Thực trạng và giải pháp phát triển đội ngũ lao động tại các khách sạn thuộc Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
~~~~~~~~~~~~ PHẠM THỊ THU HIỀN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG TẠI CÁC
KHÁCH SẠN THUỘC CÔNG TY CỔ
PHẦN DU LỊCH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2012-2015.



CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH

(CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Phạm Lê Thảo HÀ NỘI - 20131
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu nghiên cứu 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Cấu trúc luận văn 8
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG
TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 9

2.3. Các hoạt động phát triển đội ngũ lao động công ty đã thực hiện 55
2.3.1. Xây dựng kế hoạch tuyển dụng và sử dụng lao động hàng năm 56
2.3.2. Công tác bố trí, sử dụng lao động 57
2.3.3. Xây dựng, thực hiện quy chế quản lý lao động, tiền lương, thưởng và
an sinh xã hội 60
2.3.4. Đào tạo, phát triển đội ngũ lao động 63
2.4. Đánh giá chung về công tác phát triển đội ngũ lao động tại các khách
sạn thuộc Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh 64
2.4.1. Về thực trạng đội ngũ lao động 64
2.4.2. Về các hoạt động phát triển đội ngũ lao động 65
Tiểu kết chƣơng 2 66
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG TẠI CÁC
KHÁCH SẠN THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2012 - 2015 67
3.1. CÁC CĂN Cứ Đề XUấT GIảI PHÁP 67
3.1.1. Tình hình và xu thế phát triển du lịch 67
3.1.2. Định hướng chiến lược phát triển của Công ty CP Du lịch Quảng
Ninh giai đoạn 2012 – 2015 72
3.2. Các giải pháp phát triển đội ngũ lao động 74
3.2.1. Xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển đội ngũ lao động 74
3.2.2. Làm tốt công tác tuyển chọn lao động 80 3
3.2.3. Giải pháp về đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ lao động 83
3.2.4. Giải pháp tạo động lực cho người lao động 86
Tiểu kết chƣơng 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC

5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CP
Cổ phần
DLQN
Du lịch Quảng Ninh
T số
Tổng số
CCNV
Chứng chỉ nghiệp vụ
LĐPT
Lao động phổ thông
DT
Doanh thu
DTDVBX
Doanh thu dịch vụ bổ sung
ĐVT
Đơn vị tính


Quảng Ninh, đồng thời mở ra vận hội mới thu hút khách du lịch và các nhà đầu
tư trong nước và quốc tế đến với Quảng Ninh.
Giai đoạn 2006 - 2011 du lịch Quảng Ninh có tốc độ tăng trưởng bình
quân 15%. Cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư, nâng cấp. Nhiều sản phẩm du
lịch chất lượng cao ở các loại hình cơ sở lưu trú, tàu thuyền vận chuyển khách
thăm Vịnh, dịch vụ vui chơi giải trí,…được đưa vào khai thác, góp phần tạo nên
diện mạo mới cho du lịch Quảng Ninh. Đến năm 2011 có 832 cơ sở lưu trú, 473
tàu du lịch trên vịnh Hạ Long được xếp hạng, 25 doanh nghiệp lữ hành, 20 nhà
hàng và điểm mua sắm được cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du
lịch, thu hút khoảng 60 ngàn lao động trực tiếp và gián tiếp.
Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh tiền thân là doanh nghiệp trực thuộc
Tổng cục Du lịch, Trụ sở và các đơn vị trực thuộc Công ty đều tọa lạc ngay trên bờ 7
Vịnh Hạ Long. Cùng hoà nhịp với sự phát triển của ngành du lịch, những năm qua
Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh (trước năm 2007 là doanh nghiệp nhà nước)
cũng đã duy trì được tốc độ phát triển năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, với
đặc thù là doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ năm 1960 đến nay đã đươc 52
năm. Trải qua nhiều năm hoạt động kinh doanh theo cơ chế bao cấp, phục vụ nhiệm
vụ chính trị do cơ quan chủ quản giao đã phần nào hạn chế tính năng động, nhạy
bén theo cơ chế thị trường. Mặc dù các khách sạn và cơ sở vật chất kỹ thuật khác
hàng năm đều được quan tâm sửa chữa nâng cấp; đội ngũ lao động được tuyển dụng
mới và bồi dưỡng nâng cao tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ. Song, nhìn chung đến
nay các khách sạn đã xuống cấp và lạc hậu so với những doanh nghiệp mới đầu tư;
phong cách làm việc của một bộ phận không nhỏ trong lực lượng lao động còn ảnh
hưởng bởi tư tưởng bao cấp.
Hoạt động kinh doanh du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tiềm năng du
lịch, chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, cơ chế, chính sách của Nhà
nước, tình hình an ninh, Chính trị, Đặc biệt, du lịch là một ngành kinh doanh dịch

- Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu đội ngũ lao động tại các khách sạn
thuộc Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh trong khoảng thời gian từ năm 2007
đến năm 2011.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, và xử lý tài liệu, số liệu
- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực địa
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của Luận văn được chia
thành ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp phát triển đội ngũ lao
động trong kinh doanh khách sạn
Chương 2. Thực trạng đội ngũ lao động tại các khách sạn thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2007 – 2011
Chương 3. Giải pháp phát triển đội ngũ lao động tại các khách sạn thuộc
Công ty Cổ phần Du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015 9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN

1.1. Kinh doanh khách sạn
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khách sạn
Để đưa ra một định nghĩa về khách sạn, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử ra
đời và phát triển của khách sạn để từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về khái niệm
này. Thuật ngữ “Hotel” – Khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp vào thời trung cổ,

ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại
qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch” [10,tr 43]
Theo thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số
92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Du lịch về lưu trú [2, tr 2] thi khách sạn (Hotel)
là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất
lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách lưu
trú và sử dụng dịch vụ, bao gồm các loại sau:
Khách sạn thành phố (City hotel) là khách sạn được xây dựng tại các đô
thị, chủ yếu phục vụ khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch;
Khách sạn nghỉ dưỡng (hotel resort) là khách sạn được xây dựng thành
khối hoặc thành quần thể các biệt thự, căn hộ, băng- ga-lâu (bungalow) ở khu
vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cẩu nghỉ dưỡng, giải trí, tham
quan của khách du lịch;
Khách sạn nổi (floating hotel) là khách sạn di chuyển hoặc neo đậu
trên mặt nước;
Khách sạn bên đường (motel) là khách sạn được xây dựng gần đường giao
thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu bảo dưỡng, sửa chữa phượng tiện vận
chuyển và cung cấp dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch. [ 2, tr 2]
1.1.1.2. Kinh doanh khách sạn
Ban đầu, kinh doanh khách sạn chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm
đảm bảo chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền. Sau đó cùng với sự phát triển 11
của nền kinh tế, đời sống vật chất của con người ngày càng được cải thiện, số
người đi du lịch ngày càng tăng và những đòi hỏi thỏa mãn nhiều nhu cầu của
khách ở mức cao hơn. Theo đó hoạt động du lịch ngày càng phát triển, sự cạnh
tranh giữa các khách sạn nhằm thu hút khách ngày càng nhiều, nhất là khách có

bữa tiệc cưới, ). Như vậy, khách của khách sạn là người tiêu dùng sản phẩm
của khách sạn không giới hạn bởi mục đích, thời gian và không gian tiêu dùng
Có nhiều tiêu chí để phân loại khách của khách sạn. Có thể nêu ra một số
tiêu chí mang tính phổ biến và có ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu thị
trường khách của khách sạn như sau:
Căn cứ vào tính chất tiêu dùng và nguồn gốc của khách: Theo tiêu chí này
bao gồm hai loại khách:
- Khách là người địa phương bao gồm tất cả những người có nơi cư trú
thường xuyên tại địa phương nơi xây dựng khách sạn. Loại khách này thường
tiêu dùng các sản phẩm ăn uống và dịch vụ bổ sung (hội họp, giải trí) là chính.
- Khách không phải là người địa phương bao gồm tất cả những khách từ
địa phương khác trong phạm vi quốc gia và khách đến từ các quốc gia khác. Loại
khách này tiêu dùng hầu hết các sản phẩm của khách sạn như dịch vụ buồng ngủ,
dịch vụ ăn uống, dịch vụ bổ sung, giải trí.
Căn cứ vào mục đích của chuyến đi của khách: Theo tiêu chí này, bao
gồm bốn loại khách:
- Khách là người thực hiện chuyến đi với mục đích chính là để nghỉ ngơi
thư giãn - loại khách này còn gọi là khách du lịch thuần túy.
- Khách là người thực hiện chuyến đi với mục đích chính là công vụ: Đi
công tác, đi để tham dự vào các hội nghị, hội thảo hoặc hội chợ; đi để nghiên cứu
thị trường, để tìm kiếm cơ hội đầu tư, tìm đối tác làm ăn, ký hợp đồng.
- Khách là người thực hiện chuyến đi với mục đích chính là thăm người
thân, giải quyết các mối quan hệ gia đình và xã hội.
- Khách là người thực hiện chuyến đi với các mục đích khác như tham dự
vào các sự kiện thể thao, đi vì mục đích chữa bệnh, học tập, nghiên cứu
Căn cứ vào hình thức tổ chức tiêu dùng của khách bao gồm hai loại:
- Khách tiêu dùng sản phẩm của khách sạn thông qua sự giúp đỡ của các
tổ chức trung gian. Những khách này thường đăng ký buồng bởi các đại lý lữ 14
- Khách sạn ven đường được xây dựng ở ven dọc các đường quốc lộ nhằm
phục vụ các đối tượng khách đi lại trên các tuyến đường quốc lộ sử dụng phượng
tiện vận chuyển là ôtô và mô tô.
- Khách sạn sân bay được xây dựng ở gần các sân bay quốc tế. Khách của
khách sạn này là hành khách của các hãng hàng không dừng chân quá cảnh tại các
sân bay quốc tế do lịch trình bắt buộc hoặc vì bất kỳ một lý do đột xuất nào khác.
1.1.2.2. Phân loại theo mức độ cung cấp dịch vụ
Theo mức độ cung cấp dịch vụ, khách sạn được phân thành bốn loại:
Khách sạn sang trọng, khách sạn với dịch vụ đầy đủ, khách sạn cung cấp số
lượng hạn chế dịch vụ, khách sạn thứ hạng thấp.
- Khách sạn sang trọng là khách sạn có thứ hạng cao nhất, tương ứng với
khách sạn 5 sao ở Việt Nam. Là khách sạn quy mô lớn, được trang bị bởi những
trang thiết bị tiện nghi đắt tiền, sang trọng, trang hoàng đẹp. Cung cấp mức độ
cao nhất về các dịch vụ bổ sung, đặc biệt là các dịch vụ bổ sung tại phòng, dịch
vụ giải trí ngoài trời, dịch vụ thẩm mỹ, phòng họp Có diện tích của khu vực sử
dụng chung rất rộng, bãi đỗ lớn và bán sản phẩm của mình với mức giá bán cao
nhất trong vùng.
- Khách sạn dịch vụ đầy đủ là khách sạn tương ứng với khách sạn 4 sao ở
Việt Nam, bán sản phẩm với mức giá cao thứ hai trong vùng, thường có bãi đỗ
rộng, cung cấp dịch vụ ăn uống tại phòng, có nhà hàng và cung cấp một số dịch
vụ bổ sung ngoài trời một cách hạn chế.
- Khách sạn cung cấp số lượng hạn chế dịch vụ là khách sạn có quy mô
trung bình, tương ứng với khách sạn 3 sao ở việt Nam, bán sản phẩm lưu trú với
mức giá cao thứ ba trong vùng, khách sạn loại này thường chỉ cung cấp một số
lượng rất hạn chế dịch vụ, trong đó có dịch vụ bắt buộc phải có là: Dịch vụ ăn
uống, một số dịch vụ bổ sung như dịch vụ giặt là, dịch vụ cung cấp thông tin và
một số dịch vụ bổ sung khác.

Dựa vào số lượng buồng theo thiết kế của khách sạn người ta phân khách
sạn ra các loại sau: Khách sạn có quy mô lớn, khách sạn có quy mô trung bình và
khách sạn có quy mô nhỏ. Tuy nhiên quy mô khách sạn lớn, trung bình hay nhỏ
phải có bao nhiêu buồng thiết kế còn tùy thuộc vào mức độ phát triển hoạt động 16
kinh doanh khách sạn ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh khách
sạn mới ở giai đoạn bắt đầu phát triển, chưa có nhiều khách sạn lớn và rất lớn
như ở Mỹ (khách sạn quy mô lớn có ít nhất 500 buồng thiết kế, khách sạn trung
bình có số buồng thiết kế từ 125 đến cận 500 buồng, dưới 125 buồng là khách
sạn có quy mô nhỏ). Cho nên được phân loại như sau:
- Khách sạn có quy mô lớn là những khách sạn có thứ hạng 5 sao tương
ứng với số buồng thiết kế 200 buồng trở lên.
- Khách sạn quy mô trung bình là khách sạn có từ 50 buồng thiết kế trở
lên đến cận 200 buồng.
- Khách sạn quy mô nhỏ có số buồng thiết kế dưới 50 buồng.
1.1.2.5. Phân loại theo hình thức sở hữu và quản lý
Theo tiêu chí này ở nước ta có thể chia thành các loại sau: Khách sạn nhà
nước, khách sạn tư nhân, khách sạn liên doanh, khách sạn cổ phần.
- Khách sạn nhà nước là khách sạn có vốn đầu tư ban đầu là của nhà nước
do một tổ chức hay công ty quốc doanh chịu trách nhiệm điều hành quản lý, trong
quá trình kinh doanh phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối cùng của
khách sạn. Hiện nay hầu hết các khách sạn, công ty nhà nước được chuyển thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần, trong đó nhà
nước nắm giữ một tỷ trọng vốn nhất định tùy theo từng doanh nghiệp.
- Khách sạn tư nhân là khách sạn có một chủ đầu tư là một cá nhân hay
một công ty trách nhiệm hữu hạn. Chủ đầu tư tự điều hành quản lý kinh doanh
khách sạn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của khách sạn.
- Khách sạn liên doanh là khách sạn do hai hoặc nhiểu chủ đầu tư bỏ vốn

1.1.3.4. Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật.
Kinh doanh khách sạn chịu sự chi phối của một số nhân tố, mà chúng lại
hoạt động theo một số quy luật như: Quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội,
quy luật tâm lý của con người, Ví dụ, sự phụ thuộc vào tài nguyên du lịch, đặc
biệt là tài nguyên thiên nhiên, với những biến động lặp đi lặp lại của thời tiết khí
hậu trong năm, luôn tạo ra những thay đổi theo những quy luật nhất định trong
giá trị và sự hấp dẫn của tài nguyên đối với khách du lịch, từ đó gây ra sự biến
động theo mùa của lượng cầu du lịch đến các điểm du lịch. Do đó tạo ra sự thay 18
đổi theo mùa trong kinh doanh khách sạn, đặc biệt là khách sạn nghỉ dưỡng ở các
điểm du lịch nghỉ biển hoặc nghỉ núi.
Với những đặc điểm của kinh doanh khách sạn, việc tạo ra một sản phẩm
khách sạn có chất lượng cao, có sự hấp dẫn lớn đối với du khách là công việc
không chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn và lao động, mà còn phụ thuộc vào năng lực
của nhà quản lý trong sự vận hành và khả năng kết hợp các yếu tố đó như thế
nào. [10, tr 24]
1.1.4. Các dịch vụ của khách sạn
1.1.4.1. Khái niệm dịch vụ
Ngày nay, dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Ở các nước tiên tiến, tỷ trọng của dịch vụ chiếm
trong GDP là 70% đến 75%. Ở Việt Nam tỷ lệ này là khoảng 40% đến 45%. Có
rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ được
coi là mọi thứ có giá trị, khác với hàng hóa vật chất, mà một người hoặc một
tổ chức cung cấp cho một người hoặc một tổ chức khác để đổi lấy một thứ gì
đó. Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người hay tổ chức trong quá
trình hình thành dịch vụ. Đồng thời cũng thể hiện quan điểm hướng tới
khách hàng bởi vì giá trị của dịch vụ do khách hàng quyết định. Theo khái
niệm của ISO 9004: 1991 “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động

1.1.4.2. Các loại dịch vụ trong khách sạn:
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu
cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ kể từ khi họ liên hệ đặt buồng cho tới khi tiêu dùng
xong và rời khỏi khách sạn tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi
Sản phẩm dịch vụ là những sản phẩm có giá trị về vật chất hoặc tinh thần
mà khách hàng đồng ý bỏ tiền ra để đổi lấy chúng. Sản phẩm dịch vụ của khách
sạn bao gồm 2 loại là dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung.
Dịch vụ chính là dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống nhằm thỏa mãn nhu
cầu thiết yếu của khách khi họ lưu lại tại khách sạn.
Dịch vụ bổ sung là các dịch vụ khác ngoài hai loại dịch vụ trên nhằm
thỏa mãn các nhu cầu thứ yếu trong thời gian khách lưu lại tại khách sạn. Đối 20
với dịch vụ bổ sung của khách sạn được chia thành dịch vụ bổ sung bắt buộc
và dịch vụ bổ sung không bắt buộc. Việc tồn tại dịch vụ bổ sung bắt buộc và
không bắt buộc tùy thuộc vào quy định trong tiêu chuẩn phân hạng khách sạn
của mối quốc gia [10, tr 20]
1.1.4.3. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ trong khách sạn bao gồm:
- Sản phẩm dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình: Do sản phẩm
khách sạn không tồn tại dưới dạng vật chất, không thể nhìn thấy hay sờ thấy
cho nên cả người cung cấp và người tiêu dùng đều không thể kiểm tra được
chất lượng của nó trước khi bán và trước khi mua. Người ta cũng không thể vận
chuyển sản phẩm dịch vụ khách sạn trong không gian như các hàng hóa khác,
bởi lẽ chỉ có sự vận động một chiều trong kênh phân phối theo hướng: khách
phải tự đến khách sạn để tiêu dùng dịch vụ.
- Sản phẩm khách sạn là dịch vụ không thể lưu kho cất trữ được: Quá
trình “sản xuất” và “tiêu dùng” các dịch vụ khách sạn gần như trùng nhau về
không gian và thời gian. Hay nói cách khác, sản phẩm khách sạn có tính “tươi

vật chất, kỹ thuật của khách sạn phải tuân thủ theo đúng quy định của Luật Du
lịch được hướng dẫn cụ thể bởi Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện
luật du lịch, Thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện
Nghị định của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch và thỏa mãn các điều kiện tiêu
chuẩn quốc gia (TCVN 4391: 2009) về Khách sạn - xếp hạng khách sạn.
1.2. Đội ngũ lao động trong khách sạn
1.2.1. Khái niệm
Nguồn lao động: Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được
coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền
vững, thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển.
Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lao động được
hiểu là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, về phương diện
này Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ
năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Ngày nay nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ 22
những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động. Ở nước ta,
khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi
mới. Điểm này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân
lực. Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện
thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và
năng lực phẩm chất) [3, tr13]. Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất
lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong
tương lai.
Từ sự phân tích trên, ở dạng khái quát, có thể hiểu nguồn nhân lực là một
phạm trù để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào
quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trọng hiện tại cũng như
trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng,

nhiều đến năng lực phẩm chất của người lao động đó là tâm lực. Vậy, năng lực
phẩm chất là khái niệm chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự
tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với cá
nhân, nhóm và tổ chức,
+ Đội ngũ lao động là tập hợp một số người thành lực lượng thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem lại một kết quả cho tổ chức.
1.2.2. Đặc điểm của đội ngũ lao động trong khách sạn
Lao động trong khách sạn là tập hợp đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc
tại khách sạn, cùng đóng góp trí lực và sức lực để tạo ra sản phẩm chất lượng
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch và đạt được những mục tiêu phát triển,
xây dựng thương hiệu của khách sạn. Có thể phân thành 4 bộ phận như sau:
1.2.2.1. Bộ phận lao động chức năng quản lý chung:
Đây là những lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc…) của khách sạn. Lao
động của người lãnh đạo có những đặc điểm riêng biệt đó là:
Lao động của người lãnh đạo là loại lao động trí óc đặc biệt bởi vì công
cụ chủ yếu là tư duy bằng kiến thức và kinh nghiệm để tìm tòi, nghiên cứu các
tình huống, để ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định cho quá
trình kinh doanh. Đặc điểm này đòi hỏi lao động của người lãnh đạo phải là lao
động được đào tạo chu đáo, phải có bằng quản lý, phải qua các lớp quản lý

Trích đoạn Đào tạo, phát triển đội ngũ lao động Về thực trạng đội ngũ lao động Về các hoạt động phát triển đội ngũ lao động Tình hình và xu thế phát triển du lịch Xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển đội ngũ lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status