầN XÂY DựNG
Và PHáT TRIểN DU LịCH BềN VữNG
ở TÂY BắC VIệT NAM Chuyờn ngnh: Du lch hc
Mó s: DL 49C 11 LUN VN THC S DU LCH HC
(CHƯƠNG TRìNH ĐàO TạO THí ĐIểM)

NGI HNG DN KHOA HC: TS. Vũ MạNH Hà
TÂY BẮC VIỆT NAM 34
2.1. Tiềm năng phát triển du lịch của vùng 34
2.1.1 Vị trí địa lý 34
2.1.2. Địa hình 34
2.1.3. Điều kiện khí hậu 35
2.1.4. Kinh tế Tây Bắc 35
2.1.5. Trình độ dân trí 36
2.1.6. Cơ sở hạ tầng 36
2.1.7. Hệ thống đô thị hạt nhân 37
2.1.8. Chênh lệch về thu nhập, dân trí giữa các tỉnh, các dân tộc trong vùng37
2.2 Tài nguyên du lịch 38
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 41
2.2.3 Các yếu tố kinh tế xã hội 51
2.2.4. Cơ sở hạ tầng 53
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch vùng Tây Bắc 55
2.3.1 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình 55
2.3.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hòa Bình 67
2.3.3. Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Sơn La 69
2.3.4. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Sơn La 77
2.3.5. Hiện trạng phát triển và đánh giá du lịch tỉnh Lào Cai……………….80
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI TÂY BẮC - VIỆT NAM 93
3.1 Phƣơng hƣớng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc
đến năm 2010 93
3.1.1 Quan điểm phát triển 93
3.1.2 Những mục tiêu cơ bản 94
3.1.3 Những ảnh hưởng trong nước, ngoài nước đến quá trình phát triển kinh
tế xã hội 95
3.1.4 Lựa chọn cơ cấu kinh tế và các phương án phát triển 95

đƣợc những bƣớc phát triển tốt, vừa hòa nhập chung đƣợc với tốc độ phát triển
của các ngành kinh tế khác trong bối cảnh hội nhập nhƣng lại vừa đảm bảo
đƣợc tính bền vững trong phát triển. Đó, đã và đang là câu hỏi lớn đòi hỏi sự
quan tâm của nhiều ngành nghề, của các cấp quản lý nhà nƣớc không những về
du lịch mà còn chung cho các cấp quản lý của các cơ quan hữu quan.
Thời gian qua, nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác quy hoạch
đối với phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung, ngành
Du lịch đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam và phối
hợp với nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch các vùng và các địa phƣơng. Việc nghiên cứu phát triển du lịch trong
các quy hoạch trên đƣợc thực hiện dựa trên quan điểm phát triển tổng hợp về
kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, môi trƣờng Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết
các nghiên cứu đƣợc thực hiện thƣờng lấy quan điểm phát triển kinh tế làm
quan điểm phát triển chủ đạo, việc xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa trên
quan điểm phát triển bền vững còn chƣa đƣợc quan tâm thoả đáng. Vì vậy trong
quá trình thực hiện thƣờng nảy sinh một số vấn đề ảnh hƣởng đến hiệu quả sử
dụng tài nguyên, tác động tiêu cực đến môi trƣờng v.v…
Du lịch là một ngành kinh tế có định hƣớng tài nguyên rõ rệt, tài nguyên
du lịch vừa là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vừa là cơ sở

2
lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống nghỉ ngơi du lịch. Một trong những đặc
điểm của tài nguyên du lịch là một số tài nguyên du lịch là tài nguyên không thể
tái tạo đƣợc, số khác thuộc loại khó có khả năng tái tạo đƣợc. Kinh nghiệm phát
triển trên thế giới và một số địa phƣơng cho thấy, việc phát triển du lịch không
hoặc có nhƣng ít tính đến việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đã dẫn đến
tình trạng xuống cấp của tài nguyên và ô nhiễm môi trƣờng. Điều này làm giảm
sức hấp dẫn đối với du khách và dẫn tới nguy cơ phát triển không bền vững cả
về kinh tế lẫn tài nguyên môi trƣờng. Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam cho
thấy cần phải có những nghiên cứu phát triển du lịch để làm sao cho phát triển

- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của phát triển du lịch bền
vững ở Việt Nam và trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển du
lịch vùng Tây Bắc;
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch vùng Tây Bắc;
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch vùng
Tây Bắc trên quan điểm phát triển bền vững và đƣa ra một số sản phẩm
cụ thể;
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: các cấp phân vị trong vùng du lịch Tây Bắc
bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch trên quan điểm phát triển bền
vững.
- Về lãnh thổ nghiên cứu: không gian nghiên cứu của luận văn là lãnh thổ
vùng du lịch Tây Bắc với những mối quan hệ mật thiết lâu đời về tự
nhiên, kinh tế, xã hội trong vùng. 4
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về phát triển du lịch bền vững
Trên thế giới: Nhiều nƣớc trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về vấn
đề phát triển du lịch bền vững từ những năm 80, đặc biệt là các quốc gia sớm có
định hƣớng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn. Các nghiên cứu
này đƣợc tiến hành theo hai hƣớng:
- Nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề đặt ra liên quan đến phát
triển du lịch bên vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô
hình điểm về du lịch bền vững nhƣ ở Australia, Mỹ, Malaysia [22].
- Dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền
vững để rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc nhƣ
ở Nepal, Ecuado, Senegal [22].

khu du lịch ở Tây Bắc càng cần đƣợc quan tâm đặc biệt. Quy hoạch du lịch
cũng phải gắn với việc bảo vệ môi trƣờng xã hội trong sạch. Cần có biện pháp
tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hƣởng tiêu cực từ các hoạt
động du lịch mang lại đối với môi trƣờng văn hóa xã hội của địa phƣơng.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: hệ thống lãnh thổ du lịch đƣợc xem nhƣ là
hệ thống xã hội đƣợc tạo thành bởi nhiều thành tố nhƣ tự nhiên, văn hoá, lịch
sử, con ngƣời… có mối quan hệ qua lại mật thiết, gắn bó với nhau một cách
hoàn chỉnh theo từng sự phân công chức năng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu,
xác định, đánh giá các nguồn lực du lịch thƣờng đƣợc nhìn nhận trong mối quan
hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định dể đạt đƣợc những giá trị đồng bộ
về các mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Từ đó, đối tƣợng lãnh thổ du lịch
đƣợc xem nhƣ một hệ thống mở, có mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ khác.
4.1.3. Quan điểm hệ thống – cấu trúc: Du lịch vùng Tây Bắc đƣợc xem nhƣ là
một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và tầm cao hơn là hệ

6
thống du lịch vùng du lịch Bắc bộ và hệ thống du lịch cả nƣớc. Chính vì vậy, du
lịch vùng Tây Bắc có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc với hệ thống cấp cao
hơn và quan hệ tƣơng hỗ với các hệ thống bộ phận tƣơng đƣơng khác trong
cùng hệ thống cấp cao hơn. Nhƣ vậy, du lịch vùng Tây Bắc với tƣ cách là một
bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ
thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ thống có giá trị
thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch.
4.1.4. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh: Vùng Tây Bắc là một vùng đất có bề dày
lịch sử và có nền văn hoá phát triển từ lâu đời. Lịch sử phát triển hàng ngàn
năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này vẫn còn giữ đƣợc những đặc
điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, về văn hoá và con ngƣời. Những đặc điểm
này đã đƣợc khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa
phƣơng trong những thời gian qua. Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu
nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút

4.2.4. Phương pháp điều tra xã hội học: là một trong những phƣơng pháp đặc
trƣng trong nghiên cứu du lịch bao gồm phỏng vấn trực tiếp cá nhân, phỏng vấn
qua điện thoại và phỏng vấn qua phiếu điều tra… Trong đó phỏng vấn qua
phiếu điều tra đƣợc sử dụng nhiều hơn cả vì có nhiều thuận lợi nhƣ lƣợng thông
tin thu đƣợc nhiều, không qua trung gian nên ý kiến thu nhận đƣợc có tính xác
thực cao, có ƣu thế đặc biệt đối với những vấn đề tế nhị và chi phí thấp…
5. Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Tổng quan chọn lọc và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về du lịch và
phát triển du lịch bền vững. Trên cơ sở đó, vận dụng vào việc nghiên cứu cụ thể
trên địa bàn vùng Tây Bắc.
- Đƣa quan điểm phát triển bền vững làm quan điểm chủ đạo trong quá
trình nghiên cứu phát triển du lịch bền vững vùng Tây Bắc ở Việt Nam.

8
- Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển du lịch bền vững vùng
Tây Bắc.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch vùng Tây Bắc.
- Sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng làm cơ sở cho định hƣớng phát
triển du lịch vùng Tây Bắc trên quan điểm phát triển bền vững, đồng thời đề
xuất một số giải pháp tổ chức hoạt động du lịch nhằm sử dụng bền vững nguồn
tài nguyên và môi trƣờng cho phát triển và phát triển bền vững du lịch nói riêng
và kinh tế xã hội của vùng Tây Bắc nói chung.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị cùng phụ lục và tài liệu tham
khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng:
Chƣơng I: PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG - LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU
THỰC TẾ
Chƣơng II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM.
Chƣơng III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH BỀN VỮNG TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM.

nguyên tắc cơ bản sau [19]:
+ Con ngƣời là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng
đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng
đất nƣớc giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán
triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.
+ Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển
sắp tới, bảo đảm an ninh lƣơng thực, năng lƣợng để phát triển bền vững, bảo
đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài

10
hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi
trƣờng lâu bền. Từng bƣớc thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và
môi trƣờng đều cùng có lợi".
+ Bảo vệ và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng phải đƣợc coi là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa,
ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trƣờng do hoạt động của con ngƣời
gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "ngƣời gây thiệt hại đối với tài nguyên
và môi trƣờng thì phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có
hiệu lực về công tác bảo vệ môi trƣờng; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc
lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trƣờng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch,
chƣơng trình và dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi
trƣờng là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững.
+ Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu
của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tƣơng lai.
Tạo lập điều kiện để mọi ngƣời và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình
đẳng để phát triển, đƣợc tiếp cận tới những nguồn lực chung và đƣợc phân phối
công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và
văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên
không thể tái tạo lại đƣợc, gìn giữ và cải thiện môi trƣờng sống, phát triển hệ

*Khái niệm về du lịch bền vững
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) “Du lịch bền vững
là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của
khách du lịch và ngƣời dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và
tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tƣơng
lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa
mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con ngƣời trong khi đó vẫn

12
duy trì đƣợc sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ
sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con ngƣời”.[22]
Du lịch bền vững ở Việt Nam là một khái niệm còn mới. Tuy nhiên, nhận
thức về một phƣơng thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trƣờng, có
tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã bƣớc đầu hình thành
nhƣ một số loại hình du lịch thân thiện với môi trƣờng đã xuất hiện với tên gọi
là du lịch sinh thái, du lịch xanh
Luật Du lịch xác định: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
đƣợc các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
về du lịch của tƣơng lai”. [25, tr12].
Tuy nhiên sự phát triển này chỉ mang tính tƣơng đối bởi trong một xã
hội “động” tức một xã hội luôn có sự thay đổi và phát triển thì sự bền vững của
yếu tố này có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hƣởng đến sự bền vững của những yếu
tố khác. Không một xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt đƣợc sự bền
vững tuyệt đối. Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con ngƣời chỉ nhằm đạt mục
đích đảm bảo khả năng khai thác lâu, bền các nguồn tài nguyên trên Trái đất.
* Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững
Những nguyên tắc để đảm bảo phát triển du lịch bền vững không tách rời
những nguyên tắc chung cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi
lĩnh vực trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế xã hội lại có những mục tiêu,
những đặc điểm đặc trƣng của mình. Do vậy, sự phát triển du lịch cần phải

ngành đến xã hội, đến môi trƣờng…
Mặc dù không phải là yếu tố duy nhất quyết định nhƣng sự tăng trƣởng
về GDP vẫn là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết sự phát triển
của một ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng.

14
Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP của địa phƣơng đƣợc biểu thị bằng
chỉ số M và đƣợc xác định thông qua công thức sau:
Tp
M =
Np
Trong đó: - Tp = GDP du lịch
- Np = Tổng GDP của nền kinh tế

Chỉ số M phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền
kinh tế quốc dân. Giá trị M càng cao, ổn định và tăng theo thời gian thì ngành
du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững.
Bên cạnh đó dấu hiệu để đánh giá mức độ bền vững của hoạt động du
lịch có thể đƣợc xem xét thông qua mức độ đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc
của ngành du lịch.
- Các chỉ số về khách du lịch: Trên quan điểm phát triển du lịch thông
thƣờng, ngƣời ta thƣờng chỉ quan tâm đến chỉ số về lƣợng khách. Nhƣng khi du
lịch du lịch phát triển, đặc biệt là trên quan điểm phát triển bền vững, các chỉ số
về ngày lƣu trú, khả năng chi tiêu, mức độ hài lòng và tỷ lệ quay lại một quốc
gia, một vùng, một điểm du lịch nào đó của khách lại đƣợc quan tâm và đánh
giá cao hơn.
- Xét về mặt hiệu quả kinh tế, so với việc đông khách nhƣng thời gian lƣu
trú ngắn, mức chi tiêu thấp thì trƣờng hợp ít khách song khách có thời gian lƣu
trú dài hơn và mức chi tiêu cao hơn mang lại hiệu quả cao hơn. Bởi điều này
cho phép vẫn đảm bảo sự tăng trƣởng về doanh thu du lịch trong khi hạn chế

dƣới hai dạng là các nguồn vốn huy động và các nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài. Nếu nhƣ các nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc, đặc biệt là các nguồn
vốn huy động trong nhân dân để phát triển các doanh nghiệp tƣ nhân vừa và
nhỏ, có tác dụng làm phong phú thêm các loại hình dịch vụ và tạo công ăn việc

16
làm, tránh rủi ro… thì các nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài lại có vai trò nhƣ đòn
bẩy, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Trong một khoảng thời gian nghiên cứu xác định (có thể là 5 năm, 10
năm) mức độ biến đổi của các nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào du
lịch sẽ cho chúng ta những nhận định cơ bản về tƣơng lai phát triển của ngành.
Trong đó tỷ số “K” sẽ là dấu hiệu nhận biết về tính bền vững của ngành du lịch
đứng ở góc độ đảm bảo vốn đầu tƣ cho phát triển.
Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào du lịch
K =
Tổng lƣợng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào nền kinh tế

Phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trƣờng đòi hỏi có sự thích nghi
nhanh đối với những thay đổi bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan để hạn
chế đƣợc những rủi ro. Điều này có thể thực hiện đƣợc nhờ việc phát triển hệ
thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với tƣ cách là một ngành kinh tế, hoạt
động phát triển du lịch cần quan tâm đến vấn đề này để đảm bảo sự phát triển
bền vững đứng ở góc độ kinh tế. Điều này càng có ý nghĩa đối với những quốc
gia đang phát triển, nơi năng lực quản lý ở quy mô quốc gia còn nhiều hạn chế.
Đầu tƣ mang tính địa phƣơng sẽ hạn chế đƣợc tỷ lệ “rò rỉ” lợi nhuận du lịch.
Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, việc phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ
còn có ý nghĩa về xã hội, tạo điều kiện để một bộ phận lớn ngƣời lao động địa
phƣơng có việc làm. Bên cạnh đó, đây còn là môi trƣờng thu hút đƣợc nguồn
lực to lớn của xã hội cho phát triển du lịch, phù hợp với tính chất xã hội hóa cao
của du lịch, đảm bảo sự phát triển bền vững.

sẽ là dấu hiệu nhận biết của quá trình phát triển du lịch bền vững đứng từ góc
độ đảm bảo sự bền vững về tài nguyên, môi trƣờng cũng nhƣ từ góc độ đảm bảo
sự phát triển về kinh tế, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã
hội chung của khu vực.

18
Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên môi trƣờng và các nguồn tài
nguyên thông qua các biện pháp quản lý và giảm thiểu chất thải, mức độ kiểm
soát các hoạt động phát triển bao gồm cả các hoạt động bảo tồn và duy trì tính
đa dạng trong đó việc duy trì các hệ sinh thái đặc hữu đang bị đe dọa. Việc
kiểm soát các hoạt động phát triển phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cũng
đƣợc thực hiện thông qua việc tiến hành các thủ tục đánh giá tác động môi
trƣờng tại các khu, điểm du lịch, hoặc một hình thức tƣơng đƣơng nhƣ các hoạt
động kiểm soát chính thức về môi trƣờng tại các khu, điểm du lịch. Đây là một
trong những dấu hiệu nhận biết quá trình phát triển bền vững khá quan trọng và
đƣợc xác định thông qua việc xem xét có hay chƣa có, thực hiện hay chƣa thực
hiện các biện pháp quản lý, kiểm soát trên.
Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo xác định đƣợc cƣờng độ hoạt
động của các điểm du lịch sao cho không vƣợt quá ngƣỡng tiêu chuẩn về môi
trƣờng, tiêu thụ năng lƣợng và sức chứa. Việc giới hạn lƣợng khách đến trong
một chu kỳ phát triển là một vấn đề quan trọng và cần thiết, điều này sẽ giúp
cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn
năng lƣợng vừa phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vừa đảm bảo phục vụ nhu cầu
du khách.
- Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương đối với hoạt động du lịch:
Hoạt động phát triển du lịch sẽ bền vững nếu có đƣợc sự ủng hộ của cộng đồng
địa phƣơng. Chính vì vậy, mức độ hài lòng của cộng đồng đối với hoạt động du
lịch sẽ phản ảnh trạng thái bền vững của hoạt động du lịch trong phát triển.
Để đạt đƣợc sự hài lòng của cộng đồng, vai trò của cộng đồng phải đƣợc
phát huy cũng nhƣ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cụ thể :

chứa tài nguyên.[13]

20
* Xác định các yếu tố đánh giá: Những nghiên cứu ứng dụng trong địa
lý du lịch thời gian qua ở Việt Nam [2], [3], [4], [9], [16]… phần lớn sử dụng 7
yếu tố trong nội dung đánh giá bao gồm: độ hấp dẫn, thời gian khai thác du lịch,
sức chứa khách du lịch, độ bền vững, vị trí điểm du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật ngành du lịch, hiệu quả kinh tế. Kế thừa những nghiên cứu
này, để phù hợp với đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tài nguyên du
lịch đƣợc đánh giá theo các yếu tố sau:
- Độ hấp dẫn: gồm mức độ phong phú tài nguyên du lịch và loại hình du
lịch có thể triển khai tại điểm du lịch.
- Thời gian hoạt động du lịch: gồm thời gian trong năm có điều kiện khí
hậu thích hợp đối với sức khoẻ con ngƣời (đƣợc xác định thông qua mối tƣơng
quan giữa nhiệt độ và độ ẩm của không khí ảnh hƣởng tới sức khoẻ con ngƣời)
và thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch (đƣợc xác định thông qua số
ngày thời tiết khô ráo thuận lợi cho tổ chức các hoạt động du lịch và số ngày có
thể tiếp cận, khai thác các giá trị của tài nguyên cho việc thoả mãn các nhu cầu
của khách).
- Sức chứa khách du lịch: là lƣợng khách tối đa có thể đón đến điểm du
lịch trong cùng một thời điểm mà không làm tổn hại đến môi trƣờng tự nhiên,
xã hội và quyền lợi của khách.
- Độ bền vững: là khả năng ổn định, không bị thoái hoá của các thành
phần tự nhiên, kinh tế, xã hội trƣớc áp lực của du lịch, thiên tai hoặc các đối
tƣợng khác.
- Vị trí và khả năng tiếp cận điểm du lịch: là vị trí tƣơng đối giữa điểm tài
nguyên với nguồn khách và hệ thống đƣờng giao thông cho phép tiếp cận điểm
du lịch (tính thời gian tiếp cận chuẩn cho phƣơng tiện là ô tô du lịch).
- Ngoài ra trên quan điểm phát triển bền vững, đề tài đƣa thêm một tiêu
chí đánh giá nữa đối với các điểm du lịch là tiêu chí quản lý các hoạt động du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status