ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM HOÀNG CUNG
ĐƯỢC TỔ CHỨC Ở FESTIVAL HUẾ 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. LÊ THỊ KIM LIÊN
Sinh viên thực hiện : ĐOÀN THỊ MAI TRINH
Huế, tháng 05 năm 2014
Để hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này, em
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo, cô giáo
của Khoa Du lịch – Đại học Huế đã hết lòng giảng dạy,
trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo TS. Lê Thị Kim Liên - trưởng bộ môn Du lịch học -
Giáo viên hướng dẫn đã quan tâm, tận tình chỉ bảo,
động viên em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn
thành đề tài khóa luận.
Bên cạnh đó, nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của ban
lãnh đạo và các cá nhân của Công ty TNHH MTV Lữ
hành Hương Giangđã tạo điều kiện cho em thực tập,
điều tra, thu thập số liệu và các cán bộ của Trung tâm
Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Trung tâm Festival Huế tài
liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp đỡ,
động viên của toàn thể bạn bè, người thân trong suốt
quá trình làm khóa luận này.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng song khóa luận không thể
ở đó diện mạo nông thôn, đô thị được chỉnh trang, hoàn thiện sạch đẹp hơn, đời
sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Du lịch được coi là một ngành “công
nghiệp không khói”.Vai trò của ngành du lịch được đánh giá là rất quan trọng đối
với nền kinh tế của một quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của nó tại một số quốc gia
đã góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của họ. Theo các chuyên gia kinh tế
đánh giá thì du lịch là một loại hình xuất khẩu đặc biệt, sản phẩm và dịch vụ được
cung cấp cho người nước ngoài nhưng lại được tiêu thụ ngay tại nước sở tại và đem
lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia rất lớn. Chính vì thế, các nước trên thế giới rất
chú trọng đầu tư phát triển du lịch, nhằm thúc đấy kinh tế tiến lên.
Trong thời kỳ hội nhập thì ở Việt Nam ngành du lịch đóng vai trò quan trọng
trong cơ cấu nền kinh tế và đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập quốc dân
và bởi vậy nên du lịch đang được chú trọng và có những chính sách cũng như bước
phát triển để bắt kịp xu thế và nhu cầu thị trường du lịch biến Việt Nam trở thành
điểm đến hấp dẫn trong khu vực cũng như trên thế giới. Nói đến du lịch Việt Nam,
không thể không nói đến Cố đô Huế - kinh đô một thời của vương triều nhà
Nguyễn, thành phố của những di sản văn hóa gắn liền với lịch sử dân tộc, trung tâm
du lịch của miền trung với hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận từ
lâu đã là điểm dừng chân không thể thiếu của du khách quốc tế trong quá trình
khám phá, tìm hiểu vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Đến với mảnh đất di
sản này, du khách không chỉ được đắm mình trong không gian văn hóa, kiến trúc cổ
xưa mà còn được tham gia, trải nghiệm nhiều hoạt động thường ngày gắn liền với
cuộc sống bình dị của con người xứ Huế.
Xã hội luôn luôn phát triển và nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi, du
khách đến Huế đã quá quen thuộc với những chương trình du lịch văn hóa, du lịch
di sản, thưởng thức những món ăn cung đình hay nghe ca Huế trên sông Hương…
Để du lịch Huế phát triển hơn, thu hút được du khách trong và ngoài nước nhiều
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
hơn, Festival Huế đã được ra đời dưới sự cho phép của Chính phủ và sự phối hợp
giữa UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế và Đại sứ quán Pháp được tổ chức lần đầu tiên
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu phát triển du lịch trong chương trình Đêm Hoàng
Cung được tổ chức ở Festival Huế 2014.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Đặc điểm, lịch sử và tài nguyên văn hóa trong chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức ở Festival Huế 2014.
- Khách du lịch đến với chương trình Đêm Hoàng Cung được tổ chức trong dịp
Festival 2014.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
3.3.1. Thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp: năm 2008, năm 2010, năm 2012
- Thu thập số liệu sơ cấp: tháng 4 năm 2014
3.3.2. Không gian:
Nơi diễn ra chương trình Đêm Hoàng Cung trong dịp Festival Huế 2014: Đại
Nội Huế
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: thu thập từ phòng Kế hoạch tài chính
của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và phòng Văn thư của Trung tâm Festival
Huế. Đó là các báo cáo doanh thu du lịch của Huế qua các năm 2008 – 2013 và
doanh thu du lịch của Festival Huế qua các kỳ 2008 2010 2012 được cung cấp,
thông tin còn được thu thập từ những nguồn như sách báo, qua website của tỉnh
Thừa Thiên Huế.
* Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Điều tra, phỏng vấn du khách thông qua
bảng hỏi
* Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản thông qua việc phát
bảng hỏi ngẫu nhiên cho du khách khi đến tham gia chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức ở Festival Huế 2014 diễn ra tại Đại Nội, Huế vào ngày 15 và 19 tháng
theo nhóm khách Việt Nam, Châu Á, Châu Âu, Mỹ + Canada, Úc + New Zealand
và khác.
Bước 3:Sau khi phân tầng, trong từng tổ ta dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
giản để chọn các mẫu sẽ điều tra.
Bước 4: Tiến hành điều tra mẫu theo danh sách đã chọn.
- Thời gian điều tra: tháng 4, năm 2014.
- Phạm vi điều tra: tại Đại Nội Huế
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
- Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua đại lượng Cronbach’s Alpha
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi:
0,8 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 1 : Thang đo lường tốt.
0,7 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,8 : Thang đo có thể sử dụng được.
0,6 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,7 : Có thể sử dụng được trong trường hợp kháiniệm
đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu.
- Sử dụng kỹ thuật One – Way ANOVA (phân tích phương sai một yếu tố) đối với
các nhóm kiểm định có phương sai đồng đều (sig>0,05) để so sánh sự đánh giá của
các nhóm du khách có quốc tịch, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp phân tích so sánh:
So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối của các chi tiêu so sánh giữa các năm.
4.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS phiên
bản 16.0, cụ thể:
- Thống kê tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), trung bình (Mean)
- Mô tả (Desciptive)
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo Likert bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha.
- Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) để xem xét sự khác biệt
về ý kiến đánh giá của các khách hàng theo các nhân tố.
5. Cấu trúc nội dung của báo cáo khóa luận tốt nghiệp
1.1. Khái niệm về du lịch
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander, nhìn từ góc độ du khách thì:
khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa
mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế. Nhìn từ góc độ thay
đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển
tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước
khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Nhìn từ góc độ kinh tế: du lịch
là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí
nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên
cứu khoa học và các nhu cầu khác. Từ đó nhận thấy rằng, đối với những góc độ
khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm du lịch khác nhau. Sau đây là một số khái
niệm du lịch của một số tổ chức quốc tế và trong nước:
- Theo tổ chức Du lịch Thế giới (WTO): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt
động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm
hiểu, trải nghiệm hoặc mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích khác
nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống
định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng
là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường khác hẳn nơi định cư.”
- Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định.”
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến
một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ
bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ
yếu không phải là kiếm lời.Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động
kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến.
1.2. Khái quát về văn hóa
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Từ đó, ta rút ra rằng văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa
lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội
của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu
hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng
như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
1.2.2. Phân loại các thành tố văn hóa
Cũng giống như khái niệm văn hóa, hiện vẫn đang tồn tại rất nhiều cách phân
loại các thành tố của văn hóa. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do cố GS. Trần
Quốc Vượng chủ biên, văn hóa được chia thành các thành phần bao gồm: ngôn ngữ,
nghề thủ công; sân khấu tuồng, chèo, kịch; lễ hội; nghệ thuật âm thanh; phong tục tập
quán; kiến trúc; tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật tạo hình; lối sống; nhiếp ảnh, điện
ảnh; văn chương; mass-media; thông tin, tín hiệu.Như vậy, lễ hội nằm trong văn hóa,
gốc gác của lễ hội chính là văn hóa.Mục đích lớn nhất của du lịch lễ hội chính là đi
du lịch để tìm hiểu, khám phá văn hóa ở một quốc gia, vùng miền khác.
1.3. Du lịch lễ hội
1.3.1. Lễ hội
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng.“Lễ” là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần
linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản
thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ
thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của
cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững
mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng,
mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân khang, vật thịnh”
Lễ hội được nhìn nhận như một “bảo tàng sống” về đời sống cư dân văn hóa
bản địa.Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
1.4. Khách du lịch
Nếu xét trên góc độ thị trường thì khách du lịch chính là cầu thị trường, còn
các nhà kinh doanh du lịch là cung thị trường. Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có
cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về khách du lịch được đưa
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến
các vấn đề về du lịch. Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch:
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du
lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người
khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du
khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”.
Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách
du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc
hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Trong Luật Du lịch Việt Nam ban
hành năm 2005 thì định nghĩa về khách du lịch bao gồm khách du lịch quốc tế và
khách du lịch nội địa được trích dẫn ở điều 34 trang 33 như sau: “Khách du lịch
quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam
và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du
lịch” và “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”.
2. TỔNG QUAN VỀ FESTIVAL HUẾ
2.1. Festival du lịch
Festival du lịch được hiểu là một hoạt động văn hóa du lịch được tổ chức
thường kỳ, là ngày hội du lịch của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực,… nhằm
gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị, hội thảo… với hoạt động du lịch
nhằm giới thiệu sâu rộng tới người dân, khách du lịch trong và ngoài nước về tiềm
năng du lịch, đất nước, con người, địa phương, vùng, quốc gia hay khu vực đó; tạo
cơ hội kinh doanh hợp tác giữa các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch và giữa các
Festival Huế 2002 tiếp tục phát triển chủ đề “Khám phá nghệ thuật sống của
cố đô Huế” đi liền với mở rộng giao lưu quốc tế, diễn ra 12 ngày đêm và 1 tháng
trước ngày khai mạc được khởi động bằng Trại Sáng tác Điêu khắc Quốc tế “Ấn
tượng Huế - Việt Nam” với sự tham gia của 33 đoàn nghệ thuật tiêu biểu đến từ các
nước Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Lào,
Campuchia và các đoàn trong nước gồm 1554 nghệ sĩ, diễn viên, cán bộ kỹ thuật,
thu hút trên 1 triệu lượt người tham dự, 75.000 lượt khách du lịch, trong đó có
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
18.000 lượt quốc tế (tăng gấp 3 lần so với Festival Huế 2000). Festival Huế 2002 đã
tạo được tiếng vang lớn, mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, tạo tiền đề để xây dựng
Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam.
Festival Huế 2004 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”
diễn ra trong 9 ngày đêm gắn với 1 tháng khởi động của Trại Sáng tác Điêu khắc
Quốc tế “Ấn tượng Huế - Việt Nam”, Trại Điêu khắc Dân gian, Festival Thơ Huế
và nhiều hoạt động dạo đầu, đã quy tụ 15 đoàn nghệ thuật nước ngoài đến từ các
nước Pháp, Trung Quốc, Argentina, Úc, Ấn Độ, Đức, Mỹ; 25 đoàn nghệ thuật trong
nước với 1.300 diễn viên chuyên nghiệp, gần 2.000 diễn viên không chuyên và đội
ngũ cán bộ kỹ thuật từ nhiều lực lượng tham gia phục vụ Festival, thu hút 1,2 triệu
lượt người tham dự, 101.950 lượt khách du lịch, trong đó có 11.950 lượt khách
quốc tế. Đây là một lễ hội văn hóa du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế, giới thiệu
được những giá trị nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam, của Huế và nhiều quốc gia trên
thế giới, đồng thời là dịp tôn vinh Nhã nhạc Cung đình Huế - kiệt tác văn hóa phi
vật thể và truyền khẩu của nhân loại vừa được UNESCO công nhận, tiếp tục tạo ra
động lực thúc đẩy kinh tế du lịch và văn hóa phát triển, khẳng định lợi thế của một
thành phố Festival của Việt Nam.
Festival Huế 2006 với chủ đề “700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên
Huế, Di sản Văn hóa với Hội nhập và Phát triển” - quy tụ 1.440 nghệ sĩ, diễn viên
của 22 đoàn nghệ thuật trong nước (1171 diễn viên) và 22 đoàn nghệ thuật quốc tế
(269 diễn viên) đến từ các nước: Pháp, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản,
hơn 40 nhóm nghệ sĩ và đoàn nghệ thuật, đến nay đã khẳng định cụ thể 31 chương
trình từ 21 quốc gia với nhiều thể loại phong phú và hấp dẫn gồm: Ca Múa Nhạc,
Xiếc, Sân Khấu, Nghệ thuật đường phố, Nghệ thuật sắp đặt, Rối, Điện ảnh, Triển
lãm Các đoàn nghệ thuật quốc tế sẽ có những chương trình biểu diễn tại các sân
khấu ngoài phạm vi thành phố. Các đoàn nghệ thuật đường phố nổi tiếng sẽ tạo
không khí sôi động trong suốt thời gian diễn ra Festival.
Festival Huế lần thứ 7 – 2012 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và
phát triển – Nơi gặp gỡ các thành phố lịch sử”, điểm nhấn của năm Du lịch quốc gia
duyên hải Bắc Trung Bộ 2012 diễn ra từ ngày 7 đến 15/4/2012 đã thành công rực
rỡ. Trong suốt 9 ngày đêm, cả thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế náo nức
trong bầu không khí lễ hội với rất nhiều loại hình nghệ thuật tạo nên diện mạo mới,
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 21
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
sức sống mới của vùng dất Cố đô. Festival Huế 2012 đã hội tụ tinh hoa của hơn 65
đơn vị và nhóm nghệ thuật đa sắc màu từ các vùng, miền Việt Nam và quốc tế, với
trên 2.000 nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn, các nhạc sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh đến từ
mọi miền đất nước Việt Nam và của 27 nước bạn bè quốc tế (trong đó có 500 nghệ
sĩ quốc tế); hơn 3.000 diễn viên không chuyên tham gia trình diễn các chương trình
nghệ thuật, triễn lãm, nghệ thuật sắp đặt, lễ hội cộng đồng; thu hút hơn 2 triệu lượt
người tham gia các hoạt động của Festival; hơn 189.189 lượt khách lưu trú tại các
khách sạn, nhà nghỉ tăng 54% so với Festival Huế 2010, trong đó có 90.783 lượt
khách quốc tế, gấp hơn 3 lần so với năm ngoái và đa dạng hơn về quốc tịch (số
quốc tịch là 111 so với 2010 là 93).
3. NGUỒN GỐC CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM HOÀNG CUNG TRONG
FESTIVAL HUẾ
3.1. Đôi nét về chương trình Đêm Hoàng Cung
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển chương trình Đêm Hoàng Cung
3.1.1.1. Lịch sử hình thành Hoàng Cung
Năm 1802, vua Gia Long lập ra triều Nguyễn, định đô ở Phú Xuân, Huế trở
thành kinh đô của cả nước thống nhất từ Đồng Văn đến Cà Mau. Di sản kiến trúc
Phòng, lầu Tứ Phương Vô Sự, lầu Tịnh Minh…) đều đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của
nghệ thuật kiến trúc bên kia bán cầu. Hầu hết vật liệu kiến trúc là bê tông cốt thép.
3.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển chương trình Đêm Hoàng Cung
Công trình văn hóa Đại Nội được các triều vua trước để lại đến nay là điều
kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch văn hóa tại điểm đến Thừa Thiên Huế
và Đại Nội càng thu hút khách du lịch hơn khi được UNESCO công nhận là Di sản
văn hóa Thế giới vào năm 2003. Bên cạnh tài nguyên nghệ thuật kiến trúc sẵn có,
tài nguyên văn hóa bao gồm ẩm thực hay lễ hội cũng có một sức hút không kém
phần quan trọng đối với du khách.Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cổ,
các hoạt động trong Hoàng Cung dưới triều đại nhà Nguyễn được tái hiện và phục
dựng lần đầu tiên vào năm 2006 trong dịp Festival Huế 2006 với tên gọi “Đêm
Hoàng Cung”. Đây là một chương trình nghệ thuật gắn với lễ hội nhằm tái hiện
những vẻ đẹp lung linh của Đại Nội về đêm với quan binh, voi ngựa, thái giám, thị
nữ và những chân dung xưa gắn với các công trình kiến trúc.Tái hiện một cách tổng
thể các hoạt động, các sinh hoạt văn hóa của vua, cung tần mỹ nữ, hoàng tử công
chúa… tại các cung điện trong Hoàng Thành và Tử Cấm Thành xưa dưới triều đại
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 23
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
nhà Nguyễn. Sau đó, Đêm Hoàng Cung tại Đại Nội Huế được Trung tâm Bảo tồn
Di tích cố đô tổ chức định kỳ hằng tháng nhưng không thu hút được đông đảo
khách du lịch nên sau này chỉ tổ chức Lễ hội vào đúng dịp Festival Huế.
3.1.2. Mục đích của Đêm Hoàng Cung
Tiếp nối những giá trị văn hóa đời trước để lại, Đêm Hoàng Cung xây dựng
nên một môi trường diễn xướng nhằm mô phỏng lại các hoạt động sinh hoạt văn
hóa trong cung đình.Đây là chương trình gắn nghệ thuật với lễ hội được tổ chức với
mục đích tái hiện vẻ đẹp lung linh huyền ảo của Đại Nội về đêm và mục đích quảng
bá nghệ thuậtnhững yếu tố văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc và hỗ trợ
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khai thác các sản phẩm văn hóa truyền thống để
đáp ứng nhu cầu thị hiếu khách du lịch trong nước và quốc tế. Đồng thời, Đêm
Hoàng Cung được tổ chức với mục đích bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị
loại nhạc khác với tên gọi riêng, phần lớn mang tính giải trí như Yến nhạc, Nữ
nhạc. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử đến triều đại Nguyễn (1802 – 1945) Nhã
nhạc mới lại được sáng tạo và thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện và đúng chức
năng nhất.
Căn cứ vào các tư liệu được ghi lại, Nhã nhạc chỉ bao gồm một liên khúc
gồm 10 bài, được gọi bằng bốn tên gọi khác nhau:
- Thập thủ liên hoàn vì khi trình diễn, người ta chơi liền một mạch 10 bài.
- Mười bài Ngự vì đây là những bài trình diễn cho vua.
- Mười bài Tầu vì cho rằng các bài nhạc này có nguồn gốc Trung Hoa.
- Mười bản tấu được nói sai thành Mười bản tầu vì trong tiếng Việt, từ “tấu”
và “tầu” có cùng âm tiết “âu” và chỉ khác thanh nên dễ nhầm. Và dù được gọi bằng
tên gì thì khi trình diễn dàn nhạc cũng chơi liễn một mạch cả 10 bài theo thứ tự sau
đây:Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình bản, Tây Mai, Kim
Tiền, Xuân Phong,Long Hổ, Tấu mã.
Cơ cấu dàn nhạc cung đình năm 1919 mà GS. TS. Trần Văn Khê mô tả, bao
gồm: Một đàn nguyệt, Một đàn tam, Một đàn tỳ bà, Một đàn nhị, Một xênh tiền,
Một tam âm la, Một phách, Một trống mảng, Hai sáo tre.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 25