ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THUÝ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LÀNG GỐM PHÙ LÃNG Ở BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THUÝ ANH
Hà Nội, 2010 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. Mục đích nghiên cứu. 9
4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. 9
5. Đóng góp của luận văn. 10
6. Bố cục của luận văn 10
CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 11
2.1.2. Khách du lịch 46
2.1.3. Nguồn lao động 49
2.2. Thực trạng dịch vụ du lịch 51
2.2.1. Cơ sở vật chất dịch vụ du lịch 51
2.2.1.1. Dịch vụ lưu trú 51
2.2.1.2. Cơ sở vui chơi giải trí, nhà hàng ăn uống và cửa hàng bán đồ lưu niệm. 53
2.2.1.3. Dịch vụ vận chuyển 54
2.2.2. Cơ sở hạ tầng du lịch 54
2.2.2.1. Hệ thống giao thông 54
2.2.2.2. Điện nước và bưu chính viễn thông 56
2.3. Doanh thu từ dịch vụ du lịch 57
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
DU LỊCH LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 61
3.1. Những giải pháp trước mắt 62
3.1.1. Tăng cường số lượng du khách đến Phù Lãng. 62
3.1.2. Xây dựng Phù Lãng là điểm đến và điểm kết hợp dừng chân 63
3.1.3. Quảng bá xúc tiến du lịch tại Phù Lãng 64
3.2. Những chiến lược lâu dài 66
3.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch theo hướng chuyên nghiệp 67
3.2.2. Nâng cao tính độc đáo, hấp dẫn của sản phẩm 69
3.2.3. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 70 3
3.2.4. Bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề theo hướng bền vững 72
3.2.5. Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh, thành phố và các vùng phụ cận khác
trong việc khai thác tài nguyên du lịch làng nghề. 76
3.3. Thiết kế tour du lịch 77
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
7
THS
Thạc sĩ
8
TS
Tiến sĩ
9
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
10
UBND
Ủy ban nhân dân
11
VH
Văn hóa 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt hàng trăm năm nay, ngành du lịch đã mang lại những lợi ích
về kinh tế, văn hóa và xã hội cho các cộng đồng và quốc gia trên khắp địa
cầu. Từ xa xưa, khi con người còn đi trên những con thuyền được đẽo bằng
tay từ những thân cây lớn vượt qua hết thảy những ghềnh thác dữ dội nhất cho
tới ngày nay, khi mà người ta chế tạo những chiếc phi cơ khổng lồ để di
chuyển trên những quãng đường xa nhất có thể, lợi nhuận và tri thức luôn là
chất xúc tác mạnh mẽ nhất, thúc đẩy loài người đi tới tiến bộ và một cuộc
sống tốt đẹp hơn. Hiện nay, thật dễ dàng để con người có thể đi dọc ngang địa
cầu tìm kiếm một thiên đường kì thú, thỏa mãn mọi nhu cầu từ mua sắm, du
lịch, giải trí đến nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển mạnh với nhiều ngành dịch vụ
phong phú, trong đó du lịch làng nghề đang trở thành hướng đi mới đầy triển
vọng. Là một nước có nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với các làng nghề
truyền thống với những hình ảnh mang đầy bản sắc về đất nước và con người
Việt Nam, du lịch làng nghề là một phương hướng hoạt động hợp lý với tiềm
năng sẵn có của dân tộc. Phát triển du lịch làng nghề không những góp phần
vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, quảng bá và giới thiệu hình
ảnh cuộc sống và con người Việt Nam với các nước trên thế giới mà nó chính
là cách để mỗi làng nghề trên mọi miền đất nước giữ gìn được bản sắc truyền
thống mà cha ông truyền lại.
Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh ngày nay từng là cái nôi của nền văn hoá văn
minh đất Việt. Nó tích tụ đậm đặc trong mình cả bề rộng lẫn chiều sâu của
mấy ngàn năm lịch sử với những giá trị văn hoá vô cùng độc đáo và hấp dẫn
như những đình chùa đền miếu cổ kính uy nghi, những hội hè đình đám rộn rã 7
tưng bừng, những làn điệu quan họ đắm say mượt mà, những tên đất, tên
người nhuộm màu cổ tích và huyền thoại. Đặc biệt, Bắc Ninh còn nổi tiếng
Xuất phát từ thực tế trên, với niềm tự hào, ý thức trách nhiệm và tình
cảm sâu nặng với truyền thống Bắc Ninh, cùng những trăn trở muốn đóng góp
một phần sức lực nhỏ bé của một người con sinh ra trên mảnh đất này vào
công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Nghiên cứu phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh” làm nội dung
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Gốm Phù Lãng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể kể ra
một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như: “Làng
gốm Phù Lãng”, “Làng gốm Phù Lãng Quế Võ (Hà Bắc) qua tư liệu mới”,
“Lò gốm thời Lê ở Phả Lại, Quế Võ (Hà Bắc)” của hai tác giả Trần Anh Dũng
và Trần Đình Luyện. Gần đây có “Nghề gốm Phù Lãng - truyền thuyết về tổ
nghề và lịch trình phát triển”, “Gốm sành nâu ở Phù Lãng” của TS.Trương
Thị Minh Hằng. v.v… Nhưng những bài viết và công trình nghiên cứu đó chỉ
tập trung nghiên cứu về lĩnh vực khảo cổ và văn hóa. Riêng lĩnh vực phát
triển du lịch làng gốm Phù Lãng gần đây mới được các tác giả là cá nhân, cơ
quan quan tâm nghiên cứu như Đề án “Phát triển du lịch làng nghề trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh” do Sở Du Lịch Bắc Ninh thực hiện năm 2004. Hội thảo
“Phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh” do Sở Văn hóa Thể thao và Du
lịch tổ chức tháng 2/2007 có bài viết “Phù Lãng với phát triển du lịch làng
nghề” của công ty Hanoitourist. Tiếp đó là khoá luận “Bước đầu nghiên cứu
tổ chức hoạt động du lịch sinh thái tại một số làng nghề tiêu biểu tỉnh Bắc
Ninh” của sinh viên Cao Thị Hà (khoa Du lịch, trường ĐHKHXH&NV).v.v… 9
Những công trình này mới chỉ khái quát được tiềm năng, thực trạng và đưa ra
một vài giải pháp phát triển du lịch của Phù Lãng nói riêng và tỉnh Bắc Ninh
nói chung. Luận văn này được thực hiện sẽ đưa ra những định hướng giải
pháp phát triển du lịch làng Phù Lãng một cách thiết thực và hiệu quả, đồng
điểm đến là làng gốm Phù Lãng mà hiện nay trên thị trường du lịch chưa có.
Bên cạnh đó, luận văn đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm phát triển du
lịch làng gốm này với mong muốn thu hút khách du lịch đến với Phù Lãng,
góp phần gìn giữ và phát triển nghề, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người
dân nơi đây.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ
viết tắt, danh mục các phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về làng gốm Phù Lãng.
- Chương 2: Hoạt động du lịch ở làng gốm Phù Lãng - Bắc Ninh.
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch làng gốm Phù
Lãng.
11
CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÀNG GỐM PHÙ LÃNG
1.1 Lý luận về du lịch và du lịch làng nghề
1.1.1. Du lịch là gì?
Hoạt động du lịch trên thế giới hình thành sớm, từ thời kỳ cổ đại đến thời
kỳ phong kiến, rồi đến cận đại và hiện đại. Hoạt động kinh doanh du lịch cũng
dần phát triển và ngày càng được nâng cao cả về cơ sở vật chất kỹ thuật đến
các điều kiện về ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,… Ngày nay, hoạt động du lịch
mang tính toàn cầu, và đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của người dân các
nước kinh tế phát triển. Du lịch cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mức sống
ngành văn hoá – xã hội. Quán triệt tinh thần đó, tại Điều khoản 1 Pháp lệnh
Du lịch được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 02/02/1999 đã khẳng định
“Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan
trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo
việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [22, tr.1].
Các nhà làm luật thường coi khái niệm “du lịch” gắn với việc “di chuyển
của khách ngoài địa điểm cư trú thường xuyên của mình” [16, tr.22-24]. Du
lịch quốc tế là một trong những hình thức cơ bản của du lịch xét theo không
gian lãnh thổ di chuyển, cư trú, tham quan, giải trí… và ngày càng trở thành
một bộ phận hữu cơ của toàn bộ hoạt động du lịch quốc gia. Hoạt động du
lịch quốc tế có hai đặc điểm chính: khách du lịch mang quốc tịch nước ngoài
và quá trình thanh toán được thực hiện bằng ngoại tệ. Trong điều kiện hội 13
nhập kinh tế quốc tế, du lịch quốc tế được coi như động lực tăng trưởng và
phát triển nhanh của quốc gia.
1.1.2. Du lịch làng nghề là gì?
1.1.2.1. Khái niệm làng nghề
Để hiểu thế nào là làng nghề, trước hết cần phải nắm rõ khái niệm nghề
truyền thống: “Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra
những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến
ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống
phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm;
Thứ hai tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với
tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.” [36, tr2].
Sự phát triển của nghề truyền thống là nhân tố trực tiếp và chủ yếu nhất
đưa tới sự xuất hiện của các làng nghề. Vậy “Làng nghề là một hoặc nhiều
nghề từ đó lan rộng ra phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau. Chính
nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng
bắt đầu có sự phân hóa, nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần,
ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng dần bị
mai một. Từ đó hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề
duy nhất nào đó như làng làm đồ đồng, làng làm đồ gỗ, làng làm đồ gốm sứ…
Như vậy ta có thể hiểu làng nghề là làng của các cư dân làm nghề nông có
thêm một hoặc vài nghề nào đó như mộc, gốm sứ, dệt…Nghề của họ có tính
chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng.
Làng nghề không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa, đóng góp vào sự phát
triển kinh tế chung mà còn là cái nôi của văn hóa, là nơi lưu giữ những giá trị
truyền thống, nghệ thuật và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Hơn nữa, 15
làng nghề cũng là nơi sinh ra biết bao nghệ nhân với những bàn tay tài hoa và
khéo léo. Với sự hình thành và tồn tại hàng trăm năm, sản phẩm của làng
nghề không chỉ đặc sắc, phong phú, đa dạng về chủng loại mà còn mang tính
chuyên sâu cao. Đó là những công trình, tác phẩm là mồ hôi công sức của
những nghệ nhân tài hoa.
1.1.2.2. Đặc điểm làng nghề
* Về mặt kỹ thuật công nghệ: Trước kia kỹ thuật thủ công hầu hết mang
tính truyền thống của một vùng nào đó hoặc bí quyết riêng của từng dòng họ.
Nhưng ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp cho quá trình
sản xuất ngày một nâng lên và đạt hiệu quả cao. Tuy sử dụng công nghệ tiên
tiến nhưng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều đó với công nghệ truyền
thống vẫn là bí quyết giúp sản phẩm tạo ra không mất đi chất lượng vốn có.
* Về sản phẩm: Mỗi sản phẩm đều mang những đặc điểm riêng nhất
không giống nhau. Sản phẩm của mỗi vùng, mỗi làng đều có những phương
thức sản xuất riêng và đặc trưng từng vùng. Do vậy, có thể phân biệt sản
kinh tế quốc dân như là một nguồn lực, nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà
còn có những giá trị lớn về văn hóa – xã hội. Mỗi làng nghề chính là một địa
chỉ văn hóa phản ánh nét độc đáo của từng địa phương. Giá trị của làng nghề
còn thể hiện ở lối sống, phong tục tập quán của từng cộng đồng dân cư. Chính
vì vậy mà làng nghề được xem là “tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa
quan trọng bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong nó cả nội
dung giá trị vật thể và phi vật thể” [19].
Có thể thấy du lịch làng nghề là loại hình du lịch dựa vào việc khai thác
giá trị văn hóa truyền thống, các kỹ năng nghề nghiệp thể hiện trong sản phẩm
thủ công để phục vụ du khách. Đồng thời du lịch làng nghề còn là loại hình 17
du lịch dựa vào sản phẩm thủ công và văn hóa bản địa có đóng góp cho sự bảo
tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa
phương.
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, nền kinh tế nói chung và kinh
tế du lịch nói riêng có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và tính
đa dạng. Khách du lịch ngày càng có nhu cầu khám phá về văn hóa, phong tục
tập quán của mỗi vùng miền theo bước chân đi của họ. Các làng nghề hội tụ
và biểu hiện một cách sinh động bản sắc độc đáo về cuộc sống con người của
mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Khi đến với làng nghề, khách du lịch
sẽ được biết đến hoạt động sản xuất từ thời cổ xưa, xem cách thức người xưa
làm ra sản phẩm. Từ việc tìm hiểu các yêu tố văn hóa truyền thống, quy trình
sản xuất các sản phẩm truyền thống, du khách được trực tiếp tham gia vào
một công đoạn nào đó trong quá trình làm ra sản phẩm và lưu giữ nó làm kỷ
niệm trong chuyến đi của mình. “Du lịch làng nghề là một cách học. Du
khách sẽ không chỉ được học cách thức làm ra sản phẩm truyền thống mà còn
hiểu được những câu chuyện văn hóa đằng sau mỗi sản phẩm. Đó là một bài
học độc đáo và sinh động” [27, tr13].
Sơn – nơi có phong cảnh hữu tình của đất Kinh Bắc, làng Phù Lãng hội tụ đủ
các điều kiện cho nghề gốm phát triển.
1.2.1.2. Địa hình
Toàn xã Phù Lãng có tổng diện tích là hơn 1000 ha, trong đó đất nông
nghiệp chiếm chủ yếu khoảng hơn 660 ha, đất ở hơn 128 ha, đất lâm nghiệp
51 ha, diện tích sông suối ao hồ là 1,26 ha. Cả vùng hữu ngạn sông Cầu là dải
đồng bằng phù sa cổ, là rìa của đồng bằng tiếp giáp với núi. Quế Võ là vùng
thể hiện rõ rệt nhất tính trung du của đất Kinh Bắc, với độ dốc trung bình 10 –
15 độ[4]. Trải qua quá trình thiên tạo, Phù Lãng hiện nay là nơi có địa hình 19
cao thấp đan xen. Ngoài dãy Châu Sơn là dãy núi lớn nhất, là chỗ dựa và là
nền cho cảnh quan sinh thái vùng này, Phù Lãng còn có các ngọn núi Mang,
núi Cáng, núi Bờ Rùa, núi Chùa Vân. Xen kẽ với núi đồi là những bãi đất cao
trồng hoa màu, những cánh đồng trũng mưa về là ngập nước, không có bờ và
cả những cánh đồng cao đất pha cát, các cánh dộc trũng như dộc Đông Quan,
dộc Đồng Song, dộc Cổ Cò…. Do địa thế như vậy nên hầu hết các xóm làng
quanh vùng này thường xuyên rơi vào tình trạng “chớm nắng đã hạn, chớm mưa đã
úng”.
1.2.1.3. Khí hậu
Phù Lãng có môi trường tự nhiên và khí hậu trong lành của vùng có
nhiều sông ngòi, đồi núi, nằm trong khu vực khí hậu đồng bằng trung du Bắc
Bộ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa đông lạnh và khô (từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau) mùa nóng là mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10). Nhiệt độ
trung bình năm là 32,1 độ C, mùa hè trên 25 độ C, kéo dài 6 tháng, mùa
đông dài 3 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 20 độ C [4].
1.2.1.4. Lượng mưa và độ ẩm
Lượng mưa phân bố không đều trong năm. Mùa mưa tập trung vào
tháng 7, 8, 9, lượng mưa và số ngày mưa chiếm ưu thế (lượng mưa chiếm tới
làng là Phù Lãng (hay còn gọi là thôn Phấn Trung), Đoàn Kết, An Trạch,
Đồng Sài, Thủ Công, toàn xã có trên 7000 nhân khẩu, trong đó làng Phù Lãng
chiếm một nửa dân số toàn xã, mà đất canh tác chỉ có 457ha. Như vậy diện
tích đất canh tác là rất nhỏ so với số nhân khẩu.
1.2.2.3. Cơ cấu kinh tế
Ruộng ít mà địa hình lại phức tạp nên nghề nông nơi đây khó khăn hơn
những vùng khác. Theo một quy luật tất yếu, người dân Phù Lãng phải phát 21
triển nghề phụ để dựa vào đó mà sống. Nghề sản xuất gốm từ lâu đã trở thành
nguồn thu nhập chính của dân làng. Tuy rằng trên danh nghĩa chỉ có làng Phù
Lãng làm nghề gốm nhưng để làm được điều này thì cần nhiều nhân lực với
hàng loạt dịch vụ khác như mua bán, sơ chế nguyên vật liệu, chuyên chở, tiêu
thụ sản phẩm.v.v… Chính vì thế nghề gốm ở đây đã thu hút khá đông nhân
công của các làng xã lân cận tham gia.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng trong nông nghiệp
giảm từ 36,4% năm 2005, xuống còn 32,8% năm 2009, ước năm 2010 xuống
31,4%. Về trồng trọt, năng xuất lúa bình quân năm 2009 đạt 56 tạ/ha, tăng 9,64%
so với năm 2005. Tổng sản lượng lương thực năm 2009 đạt 640kg/người/năm, tăng
0,97% so với năm 2005. Giá trị nghành trồng trọt năm 2009 đạt 28 tỷ 811 triệu
đồng, đưa giá trị canh tác 45,3 triệu đồng/ha. Về chăn nuôi, do ảnh hưởng của dịch
bệnh và giá cả đầu vào tăng mạnh đã hạn chế nhân dân đầu tư nên chăn nuôi có xu
hướng giảm. Doanh thu ước tính từ chăn nuôi đạt khoảng 4 tỷ đồng. Về phát triển
trang trại, kinh tế trang trại gắn với nuôi trồng thủy sản đang được đầu tư mở rộng
với tổng diện tích 67ha, thu hoạch trên diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 50 triệu
đồng/ha, cao hơn cấy lúa 0,9%. Về lâm nghiệp, giữ ổn định diện tích rừng hiện có,
tập trung công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Thu hoạch từ
cây ăn quả, cây công nghiệp của vườn đồi là 280 triệu/năm. Về công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và xây dựng, năm 2009 đạt 25,8%, sản xuất gốm mỹ nghệ có
trong nền kinh tế quốc dân như là một nguồn lực, nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước mà còn có những giá trị lớn về văn hoá, xã hội. Mỗi làng nghề chính là
một địa chỉ văn hoá phản ánh nét văn hoá độc đáo của địa phương, là nơi hội
tụ kinh tế - văn hoá – xã hội có tính chất lịch sử, là một bộ phận không thể
tách rời cuộc sống cộng đồng. Những đặc sắc trong sản phẩm của làng nghề
khắc họa văn hóa địa phương rõ rệt, nó vừa duy trì và làm phong phú thêm di 23
sản văn hoá Việt Nam, vừa có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn
hóa nhân loại. Làng nghề có giá trị lớn trong đời sống văn hoá xã hội, là sự
hoà điệu giữa thiên nhiên – con người – văn hoá - nghề nghiệp, trong đó
không chỉ có sự giao tiếp với nhau mà còn bao hàm cả ý nghĩa như là cội
nguồn, quê hương của mỗi người từ thuở thơ ấu. Làng nghề truyền thống là
nơi gìn giữ và phát triển những bản sắc văn hoá của dân tộc bởi đây chính là
nơi ngưng tụ của ngàn năm văn vật, gìn giữ và phát huy được vốn quý tinh
thần do cha ông đã hun đúc truyền lại tự ngàn đời.
Phù Lãng là mảnh đất có bề dày văn hóa hàng trăm năm, có nghề gốm
vừa là nguồn sống chính của dân làng, vừa góp phần làm rạng rỡ tên tuổi diện
mạo một làng gốm xứ Kinh Bắc. Là ngôi làng lâu đời nên Phù Lãng có những
giá trị văn hoá riêng như phong tục tập quán, truyền thuyết tổ nghề, tín
ngưỡng, lễ hội, kiến trúc… cùng với cảnh quan của một làng quê trung du
Bắc Bộ núi non sông nước hữu tình, những đống củi chất cao ngất đẹp như
một bức tranh xếp đặt. Phù Lãng có nét đẹp của ngôi chùa Phúc Long Tự với
lối kiến trúc của riêng cư dân làm gốm, không u tịch cổ kính như bất kỳ ngôi
chùa nào của miền quê xứ Bắc bởi đã bị tàn phá sau chiến tranh, mà mang vẻ
đẹp hiện đại bởi các bức tranh gốm mỹ thuật gắn trên những bức tường xung
quanh chùa. Ngoài những công trình kiến trúc tôn giáo, Phù Lãng còn lưu giữ
những nếp nhà tranh, nhà mái ngói của làng quê mà không phải là những ngôi
biệt thự hay nhà cao tầng chót vót. Đây chính là yếu tố hấp dẫn khách du lịch