Phân tích họat động đầu tư du lịch ở Hải Dương - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ GIA QUYẾT
Phân tích họat động đầu tư du lịch ở Hải
Dương

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

10
1.1.
Tài nguyên du lịch tỉnh Hải
Dƣơng
11
I.1.1.
1.1.2.
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch nhân văn
11
15
1.2.
1.2.1.

1.2.2.
Nhu cầu phát triển ngành du lịch Hải
Dƣơng
Xu hướng phát triển ngành Du lịch Việt Nam - cơ hội
phát triển ngành Du lịch Hải Dương
Vị trí của ngành Du lịch Hải Dương trong chiến
lược
phát triển kinh tế của tỉnh
21
21

24

Chƣơng 2:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ DU LỊCH TẠI HẢI
DƢƠNG

Một số dự án đầu tư du lịch điển hình
47

47

55
2.4.
Thực trạng xúc tiến quảng bá ngành du lịch Hải
Dƣơng
60
Chƣơng3:
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH DU
LỊCH HẢI DƢƠNG

65
3.1.
Hoàn thiện cơ chế chính sách du lịch, tăng cƣờng quản
lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn tỉnh
65
3.2.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch Hải
Dƣơng
68
3.3.
Tăng cƣờng công tác quy hoạch du lịch, phát triển
cở
sở hạ tầng
71
3.4.
Tăng cƣờng thu hút đầu tƣ, tạo nguồn vốn để phát

97

4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, vị
trí tâm điểm của tam giác kinh tế phía Bắc: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng
Ninh, có diện tích 1.662 km
2
, dân số 1,7 triệu người. Trung tâm văn hoá kinh
tế chính trị lớn nhất của tỉnh là thành phố Hải Dương, ngoài ra còn 11 huyện
lỵ hành chính. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình của tỉnh tương đối bằng
phẳng, giao thông đường bộ, đường sông, đường sắt đều thuận lợi.
Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt", vùng văn
hoá và văn hiến tâm linh chính của cả nước. Lịch sử ngàn năm bồi đắp và hội
tụ đã để lại cho vùng đất này những tài sản vô cùng quý giá, đó là 1.098 di
tích lịch sử trong đó có 133 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, có nhiều di
tích được xếp hạng đặc biệt như Côn Sơn, Kiếp bạc.
Hải Dương cũng là miền đất sinh ra và gắn liền với tên tuổi của nhiều
anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới như: Trần Hưng Đạo, một trong
mười tướng tài trên thế giới, vị anh hùng dân tộc sống mãi trong tâm thức của
nhân dân Việt Nam bằng những chiến công hiển hách ba lần chiến thắng quân
Nguyên; Chu Văn An, nhà giáo tài đức vẹn toàn, lịch sử tôn ông là nhà nho có
đức nghiệp lớn nhất; Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, có tầm tư
tưởng vượt lên nhiều thế kỷ; Mạc Đĩnh Chi với học vấn đứng đầu quần nho,
danh tiếng lẫy lừng, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã góp phần
làm dạng danh đất nước; Đại danh y Tuệ Tĩnh, vị thánh thuốc nam được cả
nước ngưỡng mộ. Trí tuệ, tài năng của người Hải Dương cũng đóng góp cho

Báo cáo 6 tháng đầu năm 2007 - Sở Thương mại và Du lịch Hải Dương 6
Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, ngành du lịch Hải Dương cũng
bộc lộ nhiều hạn chế như:
- Vấn đề quy hoạch các khu, điểm du lịch chưa hoàn chỉnh; đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật còn ở mức khiêm tốn; sản phẩm du lịch thiếu tính độc đáo
nên chưa hấp dẫn và thu hút khách du lịch.
- Hoạt động kinh doanh cũng bộc lộ nhiều hạn chế về trình độ, kỹ năng,
chất lượng phục vụ. Hầu hết các đơn vị kinh doanh du lịch ở Hải Dương là
những doanh nghiệp tư nhân, quy mô nhỏ, tính chuyên nghiệp chưa cao, cạnh
tranh thiếu lành mạnh.
- Nguồn nhân lực du lịch nhìn chung vẫn còn thiếu nên chưa đáp ứng được
nhu cầu hiện tại. Những yếu kém về mặt quản lý, nghiệp vụ, ngoại ngữ và nhận
thức về công tác du lịch đã làm giảm chất lượng phục vụ khách du lịch của các
đơn vị kinh doanh.
- Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch chưa phát huy hiệu quả, còn hạn
chế.
- Chưa có ý thức trách nhiệm của cộng đồng các địa phương trong tỉnh
tham gia thúc đẩy phát triển du lịch.
Với những lợi thế mà ngành Du lịch Hải Dương đang có thì hoàn toàn
có thể phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Hải
Dương, tuy nhiên so với các tỉnh khác, đặc biệt là với ba trung tâm lớn Hà
Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thì hoạt động du lịch tại Hải Dương vẫn còn
quá nhiều hạn chế và yếu kém, nguyên nhân của điều đó là do Hải Dương
chưa đánh giá đúng mức vai trò du lịch đối với sự phát triển chung của kinh tế
– xã hội của tỉnh, đồng thời cũng chưa có biện pháp và phương thức khai thác
có hiệu quả các tài nguyên du lịch của tỉnh trên cơ sở đánh giá phân tích các
hoạt động đầu tư du lịch. Vì phân tích các hoạt động đầu tư du lịch chúng ta


8
định hướng cho các nhà đầu tư có một góc nhìn tổng thể về du lịch Hải
Dương: những cơ hội đầu tư khai thác; những tiểm năng phát triển du lịch của
tỉnh; những thách thức trong quá trình đầu tư phát triển ngành Du lịch ở Hải
Dương v.v
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề liên
quan tới đề tài như:
1. “Quy hoạch tổng thể du lịch Hải Dương đến năm 2020” của Viện
nghiên cứu phát triển du lịch – Tổng cục Du lịch Việt Nam.
2. “Đề án Khảo sát, xây dựng tour du lịch đường sông” của Sở Thương
mại và Du lịch Hải Dương.
Cho đến một số bài báo trong nước viết về tiềm năng phát triển của du
lịch Hải Dương. Bên cạnh đó các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của
tỉnh Hải Dương cũng đã tổ chức nhiều Hội thảo, Hội nghị về giải pháp phát
triển du lịch Hải Dương
Các nghiên cứu đó đã đề cập đến nhiều vấn đề về phân tích tài nguyên
du lịch Hải Dương, những công trình được đầu tư tôn tạo, khả năng khai thác
du lịch từ các nguồn tài nguyên sẵn có Tuy nhiên cho đến nay chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng đầu tư du lịch tại
Hải Dương. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích hoạt động đầu tư du lịch ở Hải
Dương, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du
lịch Hải Dương có một ý nghĩa hết sức thiết thực đối với ngành Du lịch Hải
Dương trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
4.1. Mục tiêu
Mục tiêu chính của đề tài là phân tích các tài nguyên du lịch của hải
Dương và các hoạt động đầu tư du lịch ở Hải Dương trong thời điểm hiện tại.


cho quá trình phân tích kết luận các vấn đề nghiên cứu. Để thu thập thông tin,
ngoài các nguồn tin thứ cấp được khai thác từ các tài liệu của các cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch, mạng internet, đề tài sử dụng các phương pháp
đặc thù để thu thập nguồn thông tin sơ cấp như phương pháp khảo sát thực
địa, phỏng vấn trực tiếp, lấy ý kiến chuyên gia. Xử lý các thông tin thu thập,
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, từ đó
đưa ra các nhận xét, kết luận.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Nhu cầu đầu tư du lịch tại Hải Dương
Chương 2: Thực trạng đầu tư du lịch tại Hải Dương
Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị để phát triển ngành Du lịch
Hải Dương
11
Chƣơng 1: NHU CẦU ĐẦU TƢ DU LỊCH TẠI HẢI DƢƠNG

Bản đồ 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương

Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương

12

Côn Sơn đã là một trong ba trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn –
Yên Tử – Quỳnh Lâm). Mảnh đất này đã gắn bó với tên tuổi của nhiều danh
nhân đát việt như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang và đặc biệt là anh hùng
dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi. Ngày nay Côn Sơn còn
lưu giữ được những dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch sử:
* Giếng Ngọc
Giếng Ngọc nằm ở núi Kỳ Lân, bên phải lối lên Bàn Cờ Tiên, phía
dưới chân Đăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền
Sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quý.
Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ
chịu. Từ đó có tên là Giếng Ngọc và nước giếng được các nhà sư dùng làm
nước tế của chùa. [20]
* Bàn Cờ Tiên
Từ chùa Công Sơn leo lên khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn
(cao 200 m). Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tục gọi là Bàn Cờ
Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu Đình với hai tầng cổ các tám mái.
Đứng từ đây du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn. [20]
* Thạch Bàn
Bên suối Côn Sơn có một phiến đá gọi là Thạch Bàn, nơi chủ tịch Hồ
Chí Minh dừng chân nghỉ khi người tới thăm di tích này. Từ chân núi đi theo
lối mòn có kê đá xuống phía chân núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng và nhẵn
nằm kề ven suối gọi là Thạch Bàn lớn. Tương truyền khi xưa Nguyễn Trãi lấy
làm “chiếu thảm” nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước.
1.1.1.3. Khu danh thắng An Phụ (Kinh Môn)

14
Một dãy núi nổi lên như một chóp nón khổng lồ xanh đậm một rừng
cây, mờ ảo vài công trình kiến trúc giữa vùng đồng bằng phía Bắc Hải
Dương. Núi còn có nhiều rừng cây thiên nhiên, đỉnh núi cao 246 m. Từ trên
đỉnh núi có thể nhìn được toàn bộ đồng bằng Hải Dương. Trên đỉnh núi là đền

Hà) khá thi vị.
1.1.1.7. Khu Ngũ Nhạc Linh Từ (Lê Lợi - Chí Linh)
Khu vực đền Ngũ Nhạc là nơi thờ Sơn Thần theo tín ngưỡng người
Việt cổ. Trước đây đã từng có năm miếu nhỏ trên năm đỉnh quả núi, được tôn
tạo từ thời Nguyễn. Công trình mang tính cổ xưa.
1.1.1.8. Khu rừng Thanh Mai (bến Tắm)
Một khu vực gắn liền với những đền chùa, một trong những quê hương
của Trúc Lâm Tam Tổ.
1.1.1.9. Làng Cò (Chi Lăng Nam) Thanh Miện
Làng Cò thuộc xã Chi Lăng, huyện Thanh Miện. Gọi là Làng Cò vì
làng có một đảo nhỏ nằm giữa hồ vực rộng mênh mông với hàng vạn con cò
về đây trú ngụ, xây tổ. Trên đảo có tới 9 loài cò; cò trắng, cò lửa, cò bộ, cò
ruồi, cò đen, cò hương, cò nghênh, cò ngang, diệc. Ngoài ra trên đó còn có tới
ba bốn ngàn con Vạc và các loại chim quý hiếm như Bồ Nông, Mòng Két,
LeLe cùng trú ngụ nơi đây. Đến nơi đây vào lúc hoàng hôn hay sớm mai là
lúc giao ca thú vị giữa cò và vạc trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày. [21]
1.1.1.10. Thiên nhiên của nền văn hoá lúa nước
Dường như mật độ các dòng sông, đình, đền, chùa miếu bố cục dày đặc
trên địa bàn toàn tỉnh. Những đình, đền, chùa này lại gắn liền với cây đa, bờ
nước hoặc những bến sông luôn luôn tạo nên những cảnh đẹp dễ gây ấn tượng
đối với du khách. Phải chăng trong mỗi người dân Việt Nam hình ảnh về cây

16
đa, bến nước, sân đình đã gần như trở thành một biểu tượng của văn hoá
Việt. [21]
1.1.1.11. Mỏ nước khoáng ở Thạch Khôi
Đây là mỏ nước nóng đã từng là nguồn để tạo nên nước khoáng. Nhiệt
độ nóng và đã được sử dụng để chữa bệnh. Cần có nghiên cứu sâu hơn về khu
vực này để khai thác vì mỏ nước khoáng này rất gần thành phố Hải Dương.
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

Trạm khắc gỗ, đồ kim hoàn là nghề truyền thống mang tính gia truyền,
tập trung ở một số làng như Đồng Giao, thợ kim hoàn với những mặt hàng gia
công nổi tiếng góp phần vào việc giải quyết công ăn việc làm và phát triển
kinh tế nông thôn.
* Làng nghề làm bánh đậu xanh (Hải Dương), bánh Gai (Ninh Giang)
Làng nghề có truyền thống từ lâu đời, sản phẩm nổi tiếng không chỉ
trong nước mà cả quốc tế. Với quy mô sản xuất đã được mở rộng và thu hút
một lượng công nhân đông đảo trong vùng.
* Làng nghề đóng giầy da (Hoàng Diệu)
Nghề đóng giầy da ở Hải Dương có tín nhiệm cao, các nghệ nhân làng
nghề Hoàng Diệu có mặt hầu khắp mọi nơi trên cả nước. Ở Hải Dương nghề
đóng giầy da đang trên đà phát triển nhờ có một số điều kiện thuận lợi như
nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, yêu cầu vốn đầu tư không nhiều, người lao
động khéo tay…
* Làng nghề vàng bạc ở Châu Khê (Bình Giang)
ở Châu Khê có nghề làm vàng bạc từ lâu đời. Những thợ làm vàng bạc
ở đây thường phục vụ trên một địa bàn rộng đặc biệt với kinh đô Thăng Long
xưa.

18
* Nghề làm gốm
Nghề làm gốm đã được phát triển rộng rãi ở Hải Dương từ rất lâu đời
nổi tiếng với gốm Chu Đậu (Nam Sách) và gốm Cậy (Bình Giang).
Do địa hình sông nước trên những thềm đất sét nên đã từ lâu người dân Hải
Dương khá quen thuộc với nghề làm gốm. Nước men của gốm Chu Đậu có
một đặc thù khá riêng biệt và khá nổi tiếng nhất là đối với những người sành
chơi của người Hà Nội ngày xưa.
* Nghề thêu ren (Tứ Kỳ)
Người Hải Dương vốn có truyền thống khéo tay: đan lát, thêu thùa.
Nghề thêu ren ở Xuân Nẻo từng đã làm nên những sản phẩm của các mặt

Lam Sơn, hội xuân từ 16 đến 22 tháng giêng âm lịch nhằm tưởng nhớ vị tổ
thứ 13 của phái Trúc Lâm. Hội thu từ 15-20 tháng 8 âm lịch tưởng niệm
Nguyễn Trãi. Khách thập phương đến với lễ hội để tưởng niệm và vãn cảnh
danh thắng. [21]
* Hội đền Kiếp Bạc (Hưng Đạo-Chí Linh)
Là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng rất hưng thịnh trước đây. Lễ hội đền
Kiếp Bạc diễn ra hàng năm từ 18-20 tháng 8 âm lịch tại đền Kiếp Bạc thờ
Trần Hưng Đạo, vị tướng kiệt suất thời Trần, tài đức song toàn. Lễ hội gồm
có lễ rước, diễn thuỷ binh trên sông Lục Đầu. Khách về dự hội rất đông vừa
để vãn cảnh, vừa để tham dự ngày giỗ của tướng quân Trần Hưng Đạo.
* Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh (Đồng Tâm – Ninh Giang)
Theo truyền thuyết đền thờ thần Sông Nước để thuyền bè đi ngang qua
được bình an, lễ hội hàng năm được mở vào ngày 25 tháng 2 âm lịch gần bến
đò Tranh, Ninh Giang, Hải Dương để cúng thần sông cầu bình an. Ngoài nghi
thức lễ bái, hội có lên đồng, hát chầu văn.
* Lễ hội đền Yết Kiêu (Yết Kiêu – Gia Lộc)

20
Còn gọi là hội đền Quát. Đền Yết Kiêu ở làng Hạ Bì, Gia Lôc, Hải
Dương thờ Yết Kiêu là tướng tài của Trần Hưng Đạo. Hạ Bì là quê hương
ông, lễ hội hàng năm được mở vào ngày 15 tháng giêng âm lịch để ghi nhớ
công ơn của ông trong cuộc khánh chiến chông quân Nguyên. Sau phần nghi
lễ, phần hội có đánh cờ, bơi, đánh đáo đĩa. Hội có bơi trải, bơi triềng trình
làng.
* Lễ hội đền Cao (An Lạc – Chí Linh)
Lễ hội đền Cao mở trong 3 ngày từ 22-24 tháng Giêng âm lịch hàng
năm. Ngày rước thánh là ngày 22, tất cả kiệu rước, nghi trang, cờ quạt tán
lọng đều được sắm sửa ở đền Cả, đến ngày 23 sẽ rước về đền Cao và làm lễ
dâng hương. Sáng 23, lễ hội bắt đầu bằng đám rước kiệu. Đi trước là đội cồng
và kỳ lân, tiếp sau có 6 kiệu. Kiệu thứ nhất rước bài vị sắc phong của năm anh

Trong các lễ hội nổi tiếng nhất là lễ hội đền Kiếp Bạc và lễ hội Côn
Sơn, hai lễ hội này hoàn toàn có thể tổ chức thành những sản phẩm du lịch
độc đáo của tỉnh vì chiến thắng chông quân Nguyên thắng lợi là mang tầm
quốc tế.
1.1.2.2.3. ẩm thực
Hải Dương nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, lại có những loại cây
đặc sản như Vải Thiều, lại có vùng sông nước rộng lớn, có những vùng nước
lợ… bởi vậy ẩm thực của Hải Dương cũng có những nét độc đáo riêng biệt.
Nổi tiếng là:
- Rượu nếp cái hoa vàng Kinh Môn, rượu Phú Lộc
- Vải Thiều Thanh Hà
- Dưa hấu Gia Lộc

22
- Bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh cuốn thành phố Hải Dương
- Bánh Gai Ninh Giang
- Giò chả Gia Lộc
- Mắm rươi, chả rươi Kinh Môn, Kim Thành
- Mắm cáy Thanh Hà
- Bánh đa Kẻ Sặt [21]
Các món ăn này đều có thể tổ chức trình diễn công nghệ sản xuất, chế
biến cho khách du lịch tham quan hoặc cùng tham gia chế biến.
1.1.2.2.4. Văn nghệ dân gian
Nền văn hóa của đồng bằng sông hồng đã tác động rất lớn đến văn
nghệ dân gian của Hải Dương. Các loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc còn
đuợc lưu giữ trong nhân dân Hải Dương là hát chèo, hát tuồng ở thạch lỗi, hát
đối ở Gia Xuyên, Gia Lộc, hát trống quân ở Tào Khê-Bình Giang, xiếc ở
Thanh Miện, Ninh Giang, múa rối ở Thanh Hà (Thanh Hà), Lê Lợi (Gia Lộc),
Hồng Phong (Ninh Giang)…
1.1.2.2.5. Các nghi lễ, rước, cưới hỏi, khao vong gắn liền với trang phục

giới, Việt Nam được xếp vào nhóm mười nước có sự phát triển du lịch và lữ
hành hàng đầu thế giới trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2016 [28]. Trên thực
tế, Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO và là
thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an – Liên hợp quốc, nên Việt
Nam ngày càng có vị thế to lớn trên trường quốc tế, hình ảnh của một Việt
Nam an toàn và thân thiện đang được thế giới quan tâm và tìm hiểu.

24
Nhờ những điều kiện về tài nguyên du lịch, lịch sử văn hoá, chính sách
mở cửa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là uy tín và hình ảnh của nước Việt
Nam trên trường quốc tế, đã hấp dẫn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
trong những năm gần đây tăng lên rõ rệt.
Bảng 1.1: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ năm 2001 – 9/2007
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
9 tháng
2007
Số
khách
2330.800
2.628.200
2.429.600
2.927.876
3.467.757
3.583.486


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status