Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của Hà Nội cho thị trường khách du lịch Pháp - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****************
TRẦN THỊ YẾN ANH
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ CỦA
HÀ NỘI CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HÀ NÔI, 2013 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
9

MỞ ĐẦU
10

1. Lý do chọn đề tài 10
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4. Phương pháp nghiên cứu. 12
5. Những đóng góp chính của luận văn: 12
6. Kết cấu của luận văn. 13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
14

1.1. Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù. 14
1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù. 14
1.1.2. Đặc điểm sản phẩm du lịch và các yếu tố cấu thành. 17
1.1.3. Vị trí và vai trò của các đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản phẩm
du lịch. 18
1.2. Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù. 19
1.2.1. Khái niệm phát triển sản phẩm du lịch. 19
1.2.2. Các yêu cầu và nguyên tắc chung đối với việc phát triển sản phẩm du lịch. 20
1.2.3. Phương thức phát triển sản phẩm du lịch đặc thù 22
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của sản phẩm du lịch đặc thù 23
1.3.1. Đối với sản phẩm du lịch nói chung 23
1.3.2. Đối với sản phẩm du lịch đặc thù 26
1.4. Quảng bá sản phẩm du lịch. 27
Tiểu kết chƣơng 1
28

Pháp. 77
3.3.1. Hiện trạng khai thác tài nguyên. 77
3.3.2. Hiện trạng phát triển các tuyến, điểm và không gian du lịch 78
3.3.3. Hiện trạng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch. 79
3.3.4. Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm
du lịch Hà Nội cho khách du lịch Pháp. 89
3.3.5. Đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch Hà
Nội cho khách du lịch Pháp. 93 7
Tiểu kết chương 3
95

CHƢƠNG 4: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ
CỦA HÀ NỘI CHO THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH PHÁP
.
96

4.1. Định hƣớng xây dựng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của Hà Nội
.
96
4.1.1. Định hướng chiến lược thị trường khách du lịch Pháp. 96
4.1.2. Định vị thương hiệu hình ảnh đặc trưng cho sản phẩm du lịch. 97
4.1.3. Định hướng khai thác tài nguyên du lịch 97
4.1.4 Định hướng phát triển không gian và các loại hình du lịch chính 98
4.1.5. Định hướng phát triển các tuyến, điểm du lịch của Hà Nội. 98
4.1.6. Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch của Hà Nội. 99
4.2. Một số sản phẩm đề xuất 99
4.2.1. Du lịch tìm hiểu về nét văn hoá Pháp trong lòng Hà Nội. 99

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Chi tiêu bình quân một lượt khách du lịch Pháp và khách du lịch từ một số thị
trường khác ở châu Âu theo khoản chi ngoài chương trình du lịch (Đối với khách đi theo
chương trình du lịch):
39

Bảng 2.2: Chi tiêu bình quân một lượt khách du lịch Pháp và khách du lịch từ một số thị
trường khác ở châu Âu theo khoản chi (Đối với khách tự sắp xếp đi):
40

Bảng 2.3: Cơ cấu khách du lịch Pháp và khách đến từ một số thị trường Châu Âu khác
chia theo hình thức tổ chức
43

Bảng 2.4: Loại hình cơ sở lưu trú khách Pháp lựa chọn sử dụng
50

Bảng 2.5: Tiêu chí tác động đến việc lựa chọn địa điểm du lịch của khách du lịch Pháp
và khách du lịch đến từ một số nước châu Âu khác
55

Bảng 3.1: Số lượng khách Pháp đến Việt Nam và Hà Nội qua các năm từ 2009 - 2012
71

Bảng 3.2: Tỷ lệ khách Pháp trong tổng số khách quốc tế đến Hà Nội
74

Bảng 3.3: Dự báo khách Pháp vào Hà Nội theo tốc độ tăng trưởng từng giai đoạn
76


Biểu đồ 2.3: Cơ cấu theo nghề nghiệp khách Pháp đến Hà Nội
40

Biểu đồ 2.4: Mức giá cả của Hà Nội theo đánh giá của du khách Pháp
45

Biểu đồ 2.5: Các kênh thông tin tiếp cận Hà Nội của khách Pháp
46

Biểu đồ 2.6: Đặc điểm chuyến đi tới Hà Nội của khách du lịch Pháp
48

Biểu đồ 2.7: Hình thức chuyến đi tới Hà Nội của khách du lịch Pháp
48

Biểu đồ 2.8: Phân nhóm khách Pháp theo thời gian lưu trú tại Hà Nội
49

Biểu đồ 2.9: Phân nhóm khách Pháp tới Hà Nội theo mục đích chuyến đi
50

Biểu đồ 2.10: Cơ cấu khách Pháp đến Hà Nội chia theo số lần
51

Biểu đồ 2.11: Ý định quay trở lại Hà Nội của Du khách Pháp
52

Biểu đồ 2.12: Đánh giá chất lượng dịch vụ hàng không của du khách Pháp
53

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ khách Pháp đến Hà Nội so với tổng lượng khách quốc tế từ năm 2009
đến 2012
79
10

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong con mắt người Pháp là đất nước có nền văn hóa, lịch sử
lâu đời, nền chính trị ổn định, phong cảnh đẹp, con người thân thiện, giá cả
dịch vụ hấp dẫn…Đây là lý do để nhiều năm qua Pháp luôn nằm trong danh
sách 10 thị trường gửi khách quốc tế hàng đầu và đứng đầu ở khu vực Châu
Âu về gửi khách tới Việt Nam. Tuy nhiên, du khách Pháp nổi tiếng với chi
tiêu rất chặt chẽ, luôn đòi hòi dịch vụ phải đạt chất lượng cao. Trong khi đó
dịch vụ du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng lại còn nhiều
hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, sản phẩm du lịch còn khá nghèo nàn và dường
như chưa khai thác sâu được những giá trị về văn hóa, nên hầu như khách
Pháp thường đến một lần mà không để lại nhiều ấn tượng, rồi ít khi trở lại. Vì
thế, dù có cơ hội để khai thác khách Pháp, nhưng các doanh nghiệp lữ hành
rất vất vả để giữ chân khách Pháp lâu hơn.
Là thủ đô của nước Việt Nam, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá
của cả nước, Hà Nội - Thủ đô nghìn năm văn hiến chính là nơi hội tụ những
gì tiêu biểu nhất của cả nước. Với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng
đặc biệt là nguồn tài nguyên nhân văn độc đáo và hấp dẫn, có giá trị cao về du
lịch, Hà Nội có đủ những điều kiện và khả năng vượt trội để phát triển du
lịch. Trong những năm qua, du lịch Hà Nội đã phát triển với tốc độ cao, đóng
góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Tuy nhiên,sự phát
triển trên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, tài nguyên và vị thế vốn có của

cầu của khách du lịch Pháp.
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Khi nói đến sản phẩm du lịch thường
có hai cách hiểu đó là: sản phẩm du lịch của một điểm đến và sản phẩm du 12
lịch của hãng lữ hành. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu về sản phẩm du lịch của một điểm đến.
Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm
vi Hà Nội cũ.
Phạm vi về thời gian: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu hiện trạng của
du lịch Hà Nội trong khoảng 5 năm trở lại đây trong việc thu hút khách du
lịch Pháp.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra bảng hỏi đối với khách du lịch: Thông qua các
bảng hỏi điều tra sử dụng các câu hỏi đóng có lựa chọn để đánh giá về sự
mong đợi của du khách đối với sản phẩm du lịch và những câu hỏi mở để thu
thập các ý kiến góp ý để phát triển sản phẩm du lịch của Hà Nội phục vụ
khách du lịch Pháp. Mô tả chi tiết về phương pháp (Phụ lục 1).
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý,
phân tích các kết quả điều tra thu được.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn và xin ý kiến, nhận định từ các
nhà quản lý du lịch, hướng dẫn viên du lịch, nhân viên trong các doanh
nghiệp đang phục vụ du khách Pháp tại Hà Nội về thực trạng của sản
phẩm du lịch và các giải pháp để góp phần cải thiện những tồn tại.
5. Những đóng góp chính của luận văn:
- Tổng hợp cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù
và phát triển sản phẩm du lịch đặc thù.
- Nghiên cứu tổng hợp đặc điểm, thị hiếu và nhu cầu của khách du lịch

1.1. Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù.
1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù.
1.1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch.
Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du
lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc
xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có
chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó. Tuy nhiên,
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang tính chất liên ngành, liên vùng
và xã hội hóa cao, do vậy khái niệm về sản phẩm du lịch khá trừu tượng và
còn nhiều quan điểm chưa thống nhất. Các khái niệm khác nhau một phần là
do quan điểm của các nhà nghiên cứu, phần khác là do góc độ tiếp cận
Trong từ điển thuật ngữ du hành và du lịch, S.Medlik[17, tr.8]đưa ra
khái niệm:
“Sản phẩm du lịch, theo nghĩa hẹp, được hiểu là bất kỳ thứ gì du khách
mua, theo nghĩa rộng hơn, đó là một kết hợp giữa những gì du khách làm và
những cơ sở giải trí, tham quan, những phương tiện và dịch vụ mà du khách
sử dụng để làm cho nó thành hiện thực”.
Theo Michael M.Coltman [4, tr.6] : “Sản phẩm du lịch là một tổng thể
bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” tính hữu hình
của nó được thể hiện cụ thể như thức ăn, đồ uống, các sản phẩm lưu
niệm còn tính vô hình của nó được thể hiện đó là các loại hình dịch vụ du
lịch, các dịch vụ bổ trợ khác.
Robert Christie Mill [16, tr.12] lại cho rằng sản phẩm du lịch có bốn
chiều định vị: Điểm hấp dẫn du lịch; Các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Vận
chuyển du lịch; Lòng hiếu khách. 15
Điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005đưa ra khái niệm:
“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của

thể và phi vật thể chứa đựng trong không gian của một điểm đến, kết hợp
với tập hợp các dịch vụ và những điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu
và đem lại cho du khách những ấn tượng và cảm xúc đặc trưng nhất về
một điểm đến.
1.1.1.2. Khái niệm sản phẩm du lịch đặc thù.
Xây dựng thương hiệu điểm đến là một yêu cầu đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển du lịch. Tuy nhiên, để một điểm đến có thương hiệu
thì cần phải có những sản phẩm đặc thù. Mỗi điểm đến cần căn cứ vào tiềm
năng, điều kiện cụ thể của mình để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù
phục vụ cho từng thị trường khách.
Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 và tầm
nhìn đến năm 2020 đã xác định “Phát triển du lịch bền vững, theo định hướng
du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục,
góp phần tích cực trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội,
bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng
cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”. Tuy nhiên, trong đánh
giá kết quả thực hiện Chiến lược Phát triển Du lịch giai đoạn 2001 - 2010 của
Tổng cục Du lịch năm 2011 đã chỉ ra rằng hiện nay chúng ta vẫn chưa có sản
phẩm du lịch đặc thù mà đối với du lịch, sự nổi bật và khác biệt là rất quan
trọng. Vậy sản phẩm du lịch đặc thù là gì?
Điều đầu tiên cần phải khẳng định sản phẩm du lịch đặc thù trước hết là
sản phẩm du lịch của một điểm đến. Theo Phạm Trung Lương[20, tr.1],“sản
phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có được yếu tố hấp dẫn, độc đáo,
duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân
văn) cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch; với những dịch vụ không chỉ làm 17
thỏa mãn nhu cầu/mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính
độc đáo và sáng tạo”.

việc xây dựng thương hiệu và công tác thông tin, tuyên truyền cho sản phẩm
du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc bán các sản phẩm du lịch.
+ Tính thời vụ:Hoạt động du lịch là hoạt động mang tính thời vụ rõ
ràng. Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ kinh doanh, mà tại
đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch.Tính thời vụ trong du lịch
biểu hiện ở hai mặt đó là: Tính mùa vụ và tính thời điểm. Tính mùa vụ được
biểu hiện ở những loại hình theo mùa vụ như: Du lịch nghỉ biển (vào mùa hè);
nghỉ núi, trượt tuyết (vào mùa đông). Tính thời điểm thông thường liên quan
đến thời gian tổ chức các sự kiện du lịch hoặc các sự kiện có tác động đến du
lịch. Tính thời vụ có tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiêp. Do vậy, để khắc phục tính thời vụ trong kinh doanh du lịch cần tạo ra
nhiều dịch vụ bổ sung hoặc những giá trị gia tăng khác.
+ Tính không thể dự trữ:Là một loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du
lịch có tính chất không thể dự trữ như sản phẩm vật chất nói chung. Do sản
phẩm du lịch không tồn tại quá trình “sản xuất” độc lập, kết quả “sản xuất” lại
không biểu hiện bằng hiện vật cụ thể nêngiá trị của nó được chuyển dịch từng
bước trong quá trình mỗi lần tiêu thụ sản phẩm.Tính không thể dự trữ của sản
phẩm du lịch cho thấy trong việc sản xuất sản phẩm du lịch và thực hiện giá
trị phải lấy việc mua thực tế của du khách làm tiền đề.
+ Tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu thụ:Phần lớn quá trình tạo ra
và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Do
vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn. Với đặc
tính này, người mua không thể kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm du lịch 19
trước khi quyết định mua và tiêu thụ sản phẩm du lịch. Họ chỉ có thể đánh giá
chất lượng chính xác chỉ sau khi đã tiêu dùng sản phẩm. Điều này đặt ra yêu
cầu đối với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch là phải thường xuyên nghiên
cứu, tiếp nhận những đánh giá của khách đối với sản phẩm du lịch. Đấy là

CỐT LÕI
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Các d/v khác phục vụ khách DL

Hàng hoá tiêu dùng, đồ lưu niệm

Dịch vụ lưu trú du lịch
Dịch vụ vận chuyển khách du lịch

SẢN PHẨM DU LỊCH
Dịch vụ vui chơi giải trí

Các hiện tượng, sự kiện TN&XH
Dịch vụ ăn uống
BỔ SUNG
CƠ SỞ HÌNH THÀNH
Tài nguyên du lịch nhân văn
Cơ sở hạ tầng du lịch
Cơ sở vật chất du lịch
Môi trường không gian cảnh quan
Môi trường kinh tế-văn hóa xã hội
hội
Các yếu tố bổ trợ khác 21
Phần cốt lõi của sản phẩm: Là tài nguyên du lịch của điểm đến, bao

tổng thể của một điểm đến. Yếu tố dịch vụ du lịch có khả năng tăng giá trị của
sản phẩm du lịch lên gấp nhiều lần so với giá trị thực của nó. Trong thị trường
du lịch thì đây chính là yếu tố có ảnh hưởng nhiều tới khả năng cạnh tranh và
có tính quyết định tới việc quay trở lại tiêu dùng sản phẩm du lịch của du
khách.
1.1.3. Vị trí và vai trò của các đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng
sản phẩm du lịch.
Các đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản phẩm du lịch thuộc
nhiều cấp ngành khác nhau. Mỗi đối tượng có vị trí, vai trò khác nhau trong
quá trình xây dựng sản phẩm và những mong muốn khác nhau về lợi ích đối
với sản phẩm du lịch.
+ Các nhà quản lý du lịch ở trung ương và địa phương
Giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển, sản phẩm du lịch chỉ là một
yếu tố phi vật chất tồn tại dưới dạng một công trình nghiên cứu hay một dự án
qui hoạch được xây dựng bởi ý tưởng của các nhà quản lý và hoạch định.
Sản phẩm du lịch ở giai đoạn này có thể gọi là sản phẩm du lịch vĩ mô
hay sản phẩm du lịch tổng thể - mang tính chiến lược, nó là công cụ để giúp
các nhà quản lý kiểm soát được các hoạt động khai thác tài nguyên và các
hoạt động dịch vụ về loại hình, qui mô, hình thức, chất lượng, giá cả, độ an
toàn, mức độ tác động đến tài nguyên môi trường để đảm bảo sự phát triển
bền vững về nhiều mặt.
+ Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và cộng đồng địa phương
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phát triển sản phẩm du lịch là giai
đoạn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hay dân cư địa phương trực tiếp tham
gia vào quá trình khai thác tài nguyên du lịch để xây dựng các loại hình dịch
vụ - tức là các sản phẩm du lịch đơn lẻ (sản phẩm du lịch vi mô). 23
Bên cạnh các doanh nghiệp, cộng đồng địa phương vừa là bộ phận cấu

dạng về khách sạn và các cơ sở lưu trú khác, nhà hàng và các dịch vụ, hệ
thống vận chuyển nội địa, và các dịch vụ liên quan khác. Phải huy động và
phát triển được tất cả các loại hình nghệ thuật đương đại và các hoạt động văn
hóa.
1.2.2. Các yêu cầu và nguyên tắc chung đối với việc phát triển sản phẩm du
lịch.
Trên cơ sở giải quyết hài hoà mối quan hệ biện chứng giữa nhu cầu của
thị trường khách du lịch và khả năng cung cấp sản phẩm du lịch của điểm
đến, có thể xác định được các yêu cầu và nguyên tắc sau đối với việc xây
dựng và phát triển sản phẩm du lịch.
*Các yêu cầu và nguyên tắc đối với việc xây dựng, phát triển sản phẩm
du lịch tổng thể:
Yêu cầu chủ đạo và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sản
phẩm du lịch tổng thể là phát triển bền vững: thỏa mãn các nhu cầu du lịch
của thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội lớn cho điểm đến mà không
làm suy giảm quá nhiều chất lượng của tài nguyên và môi trường trong tương
lai.
Để đảm bảo được yêu cầu này phát triển sản phẩm phải tuân thủ
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc phát triển hệ thống: Sản phẩm phải được phát triển một
cách hệ thống và đồng bộ, đúng với chức năng được qui định trong hệ thống.
Tránh sự phát triển manh mún, trùng lặp ảnh hưởng đến sức hấp dẫn tổng thể
và sự bền vững về cấu trúc.
- Nguyên tắc kinh tế thị trường: thể hiện ở các khía cạnh sau: 25
+ Sản phẩm phải có nét đặc thù riêng biệt để tạo ra thượng hiệu và sức
cạnh tranh lớn trong thị trường khu vực.
+ Sản phẩm phải đáp ứng được toàn diện các nhu cầu đa dạng của thị

từng đối tượng thị trường khách.
+ Dịch vụ vui chơi giải trí: ưu tiên đầu tư các loại hình vui chơi giải trí
gắn với việc khai thác đặc thù của tài nguyên du lịch để tạo ra nét đặc trưng
riêng biệt. Vị trí, qui mô công trình phải hài hòa với cảnh quan và không vượt
quá khả năng chịu tải của môi trường.
+ Dịch vụ ăn uống: Ngoài tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng thực
phẩm, các dịch vụ ăn uống cần phải thông qua hoạt động của mình để giới
thiệu với du khách về phong tục, tập quán và văn hóa ẩm thực của địa
phương.
+ Dịch vụ hàng hóa: Phù hợp với nhu cầu của khách về nội dung, chất
lượng, thẩm mỹ. Hàng hóa lưu niệm phải mang đậm nét đặc trưng bản địa mà
các địa phương khác không có.
1.2.3. Phương thức phát triển sản phẩm du lịch đặc thù
Với những thay đổi nhanh chóng về nhu cầu, thị hiếu của khách du
lịch, cạnh tranh thị trường , một điểm đến khổng thể chỉ dựa vào những sản
phẩm hiện có mà phải phát triển hệ thống những sản phẩm du lịch mới vừa
phù hợp với sự phát triển của điểm đến vừa bảo tồn được những giá trị tự
nhiên, văn hoá của điểm đến. Những sản phẩm này phải mang được những
giá trị đặc trưng, cốt lõi của điểm đến đó. Để phát triển một sản phẩm du lịch
đặc thù của một điểm đến có những phương thức sau:
+ Cải tiến sản phẩm du lịch đã có
Dựa vào những sản phẩm du lịch đang khai thác, điểm đến cần nâng
cao chất lượng của sản phẩm du lịch hiện có, bổ sung những giá trị gia tăng 27
về dịch vụ hoặc giảm chi phí ở một khâu nào đó trong sản phẩm du lịch, hoặc
định vị lại thị trường cho sản phẩm du lịch đó sao cho phù hợp với khách
hàng mục tiêu mà vẫn đảm bảo được tính đặc thù.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status