Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYN TH PHNG LOAN
NGHIấN CU PHT TRIN DCH V VUI CHI
GII TR PHC V KHCH DU LCH TI
H LONG - QUNG NINH Chuyờn ngnh: Du lch
(Ch-ơng trình đào tạo thí điểm)
Luận văn thạc s du lịch
1.2.1. Khái niệm vui chơi giải trí và dịch vụ vui chơi giải trí…………… 17
1.2.2. Đặc điểm dịch vụ vui chơi giải trí………………………………………… 19
1.2.3. Các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ vui chơi giải trí………… …20
1.2.4. Phân loại dịch vụ vui chơi giải trí……………………………………… 20
1.2.5. Vai trò của dịch vụ vui chơi giải trí ……………………………………… 23
1.2.6. Các nhân tố cơ bản tác động đến hoạt động vui chơi giải trí 26
1.2.7. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ vui chơi giải trí……………… 29
1.2.8. Qui trình và phương pháp đánh giá sự phát triển của dịch vụ VCGT…… 32
1.3. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ vui chơi giải trí ở một số khu du lịch
trên thế giới và Việt Nam………………………………………………….34
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ vui chơi giải trí ở một số khu du lịch trên thế giới 34
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ vui chơi giải trí ở một số khu du lịch ở Việt Nam 36
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Hạ Long ……………………………………… 43
1.4. Tiểu kết chƣơng………………………………………………………………44
2
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VUI CHƠI GIẢI TRÍ PHỤC VỤ
KHÁCH DU LỊCH TẠI HẠ LONG………………………………………….….46
2.1 Tổng quan về du lịch Hạ Long …………………………… ………….…….46
2.1.1. Khái quát về Hạ Long …………………………………… ………… … 46
2.1.2. Tài nguyên du lịch Hạ Long …………………………………………… …52
2.1.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch………………………………… 60
2.1. 4. Hiện trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Hạ Long………………… …65
2.2. Dịch vụ vui chơi giải trí ở Hạ Long……………………………………… 74
2.2.1. Các dịch vụ vui chơi giải tri ở Hạ Long……………………… ………… 74
2.2.2. Doanh thu từ dịch vụ vui chơi giải trí ở Hạ Long……… …………………80
2.2.3. Quản lý dịch vụ vui chơi giải trí ở Hạ Long……………………… 81
2.2.4. Điều tra thực trạng dịch vụ vui chơi giải trí ở Hạ Long ……….……………81
2.3. Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch tại Hạ Long…………………… 86
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 118
PHỤ LỤC……………………………………………………………………… 120
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TP : Thành phố
TTLL : Thông tin liên lạc
VCGT : Vui chơi giải trí
NLN : Nông - Lâm - Nghiệp
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
mức chi tiêu trung bình là 280.000VND/ 1 khách nội địa, 1.640.000/1 khách quốc
tế). Một trong những nguyên nhân chính đó là sự nghèo nàn, đơn điệu, thiếu chuyên
nghiệp của các dịch vụ du lịch ở Hạ Long, đặc biệt là dịch vụ vui chơi giải trí, dưới
đây viết tắt là VCGT.
Vấn đề đặt ra cho du lịch Hạ Long là tăng cường phát triển các dịch vụ
VCGT để thu hút khách đến Hạ Long, đây là vấn đề cấp thiết đòi hỏi phải được
nghiên cứu định hướng triển khai áp dụng.
2. Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
7
Vui chơi giải trí là một trong những mảng dịch vụ của hoạt động du lịch, tuy
nhiên đây là dịch vụ mang tính chất bổ sung nên số lượng các công trình nghiên cứu
về dịch vụ này còn hạn chế ở cả trong và ngoài nước.
- Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trước đây, theo kết quả nghiên cứu đánh giá của đề tài khoa học cấp ngành
“Cơ sở khoa học và thực tiễn tổ chức các loại hình VCGT trong các khu du lịch khu
vực Hà Nội và phụ cận” của Tổng cục du lịch Việt Nam năm 2001 thì đã có các nhà
nghiên cứu như I.I Pirôgiơnic (1985), Mukhina (1972) Sefer (1973), nhà địa lý B. N
Likhanôv (1973) đã nghiên cứu về dịch vụ VCGT như một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển du lịch. Trong khoảng thời gian từ 1972 - 1996, các nhà địa
lý như Bohar (Mỹ), H.Robison (Anh), như Vonfer; Henayer (Canada) cũng đã tiến
hành đánh giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch. Gần
đây, có thêm một số những công trình nghiên cứu về quản trị kinh doanh DVGT và
quản tri chất lượng dịch vụ VCGT trong doanh nghiệp, nhưng thường chỉ là các
chương trong giáo trình và các tài liệu tham khảo như
MF.Collins and I.S Cooper, “Leisure managament Issues and Applications”, cab
international, 1998
Jay Kandampully, PhD, Connie Mok, PhD and Beverley sparks, PhD
“ Service quality managament in hospitality, Tourism and leisure” editors, 2000
- Tình hình nghiên cứu trong nước
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động vui chơi giải trí và các vấn đề liên quan đến phát
triển dịch vụ VCGT tại Hạ Long.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Thành phố Hạ Long và khu vực di sản thuộc vịnh
Hạ Long
+ Thời gian nghiên cứu: Từ 2005 - 2010
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
9
Mục đích của phương pháp này nhằm thu thập tài liệu liên quan đến lý luận về
dịch vụ VCGT, thu thập kết quả nghiên cứu đã công bố, tạo cơ sở tin cậy về lý luận
để áp dụng giải quyết các nội dung của Luận văn.
Một số tài liệu tác giả thu thập để nghiên cứu như: Văn kiện đại hội Đảng,
Luật Du lịch; giáo trình, các đề tài nghiên cứu khoa học, các báo cáo, qui hoạch và
các bài viết có liên quan.
- Phương pháp thực địa:
Nhằm nắm được thực trạng vấn đề và thu thập những số liệu xác thực minh
chứng nội dung nghiên cứu. Tác giả đã đi tiến hành thực địa ba lần, phạm vi chủ
yếu tập trung ở khu vực trung tâm thành phố Hạ Long, khu Bãi Cháy, Đảo Tuần
Châu, vùng mặt nước di sản vịnh Hạ Long. Từ hoạt động nghiên cứu thực địa, tác
giả nắm được sơ bộ tình hình cụ thể về số lượng, chất lượng các dịch vụ, các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ vui VCGT, thấy được định hướng không gian phát triển
để có cơ sở đưa ra các giải pháp phát triển sản phẩm.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Sử dụng bảng hỏi để điều tra xã hội học, điều này có ý nghĩa quan trọng
trong việc nắm bắt nhu cầu của du khách cũng như sự đánh giá của du khách về
hiện trạng dịch vụ VCGT.
11
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
VÀ DỊCH VỤ VUI CHƠI GIẢI TRÍ
1.1. Khách du lịch và dịch vụ du lịch
1.1.1. Khách du lịch
1.1.1.1. Khái niệm khách du lịch
Tại các quốc gia đều có những khái niệm, định nghĩa riêng về khách du lịch
và điểm chung nhất đối với các quốc gia đều cho rằng:
Thứ nhất: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên
của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ
mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24
giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian
vận chuyển mà khách cần được thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình. Đối
tượng thoả mãn nhu cầu vận chuyển chính là các phương tiện vận chuyển như: Máy bay,
ôtô, xe máy, tàu hoả, tàu thuỷ, xích lô, xe đạp Bên cạnh đó dịch vụ vận chuyển cũng
là đối tượng đáp ứng nhu cầu vận chuyển của khách như: Các hãng hành không,
đường săt, đường thuỷ, các công ty vận chuyển, công ty du lịch
- Nhu cầu lưu trú: Là những đòi hỏi về các sản phẩm dịch vụ lưu trú ăn uống
mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến đi du lịch của mình. Đối tượng thoả
mãn nhu cầu này chính là hệ thống các cơ sở lưu trú như: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà
khách, bãi cắm trại, resort, bungalow, home stay
- Nhu cầu ăn uống: Là những đòi hỏi về các hàng hoá, dịch vụ ăn uống mà
khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến đi du lịch của mình. Đối tượng thoả mãn
nhu cầu ăn uống của khách du lịch bao gồm các dịch vụ phục vụ ăn uống tại các nhà
hàng, quán rượu, khách sạn, quán ăn bình dân và các sản phẩm ăn uống như: Các
món ăn ngon, đồ uống hấp dẫn.
Nhu cầu đặc trưng: Là những nhu cầu xác định mục đích chính của chuyến
đi, ví dụ như nhu cầu tham quan, giải trí, nhu cầu học tập nghiên cứu, nhu cầu chữa
bệnh nghỉ dưỡng, nhu cầu quan hệ xã hội, tiếp xúc xã hội.
- Nhu cầu nghỉ ngơi giải trí: Cùng với sự phát triển của xã hội thì những áp
lực từ công việc, từ môi trường xung quanh với con người ngày càng cao, làm cho
con người thường xuyên rơi vào tình trạng căng thẳng mệt mỏi. Do đó con nguời có
nhu cầu bứt phá ra khỏi công việc, cuộc sống hàng ngày để tìm những nơi có thể vui
13
chơi, giải trí, hoà mình vào thiên thiên nhằm tìm lại trạng thái cân bằng, sảng khoái
của bản thân
- Nhu cầu chữa bệnh, nghỉ dưỡng: Do du lịch có vai trò giữ gìn sức khỏe,
phục hồi và tăng cường sức sống cho người dân nên một số khách du lịch đi du
lịch để điều trị một số bệnh nào đó về thể xác hoặc tinh thần. Với những người này
họ thường tìm đến những trung tâm nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thường chúng được xác
định ở những nơi có vùng nước khoáng có giá trị, giữa khung cảnh thiên nhiên tươi
1.1.2.2. Đặc điểm
* Tính vô hình
Hầu hết các dịch vụ du lịch như: dịch vụ lưu trú, ăn uống, tham quan, vui
chơi giải trí… đề tồn tại dưới dạng vô hình, không thể nhìn, cầm, nắm, sờ thấy nên
khách du lịch và nhà cung ứng chỉ có thể cảm nhận được một phần chứ không thể
kiểm tra được chất lượng của dịch vụ trước khi bán hay mua. Do đó quảng cáo và
nghiên cứu kỹ nhu cầu khách du lịch là hai nhiệm vụ quan trọng của các nhà cung
ứng dịch vụ du lịch.
* Tính đồng thời trong quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch
Khác với các dịch vụ thông thường khác, phần lớn dịch vụ du lịch chỉ được
thực hiện khi có sự tham gia tiêu dùng dịch vụ của du khách. Chính vì lẽ đó doanh
nghiệp khó đo lường chất lượng dịch vụ trước khi bán. Để hạn chế tối đa những tiêu
cực, những yếu tố làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ, doanh nghiệp
cần xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn và quản lý tốt việc thực hiện các chuẩn mực
đó.
*Tính không chuyển đổi quyền sở hữu
Dịch vụ du lịch mang tính không chuyển đổi quyền sở hữu là bởi quá trình
sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nên người mua chỉ có mua quyền sử dụng
đối với tiến trình thực hiện dịch vụ chứ không phải mua quyền sở hữu dịch vụ.
* Tính không thể di chuyển của dịch vụ
Dịch vụ du lịch được tạo ra do sự tương tác của nhiều yếu tố, trong đó có nhà
cung ứng.Vì lẽ đó dịch vụ du lịch mang tính cố định, khách du lịch muốn tiêu dùng
dịch vụ phải di chuyển đến nơi cung cấp dịch vụ. Bởi vậy công tác quảng bá cho
dịch vụ của doanh nghiệp với khách du lịch là nhiệm vụ quan trọng và ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
* Tính thời vụ của dịch vụ du lịch
15
Đây là đặc trưng rõ nét của dịch vụ du lịch, đặc trưng này dễ dẫn đến tình
trạng mất cân bằng cung cầu, gây ra những lãng phí nguồn nhân lực, cơ sở vật chất
16
thái sẵn sàng tiếp nhận và đáp ứng đầy đủ, chính xác, nhanh chóng nhu cầu của
khách hàng
- Khả năng giao tiếp: Thông qua lời nói, cách thức hướng dẫn cho khách
hàng, cách giải quyết các vấn đề và giải quyết các vấn đề, sự phàn nàn của khách.
- Uy tín doanh nghiệp: Giúp tạo ra niềm tin của khách hàng đối với doanh
nghiệp. Sự trung thực, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp, sự nổi tiếng của doanh
nghiệp tạo nên uy tín.
- Sự an toàn: Là yếu tố khách hàng rất quan tâm, sự an toàn thể hiện thông
qua tính không nguy hiểm về vật chất và tinh thần cho khách hàng khi sử dụng dịch
vụ.
- Tính hữu hình: Việc đánh giá tính hữu hình thông qua những dấu hiệu vật
chất của dịch vụ như: Phương tiện vật chất, tính thẩm mỹ của các phương tiện vật
chất; vẻ mặt, trang phục của nhân viên; các trang thiết bị cung cấp cho khách hàng.
- Sự hiểu biết về khách hàng: Cần hiểu nhu cầu của khách hàng trong quá
trình cung cấp dịch vụ, tiếp nhận thông tin phản hồi, ghi nhớ các mong đợi những
khách quen, khách hàng thường xuyên. Tiến hành nghiên cứu cụ thể nhu cầu từng
đối tượng khách hàng thông qua các phương pháp khác nhau.
1.1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ thường được đánh gía dựa trên các chỉ tiêu sau:
- Sự đa dạng của dịch vụ: Số lượng, chủng loại, sản phẩm.
- Chất lượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ gồm những yếu tố về cơ sở
vật chất kỹ thuật trang thiết bị phục vụ: Thiệt bị, thiết kế, bày trí, thẩm mỹ
- Chất lượng của đội ngũ lao động: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn,
kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng giao tiếp, ngoại ngữ, sức khoẻ, tinh thần thái
độ
- Khoảng cách nhận thức chất lượng dịch vụ:
+ Khoảng cách thứ nhất: Sự khác biệt giữa dịch vụ mà khách hàng mong đợi
và những hiểu biết của nhà quản lý về sự mong đợi đó.
+ Khoảng cách thứ hai: Khả năng quản lý về việc xây dựng các tiêu chuẩn
khu vườn lớn trong đó có xây dựng những hồ nước, giả sơn, suối nước, thác nước
Cùng nhiều loài cây, hoa lạ để tổ chức các hoạt động VCGT. Ngoài ra họ thường
xuyên có các hoạt động khác như: Cưỡi ngựa, săn bắn, bơi thuyền còn tầng lớp
bình dân lại có các hoạt động VCGT vào các kỳ lễ hội sau vụ thu hoạch mùa
18
màng Nhưng các hoạt động VCGT thời xưa có những nét khác biệt về bản chất so
với các hoạt động VCGT hiện đại ở chỗ con người thời xưa tham gia các hoạt động
VCGT do các phong tục, tập quán (lễ hội, đình đám ) do có nhiều thời gian rỗi
(những tháng nông nhàn) nhằm mục đích chủ yếu là gặp gỡ, giao tiếp, mở rộng hiểu
biết hơn về con người, thiên nhiên. Còn hoạt động VCGT hiện đại, nẩy sinh từ một
nền sản xuất xã hội hoá cao. Con người chịu sức ép nặng nề của công việc, sự căng
thẳng về tâm lý, do vậy mục đích chủ yếu của họ khi tham gia hoạt động VCGT là
để nghỉ ngơi, thư giãn và hồi phục sức khoẻ nhanh chóng 14, Tr 8.
Theo các nhà nghiên cứu thì VCGT hiện đại gắn liền các kỳ nghỉ an dưỡng
xuất hiện đầu tiên ở châu Âu vào thế kỷ 18 - 19. Khi mà quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá phát triển mạnh mẽ. Các gia đình quý tộc, các tầng lớp tư sản thành thị
đua nhau xây các khu nghỉ trong các trang trại ở nông thôn để tổ chức các hoạt động
VCGT vào những thời gian rỗi. Đó là nhu cầu xã hội và tất yếu lịch sử. Dần dần các
hoạt động VCGT đã trở thành phổ biến ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ như Anh,
Pháp, Đức, Hoa Kỳ và các nước Đông Âu là những nước có chế độ làm việc năm
ngày trong tuần.
Ngày nay công nghệ VCGT ở những nước đang phát triển (như Thái Lan,
Malaysia, Singapore ) cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể và không những
phục vụ cho khách trong nước mà còn là nhân tố góp phần thu hút hàng triệu du
khách nước ngoài.
Xu hướng hiện nay của các nhà đầu tư trong lĩnh vực VCGT là xây dựng các
khu liên hợp gồm nhà nghỉ, bể bơi, không gian xanh, cửa hàng, phòng thể dục thẩm
mỹ và các trò chơi thú vị mang tính mạo hiểm cao. Ông Simon Allen, nhà đầu tư
xây dựng của Công ty Brooker Hillier Parker (Thái Lan) nói: "Thời điểm cho các
nhau như: Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị, đội ngũ nhân viên, thời tiết đặc biệt là
trạng thái tâm lý và yêu cầu của khách hàng khác nhau vào những thời điểm khác
nhau nên dẫn đến tình trạng chất lượng dịch vụ không giống nhau. Để hạn chế sự
khác biệt này, nhà cung cấp cần cố gắng tạo ra những điều kiện chủ quan luôn ở
tình trạng tốt nhất.
- Tính thời vụ của dịch vụ vui chơi giải trí: Bản thân du lịch là một ngành
kinh tế có tính thời vụ cao, dịch vụ vui chơi giải trí trong du lịch phục vụ du khách
do đó cũng một phần chịu sự tác động. Hơn nữa với đặc điểm riêng của từng loại
dịch vụ, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau nên dịch vụ VCGT cũng mang
20
tính thời vụ. Tình trạng này dẫn đến cung cầu mất cân đối, gây lãng phí về nhân lực,
cơ sở vật chất và giảm chất lượng vào thời kỳ cao điểm. Vì vậy, vào thời kỳ thấp
điểm cần có những chính sách khuyến mại, lôi kéo khách hàng đến với cơ sở.
- Tính cố định của dịch vụ vui chơi giải trí: Dịch vụ VTGT được tạo ra bởi
nhiều yếu tố khác nhau, khách du lịch muốn được hưởng dịch vụ cần phải di chuyển
đến DVGT. Do đó công tác thông tin, quảng cáo đóng vai trò khá quan trọng trong
việc thu hút khách hàng.
- Tính dễ sao chép: Dịch vụ VCGT mang tính phổ thông, không đăng ký bản
quyền nên rất dễ bị sao chép, dẫn đến sự nhàm chán, nghèo nàn, đại trà. Để hạn chế
điều này, cơ sở cung ứng dịch vụ phải luôn đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ
để tạo ra lợi thế cạnh tranh.
1.2.3. Các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ vui chơi giải trí
Khi nghiên cứu về dịch vụ vui chơi giải trí, để đưa ra những giải pháp tối ưu
cho sự phát triển của dịch vụ này thì một điều không thể không xét đến chính là các
yếu tố tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ vui chơi giải trí. Nắm được và hiểu
được các yếu tố này, sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn thấu đáo hơn về dịch vụ.
Về cơ bản, quá trình sản xuất dịch vụ VCGT có sự tham gia của hai yếu tố sau:
Nhà cung ứng: Là người cung cấp dịch vụ VCGT cho khách. Các nhân tố
bên trong đó là đội ngũ cán bộ công nhân viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm năng tài
- Dịch vụ Vũ trường
Dịch vụ VCGT rất đa dạng nên việc phân loại dịch vụ VCGT là công việc
khá phức tạp. Tuy nhiên theo tác giả dịch vụ vui chơi giải trí có thể phân loại như
sau:
1.2.4.1. Theo sự tham gia của khách du lịch
Dịch vụ VCGT với loại hình giải trí có sự tham gia của người hưởng thụ(chủ
động): Là các dịch vụ trong đó khách hàng trực tiếp tham gia các hoạt động thể lực
hoặc các sinh hoạt sôi động. Ví dụ các dịch vụ vui chơi giải trí như: bowling, leo núi,
golf, tàu lượn, bơi thuyền, câu cá, bi-a, khiêu vũ, ca hát
Dịch vụ VCGT với các loại hình giải trí mang tính thụ động: Là các dịch vụ
trong đó giúp khách hàng tham gia các hoạt động chủ yếu mang ý nghĩa hưởng thụ về
mặt tinh thần, không nặng nề về thể lực.Ví dụ các dịch vụ biểu diễn nghệ thuật như:
chèo, tuồng, múa rối, cải lương, ca kịch, chầu văn, quan họ, phim, xiếc, nhạc nước
1.2.4.2. Theo khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên
22
Các dịch vụ sử dụng tài nguyên tự nhiên: Leo núi, vượt thác, cắm trại, săn
bắn, thể thao
Các dịch vụ sử dụng tài nguyên du lịch nhân văn: Tham dự các loại hình
nghệ thuật truyền thống, các dịch vụ sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: Nhà tập đa
năng, công viên nước, games
Loại hình VCGT tổng hợp: Áp dụng cho các khu du lịch vừa có tài nguyên
tự nhiên và nhân văn.
1.2.4.3. Theo phạm vi không gian
Dịch vụ VCGT dưới nước: Các dịch vụ như lướt ván, lướt sóng, bơi thuyền,
lặn biển, môtô nước, chèo thuyền kayaking, đi thuyền hoặc mủng câu Cá
Dịch vụ VCGT trên cạn: Xem biểu diễn nghệ thuật, xem phim, đánh golf, bắn
cung, đua ngựa, đấu vật, tham gia các trò chơi trong các khu công viên tổng hợp
Dịch vụ VCGT trên không: Tàu lượn, nhảy dù, khinh khí cầu, vòng quay trên
không, dù bay
do làm việc. Những hoạt động này đồng thời cũng giúp cho con người trở nên linh
hoạt, sáng tạo hơn qua quá trình tham gia các trò chơi và nghỉ ngơi thư giãn. Nó
đem lại sự cân bằng tâm lý, lòng tin yêu vào cuộc sống. Do vậy, chức năng xã hội
của hoạt động VCGT biểu hiện ở vai trò bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của con
người. Hoạt động vui chơi tích cực làm tăng tuổi thọ và khả năng lao động. Qua
nghiên cứu y sinh học của các nhà khoa học trên thế giới thì nhờ có chế độ nghỉ
ngơi, hoạt động vui chơi hợp lý mà có thể giảm trung bình 30% bệnh tật cho con
người, còn những bệnh phổ biến như tim mạch thì giảm gần 50%, bệnh đường hô
hấp giảm 40%, các bệnh về thần kinh và về xương, bệnh cơ bắp giảm 30%, bệnh về cơ
quan tiêu hoá giảm 20%.
Mặt giáo dục:
Hoạt động này cũng tạo điều kiện cho những nhóm người khác nhau được
tiếp xúc, hiểu biết lẫn nhau, hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tạo
nên sự phát triển hài hoà, toàn diện của con người. VCGT kết hợp với việc giáo dục
tư tưởng chính trị cho thanh thiếu niên, thu hút họ vào những hình thức hoạt động
văn hoá xã hội bổ ích, những hoạt động này giúp họ sử dụng thời gian nhàn rỗi một
cách hợp lý. Từ đó giảm đi những tệ nạn, giảm số lượng những thanh thiếu niên hư
hỏng. Ngoài ra dịch vụ VCGT còn giúp cho việc phát triển tâm sinh lý tốt, giải toả
24
được những sức ép nặng nề của cuộc sống công nghiệp đầy sức ép và ô nhiễm, bồi
dưỡng thể chất để phát triển cả thể lực và trí lực .
Mặt kinh tế:
Việc tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, làm tăng hiệu suất lao động của họ
cũng chính là ý nghĩa về mặt kinh tế của hoạt động VCGT.
Việc nghỉ ngơi, VCGT tích cực và hợp lý tạo điều kiện phục hồi và phát triển
sức khoẻ, phát triển khả năng lao động, tái sản xuất mở rộng sức lao động cũng làm
tăng hiệu quả kinh tế cho đất nước. Hiệu quả này là do giảm tiêu hao thời gian lao
động vì ốm đau, giảm thời gian chữa bệnh trong bệnh viện và giảm thời gian đi
khám bệnh.