Thúc đẩy xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Đài Loan - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang
DANH M C B NG BI U Ụ Ả Ể ..............................................................................1
1.3.1.2. Quan h kinh t th ng m i Vi t Nam - i Loanệ ế ươ ạ ệ Đà ..............19
DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả .............................................................63
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
DANH M C B NG BI U Ụ Ả Ể ..............................................................................1
1.3.1.2. Quan h kinh t th ng m i Vi t Nam - i Loanệ ế ươ ạ ệ Đà ..............19
DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả .............................................................63
LỜI MỞ ĐẦU
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
1
Sau một năm hội nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành công lớn, trong đó không thể không kể tới xuất khẩu rau
quả. Đó là một ngành chiếm tỉ trọng tương đối cao trong kim ngạch xuất khẩu
của nước ta. Đầu thập niên 90 nền kinh tế Việt Nam suy giảm mạnh do mất
thị trường xuất khẩu truyền thống ở các nước khối SEV. Từ năm 95 trở lại
đây xuất khẩu rau quả nước ta đã hồi phục và đạt được bước tăng trưởng đáng
kể. Với các điều kiện, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại rau quả nhiệt đới, á
nhiệt đới và cả một số loại rau quả ôn đới. Cộng với thế mạnh là nguồn lao
động dồi dào rau quả của Việt Nam đã vươn tới hơn 50 quốc gia trên thế giới.
Nhằm xúc tiến và phát triển kinh tế thương mại Việt Nam đã bắt tay với nhiều
đối tác một trong số những số đó là Đài Loan.
Từ thập niên 1970 đến nay, Đài Loan lâm vào tình trạng cô lập trên
trường ngoại giao. Thời đó chỉ có chưa tới 30 nước còn duy trì mối quan hệ
với đảo quốc. Những thập niên gần đây nhờ kinh tế phát triển nhanh chóng
Đài Loan trở thành một trong những nước giàu nhất Á châu nên Đài Loan
đứng vào hàng “mãnh hổ kinh tế” ở vùng này. Hiện nay diễn đàn kinh tế thế
giới (WEF) xếp Đài Loan vào hàng thứ 3 về mức tăng trưởng cạnh tranh kinh
tế. Việt Nam và Đài Loan có mối quan hệ từ rất lâu, có nhiều nét tương đồng

1.1. Đặc điểm của mặt hàng rau quả
1.1.1. Về nguồn hàng
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, có tiềm năng về phát triển rau
quả. Với 7 vùng sinh thái khác nhau, tạo điều kiện cho Việt Nam có khả năng
trồng luân canh nhiều loại rau và cây ăn quả phong phú, đa dạng.
Ở Trung du và miền núi phía Bắc có thể trông mận, hồng, đào, chuối, dứa,
vải, nhãn, súp lơ xanh, su hào,... Đồng bằng Sông Hồng thì trồng nhãn, cam,
na, quýt, các loại rau vụ đông: bắp cải, cà rốt,… Các loại rau mùa hè như: rau
đay, dưa chuột, các loại bí, mướp,… Đồng bằng Sông Cửu Long trồng vải,
nhãn, sầu riêng, xoài, dứa,…thanh long, trái bơ, chôm chôm, chuối, mít thì
được trồng chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Hiện nay nhiều vùng qui hoạch trồng rau quả đã được xác lập trong cả
nước. Việc chế biến cũng được đầu tư và nhiều mặt hàng được chế biến bằng
phương pháp cổ truyền như sấy, muối chua, muối mặn,… cũng như những
mặt hàng đồ hộp của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Với nền
công nghiệp mới, hiện đại hơn trước ngành rau quả đã có nhiều sản phẩm đa
dạng. Chúng ta đã sấy khô và đóng hộp các loại quả (mít, khoai môn, dứa,
chuối, nhãn, vải,…). Nước uống tưới đóng trong lon, chai, hộp giấy hoặc
được đóng vào can lớn, hộp lớn. Các loại sản phẩm muối và nước quả cô đặc
cũng rất được ưa thích.
Với nguồn cung vô cùng đa dạng, phong phú các nhà xuất khẩu của Việt
Nam không khó để thu mua các loại rau quả. Nhưng vấn đề đặt ra là phải xác
định đặc điểm rau quả từng thời vụ để lên kế hoạch thu mua sao cho tốt nhất,
số lượng nhiều nhưng giá mua lại là thấp nhất. Thông thường vào mùa vụ giá
cả các loại thường thấp, chất lượng và mẫu mã đều đạt yêu cầu. Tuy nhiên, có
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
4
không ít những đơn đặt hàng về các loại rau quả trái vụ, với mặt hàng này khả
năng dự trữ là thấp, khó có thể dự trữ lâu dài với số lượng lớn nên không đủ
khả năng để cung cấp cho Đài Loan. Từ đó cho thấy Việt Nam cần phải xác

Vải thiều là loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở các tình phía Bắc nhất
là Bắc Giang, Hưng Yên. Sản lượng cho nhiều thích hợp cho việc tiêu dùng
nội địa nhưng khi chế biến thì quả vải đổi màu sau khi đóng hộp từ 2-3 tháng.
Do đó đòi hỏi ta phải tìm kiếm thị trường xuất khẩu từ trước. Nhãn thì hầu hết
các giống đang được trồng ở miền Nam và miền Bắc cho chất lượng và số
lượng tương đối cao. Một số địa phương như Hưng Yên đã tận dụng nguồn
này để chế biến nhiều sản phẩm thơm ngon, chất lượng đảm bảo đó là long
nhãn được rất nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, cùi nhãn mỏng
và hạt nhãn lại lớn, điều này gây ảnh hưởng tới chất lượng long nhãn khi chế
biến. Giống dứa phổ biến ở Việt Nam hiện nay là giống Queen Victoria cho
quả nhỏ năng suất thấp (trên dưới 10 tấn/ha). Nó rất phù hợp cho tiêu dùng
tươi. Giống dứa Cayen năng suất cao hơn đạt 50-60 tấn/ha. Nhiều nước và
quả thích hợp để chế biến đóng hộp thành dứa khoanh hoặc nước dứa ép, sản
phẩm chế biến ra rất thơm ngon được nhiều thị trường đặt mua. Các giống
chuối và cây có múi của Việt Nam cũng chỉ phù hợp với thị trường trong
nước, chứ chưa phù hợp xuất khẩu ra thị trường quốc tế vì kích thước, năng
suất, màu sắc, mùi vị còn chưa phù hợp. Bên cạnh đó nhiều nước trong khu
vực đã bằng cách này hay cách khác lấy giống một số loại hoa quả của Việt
Nam như thanh long, chỉ một vài năm gần đây Việt Nam đã bắt đầu nhập
nhiều giống chất lượng cao của các nước đối với một số cây ăn quả nhiệt đới
như xoài từ Thái Lan, Ôxtraylia, dứa, nhãn từ Trung Quốc và Thái Lan, hồng
từ Đài Loan.
Mặt hàng rau quả mang tính thời vụ điển hình, phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên. Nhất là các loại rau, nếu điều kiện tự nhiên tốt như mưa
thuận gió hòa, đất đai màu mỡ. Cho các loại rau đồng đều cả về số lượng lẫn
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
6
chất lượng mà giá cả lại rẻ. Nhưng nếu thời tiết bất ổn, kéo theo sự sụt giảm
về chất lượng rất mạnh. Trong khi đó hàng hóa đem đi xuất khẩu có những
đòi hỏi rất khắt khe, bởi đây là mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của

khi công nghệ bảo quản tại Việt Nam còn thấp, công nghệ chế biến còn lạc
hậu, chỉ được sơ chế chứ chưa thực sự được bảo đảm an toàn. Ảnh hưởng đến
các thành phần chất của sản phẩm. Đối với rau quả độ tươi được đánh giá rất
cao, tiếp theo là hương vị, hình dáng, màu sắc của sản phẩm. Tùy theo từng
mặt hàng cụ thể mà chúng ta có những hình thức bảo quản sao cho hợp lý.
Nước ta chủ yếu bảo quản rau quả theo những các sau:
Bảo quản trên điều kiện thường: nghĩa là không bảo quản lạnh hay bất
kỳ cách xử lý nào khác ngoài hệ thống thông gió. Thường được áp dụng cho:
khoai tây, củ cải, cà rốt, cải bắp, chuối buồng…
Bảo quản lạnh: kho lạnh phải đạt tiêu chuẩn trần và sàn nhà đều phải
được cách nhiệt tốt.
Bảo quản bằng điều chỉnh khí quyển: phòng kho phải kín, lạnh hoặc
không lạnh, có hệ thống thông gió và cung cấp oxy, nitơ, cacbonic, với thiết
bị đo nhiệt độ, độ ẩm các khí này một cách tự động. Phương pháp này thường
áp dụng cho táo, lê, xà lách, cải bắp, măng tây,...
Ngoài ra còn bảo quản rau quả tươi bằng hóa chất được phép sử dụng
trong đó có chất chống thối, mốc, chống nảy mầm,…
Riêng đối với rau quả chế biến có thể chia thành các nhóm sau:
 Sơ chế.
 Đông lạnh: tất cả các loại rau quả đều có thể xắt miếng cho vào bao bì
thích hợp bảo quản đông lạnh trong thời gian dài, vận chuyển đi xa.
 Sấy khô: sấy bằng không khí nóng, với các sản phẩm đặc trưng là táo,
chuối, mận, vải,… sấy thăng hoa áp lực cao có thể áp dụng với hầu hết các
loại rau quả.
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
8
 Sản phẩm muối: muối mặn, muối chua dùng cho: hành, cà, ngô, dưa
chuột, các loại dưa,…
Bao bì đóng gói bảo quản các loại rau quả cũng rất cần thiết. Nó có tác
dụng bảo vệ rau quả trước tác động của môi trường. Chất liệu đóng gói phù

hướng gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm trái vụ. Người tiêu dùng ở nhiều
nước phát triển sẵn sàng trả mức giá rất cao cho các sản phẩm trái vụ. Trong
vòng hai thập kỉ qua thương mại rau quả thế giới có bước phát triển mạnh mẽ.
Theo số liệu của FAO thị phần của rau quả xuất khẩu trong tổng thương mại
hàng nông sản toàn cầu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,7%.
Tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thuộc nhóm các sản phẩm phi truyền
thống như: xoài, khoai tây, cam, nấm, ngô ngọt, bơ... đều tăng ở mức 2 con số
trong suốt những năm vừa qua. Ngược lại cũng trong giai đoạn này tỷ lệ tăng
trưởng xuất khẩu của các phẩm truyền thống (chuối và quả có múi) giảm đi.
Các nước đang phát triển ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong xuất khẩu
rau quả, đặc biệt là rau quả phi truyền thống. Hiện nay các nước đang phát
triển chiếm khoảng 60% thị phần rau quả xuất khẩu trên toàn cầu.
1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu rau quả của Việt Nam
1.2.1. Sự cần thiết của xuất khẩu rau quả
Ngay từ thuở xa xưa con người đã tìm cho mình một loại thức ăn có sẵn
từ thiên nhiên, mang đầy giá trị dinh dưỡng và thực sự hữu ích cho sự phát
triển của cơ thể con người đó chính là rau quả. Cùng với bước tiến của thời
đại rau quả ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của mình
đối với cuộc sống của con người nói chung và đối với sự phát triển của nền
kinh tế nói riêng. Đối với một số đất nước có không có điều kiện sản xuất rau
quả như: Nhật Bản, Nga và một số nước ở châu phi thì việc nhập khẩu rau
quả từ nước khác là không thể tránh khỏi. Trong khi đó nước ta là nước đi lên
từ nông nghiệp, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, thiếu thốn nhưng lại có
rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc trồng các loại rau quả. Vì vậy việc trao
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
10
đổi, mua bán rau quả với nước ngoài là rất cần thiết. Trong khẩu phần ăn của
con người ngoài calo, chất béo, chất đạm ra còn cần có vitamin, muối khoáng
các axit hữu cơ mà các chất này thì lại có chủ yếu trong rau quả. Theo sự
nghiên cứu của các nhà khoa học thì hàng ngày cơ thể của chúng ta cần

các loại cây công nghiệp từ năm thứ 8 trở đi sẽ bắt đầu có lãi, thì với cây vải
thiều đến năm thứ 5 đã thu hồi vốn, và từ năm thứ 6 trở đi đã sinh lời. Mỗi
năm trên thế giới nhu cầu tiêu dùng rau quả tăng thêm 3,6%/năm; trong khi
đó cung chỉ tăng 2,8%/năm. Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng vào việc
tăng thu ngân sách cho nhà nước. Mấy năm gần đây kim ngạch xuất khẩu liên
tục tăng nhanh. Đến năm 2008 nước ta dự kiến sẽ tăng 16,7% đạt 350 triệu
tấn. Với những điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất và xuất khẩu
rau quả của Việt Nam thì chúng ta còn rất nhiều cơ hội để gia nhập, cạnh
tranh với thị trường thế giới.
 Xuất khẩu rau quả góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho người lao
động, cải thiện đời sống người dân.
Với dân số hơn 81 triệu người trong đó hơn 50 triệu người đang ở độ tuổi
lao động, hàng năm lại có thêm 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động.
Việt Nam là một trong những nước có lượng người lao động đông nhất trong
khu vực. Tuy nhiên lao động của chúng còn hạn chế về trình độ, lao động thủ
công là chính. Rau quả không như những mặt hàng có thể sản xuất quanh năm
mà nó có tính thời vụ, những người dân thất nghiệp trong lúc nông nhàn đều
kéo nhau lên thành phố để kiếm việc. Sản xuất mặt hàng rau quả xuất khẩu có
thể thu hút một lượng lớn lao động trong nước kể cả lao động có trình độ cao
và những lao động phổ thông đặc biệt là những lao động ở nông thôn. Sản
lượng xuất khẩu rau quả hàng năm càng cao thì càng tạo ra nhiều việc làm
cho người lao động từ đó cải thiện căn bản đời sống của họ. Những công ty
sản xuất rau quả và các nhà máy chế biến đã thu hút không ít lao động trong
xã hội tạo ra nguồn lao động lành nghề, những cán bộ kỹ thuật chế biến giỏi.
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
12
Hơn nữa nguồn lao động của nước ta rất dồi dào nên chi phí lao động thường
rẻ hơn so với các quốc gia khác từ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao tính
cạnh tranh của mặt hàng rau quả trên thị trường quốc tế.
 Xuất khẩu rau quả là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế

1.3.1. Khái quát về thị trường sản xuất, xuất khẩu Đài Loan
1.3.1.1. Về Kinh tế
Đài Loan là nước có nền kinh tế tư bản phát triển năng động. Tốc độ tăng
GDP thực tế trung bình đạt mức 8% trong suốt 3 thập kỷ qua. Tỷ lệ lạm phát
và thất nghiệp thấp; thặng dư thương mại tương đối ổn định, dự trữ nước
ngoài cao thứ 3 thế giới. Ngành nông nghiệp đóng góp 6% cho GDP; giảm so
với tỷ lệ 35% năm 1952, công nghiệp 35,8% và dịch vụ: 58,2%. Những ngành
tập trung nhiều lao động truyền thống đã dần chuyển ra nước ngoài và thay
thế bằng những ngành sản xuất có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao. Đài Loan
vẫn là đối tác đầu tư chính của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; Thái Lan;
Indonesia; Phiplippines; Malaysia; và Việt Nam.
Trải qua gần 5 thập kỷ hình thành và phát triển, Đài Loan đang chuyển
mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một cường quốc kinh tế và dẫn
đầu trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Tuy nhiên với chính
sách hướng về xuất khẩu mà Đài Loan đang áp dụng hiện nay đã khiến cho
nền kinh tế nước này chịu ảnh hướng khá lớn từ những biến động từ bên
ngoài. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của Đài Loan đạt mức 27.572
USD ngang với thu nhập trung bình của liên minh Châu Âu. Ngoại thương
được coi là động lực giúp cho Đài Loan đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế
trong suốt 40 năm qua. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước này đã chuyển
từ sản phẩm nông nghiệp truyền thống sang các sản phẩm công nghiệp (hiện
nay chiếm 98%). Điện tử là ngành xuất khẩu chủ đạo của Đài Loan đồng thời
đây là ngành hàng nhận được các khoản đầu tư lớn, chủ yếu từ Hoa Kỳ. Dệt
may cũng là ngành xuất khẩu chủ đạo của nước này.
Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan năm 2005 là 189.4 tỷ USD. Trong đó,
các mặt hàng xuất khẩu chủ lực bao gồm: sản phẩm máy tính và thiết bị điện
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
14
tử, khoáng sản, dệt may, nhựa, các sản phẩm cao su và hoá chất. Các đối tác
xuất khẩu chính là Trung Quốc (chiếm 21.6%), Mỹ (16.22%), Hồng Kông

OECD, WTO…) nhằm khẳng định thực lực kinh tế, nâng cao vai trò và vị trí
của Đài Loan trên trường quốc tế.
- Các nước phương Tây, nhất là Mỹ, Nhật, Tây Âu tuy không còn quan hệ
chính thức về mặt ngoại giao với Đài Loan, nhưng vẫn duy trì và đẩy mạnh
quan hệ không chính thức với Đài Loan về mặt kinh tế, văn hoá và quân sự
dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Mỹ, Nhật vẫn là thị trường quan
trọng đối với Đài Loan. Kim ngạch mậu dịch Đài Loan - Mỹ năm 1993 đạt
trên 40 tỷ USD, chiếm 25% tổng kim ngạch mậu dịch của Đài Loan, trong đó
Đài Loan xuất siêu 9 tỷ (so với 12 tỷ năm 1992). Kim ngạch mậu dịch Đài
Loan - Nhật năm 1993 là 36 tỷ USD (Đài Loan nhập siêu 14 tỷ). Kim ngạch
mậu dịch giữa Đài Loan và Tây Âu năm 1993 là 26,4 tỷ, chiếm 26,4% tổng
kim ngạch mậu dịch của Đài Loan. Trong quan hệ với các nước phương tây,
Đài Loan đã tranh thủ được vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật và công nghệ cao
của Mỹ, Nhật, Tây Âu.
Hoạt động sản xuất tại Đài Loan:
* Về rau: Hầu hết rau sản xuất ở Đài Loan chủ yếu phục vụ nhu cầu
tiêu thụ trong nước. Năm 2002, có khoảng 179.500 hecta đất canh tác
được sử dụng trong việc trồng rau chủ yếu tập trung tại các tỉnh Vân
Lâm, Trương Hoa, Đài Nam và Chiayi. Sản lượng rau đạt khoảng
3.462.000 tấn với năng suất trung bình khoảng 19.300 kg/ha. Một số loại
rau được trồng chủ yếu ở Đài Loan bao gồm: măng tre, nấm, các loại rau
ăn lá, bắp cải, dưa đỏ, đậu tương. Hiện ở Đài Loan có khoảng 100 loại
rau khác nhau. Các loại hành, bắp cải tàu, mù tạt và tỏi phù hợp với vùng
khí hậu mát mẻ ở miền bắc Đài Loan, còn ở miền nam chủ yếu trồng các loại
như cà chua, súp lơ, măng tre và các loại đậu. Các loại rau tươi được nhập
khẩu nhiều nhất là súp lơ xanh, súp lơ trắng, bắp cải và bắp cải tàu. Đài Loan
chủ yếu nhập các loại rau từ Hoa kỳ, Trung Quốc và Việt Nam.
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
16
Thị trường nhập khẩu rau quả của Đài Loan gồm: Mỹ, Nhật Bản, các

khẩu chuối của Đài Loan là Nhật Bản. Mùa thu hoạch chuối ở đây thường vào
khoảng từ tháng 3 đến tháng 5.
Một giống cây trồng khác cũng mang lại năng suất cao ở Đài Loan đó là
cam quýt. Trồng cam quýt ở nước này bắt đầu từ đầu thế kỷ 17. Một số giống
cây có múi như cam Ponkan, Tankan, Liucheng, bưởi Wentan, Hailikan là do
người nhập cư từ Đại Lục Trung Quốc mang vào Đài Loan. Suốt thời gian
Nhật chiếm đóng, khoảng 6.000 ha diện tích đất nông nghiệp ở Đài Loan
được dành để trồng cam quýt, với sản lượng hàng năm đạt gần 40.000 tấn.
Khoảng ¼ sản lượng cam quýt thu hoạch được dành để xuất khẩu. Thị trường
nhập khẩu chính các loại hoa quả này của Đài Loan là Trung Quốc Đại Lục,
Nhật và Hàn Quốc. Trong thế chiến thứ 2, xuất khẩu cam quýt của Đài Loan
bị ngưng lại và nhiều vườn cam được chuyển sang trồng các vụ mùa khác.
Năm 1945, khi Đài Loan nằm dưới quyền quản lý của Trung Quốc, diện tích
trồng cam quýt là 4000 ha, sản lượng hàng năm đạt trên 20.000 tấn. Trong
giai đoạn từ năm 1945 tới 1990, diện tích trồng cam tăng chậm. Nguyên nhân
là do chi phí các nguyên liệu đầu vào để sản xuất cam quýt tăng cao, nguy cơ
phá hoại của nhiều loại sâu bệnh và thiên tai, sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các
nước sản xuất cam quýt lớn trong khu vực và trên thế giới, tất cả những yếu tố
đó đã khiến người nông dân thu hẹp diện tích trồng cam quýt. Sau năm 1990,
diện tích trồng tiếp tục giảm, vào năm 1995 ở Đài Loan có khoảng 10.500 ha
cam Ponkan, 8.000 ha cam Liucheng, 6,700 ha bưởi Wentan và 5,900 ha
Tankan, tổng sản lượng đạt khoảng 472.409 tấn.
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
18
Diện tích đất canh tác và sản lượng các loại quả của Đài Loan
Loại Diện tích đất canh tác
(ha)
Sản lượng (tấn)
Ponkan 10.409 139.868
Liucheng cam 8.025 117.198

Loan đã thuê 300 ha đất đầu tư vào Nhơn Trạch Đồng Nai, vốn đầu tư giai
đoạn đầu 260 triệu USD, nay đã tăng lên 480 triệu USD nếu lấp đầy khu công
nghiệp vốn đầu tư lên 2,6 tỷ USD và chắc chắn sẽ kéo theo nhiều doanh nghiệp
Đài Loan sử dụng nguyên liệu của tập đoàn này đầu tư vào Việt Nam.
* Kim ngạch mậu dịch hai bên:
Năm 2002 kim ngạch mậu dịch hai chiều Việt Nam Đài Loan đạt 3,49 tỷ
USD, tăng 18,5% so với năm 2001, Việt Nam nhập siêu 1,7248 tỷ USD. Đài
Loan là đối tác thương mại thứ 4 của Việt Nam xếp sau Nhật, Xingapo và
Trung Quốc. Năm 2003 kim ngạch mậu dịch hai chiều Việt nam Đài Loan đạt
3,665 tỷ USD. Việt Nam xuất: 749 triệu USD và nhập: 2,916 tỷ USD Việt
Nam nhập siêu: 2,167tỷ USD. Hai tháng đầu năm 2004, kim ngach xuất nhập
khẩu đạt gần 500 triệu USD. Việt Nam nhập siêu gần 300 triệu USD. Tăng
trưởng xuất nhập khẩu hai chiều tăng bình quân 10- 15%/năm.
Hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu ở dạng nguyên liệu sơ chế, gồm hàng
nông sản, lâm sản, khoáng sản, thuỷ hải sản, hàng công nghiệp. Hàng nhập
khẩu từ Đài Loan chủ yếu là vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị.
Việt Nam nhập siêu từ Đài Loan ngày càng lớn, nguyên nhân chính là do
các nhà đầu tư Đài Loan đưa máy móc và nguyên liệu vào Việt nam để sản
xuất, Đài Loan dùng hạn ngạch để quản lý một số mặt hàng như nông sản và
thực phẩm chế biến của Việt nam không cho vào thị trường Đài Loan như
gạo, rượu, dừa…
* Đầu tư trực tiếp:
Tính từ năm 1988 đến tháng 5/2004, Thương gia Đài Loan đầu tư vào
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
20
Việt Nam 1137 dự án (đứng đầu về số dự án), tổng vốn đầu tư đăng ký đạt
6,396 tỷ USD (đứng thứ hai về vốn sau Xingapore). Nếu tính đầu tư của Đài
Loan thông qua nước thứ ba thì đầu tư của Đài Loan vào Việt nam đứng thứ
nhất. Có thể nói Đài Loan đã đầu tư vào hầu hết các ngành kinh tế quan trọng
của Việt nam. Lĩnh vực công nghiệp nhẹ 365 dự án, tổng vốn: 2,262 tỷ USD

được đề cập cụ thể dưới đây:
a, Chính sách thuế và phi thuế.
Sau khi gia nhập WTO, Đài Loan đã thực hiện mở cửa thị trường nông
sản theo các cam kết WTO. Do việc cấm nhập khẩu không phù hợp với các
nguyên tắc của WTO về không phân biệt đối xử nên 18 loại sản phẩm nông
nghiệp bị cấm trước đây sẽ được nhập khẩu mà không có các hạn chế phi
thuế, trong đó có các sản phẩm rau quả như: quả mâm xôi, vải, cam, chanh và
các loại cam chanh, bưởi, nho, đào, mận, táo, các loại quýt tươi, khoai tây, đu
đủ. Mức thuế áp dụng cho các sản phẩm này dao động từ 20 đến 40%.
Các loại rau quả như lê, tỏi củ, hạt trầu không, đậu adzuki, nấm khô, bưởi,
nho khô và quả nho, dừa non, chuối, dứa, xoài, hồng, hoa ly khô được nhập
khẩu theo chế độ hạn ngạch thuế quan. Hạn ngạch nhập khẩu sẽ chiếm từ 4
đến 8% lượng tiêu thụ trong nước hoặc cao hơn và mức thuế sẽ bằng 50%
mức hiện tại. Ngoài ra khối lượng hàng nhập khẩu sẽ không bị hạn chế đối
với số hàng nhập vượt quá hạn ngạch tuy nhiên sẽ phải chịu mức thuế cao hơn
so với các loại hiện có trong hạn ngạch tùy theo sự chênh lệch về giá sàn giữa
thị trường trong nước và nước ngoài và tuỳ vào kết quả đàm phán song
phương với các quốc gia liên quan.
Về chính sách phi thuế, Đài Loan áp dụng chủ yếu là hạn ngạch và các
loại giấy phép. Đài Loan thực hiện chính sách phân biệt trong nhập khẩu, chỉ
nhập khẩu từ một số nước nhất định. Ví dụ như táo và cam chỉ nhập từ Hoa
Kỳ và New Zealand, dừa nhập từ Malaysia và Philippines. Việt Nam chưa
được ưu tiên trong việc chỉ định thị trường nhập khẩu nên nhiều mặt hàng
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
22
Việt Nam không xuất khẩu được sang Đài Loan. Điểm khó trong chính sách
phi thuế của Đài Loan là các biện pháp hạn chế chỉ được quy định một cách
chung chung mà không chi tiết hoá cho từng mặt hàng cụ thể như nhiều nước
khác dẫn đến sự không minh bạch khi áp dụng.
Từ 2004, Bộ Tài chính Đài Loan đã ra thông báo giảm thuế suất thuế nhập

Singapore, Malaysia, Philippine... Khí hậu kiểu Tây Nam Á ở Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long thì lại tập trung các loại quả có
nguồn gốc nhiệt đới. So với các quốc gia như Mỹ, Nga , EU, Nhật Bản ... thì
Việt Nam có lợi thế hơn nhiều. Với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi Việt
Nam có thể sản xuất và cung cấp rau quả tươi xanh quanh năm, tận dụng mùa
vụ mà nguồn cung cấp nội địa của các nước do hạn chế về thời tiết để xuất
khẩu sang thì chắc chắn sẽ thành công.
2.1.2. Lợi thế về nguồn nước
Việt Nam nằm ở trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm, mưa
nhiều, nhiệt lượng trung bình cao, độ ẩm trung bình lớn là một thuận lợi đáng
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
24
kể cho ta phát triển nền nông nghiệp đa canh quanh năm với nhiều loại nông
sản phong phú: từ cây lương thực đến cây công nghiệp, cây ăn quả, rau,
đậu… lượng mưa trung bình hàng năm trên phần lớn bề mặt lãnh thổ cả nước
từ 1,5m đến 3,0m nước tạo nên nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào với hệ
thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc đủ cung cấp nước cho công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt dân cư, tạo nên màu xanh quanh năm
bao trùm lên cả nước. Với độ ẩm trung bình khá cao tơi 85%. Mưa nhiệt đới
không chỉ có tác dụng điều hòa khí hậu mà còn cung cấp cho đất lượng nước
và lượng đạm vô cơ rất lớn. Đây là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng, điều
kiện tốt để tiến hành xen canh, gối vụ, tăng nhanh vòng quay ruộng đất và
thâm canh năng suất.
Nước là một dạng tài nguyên đặc biệt: vừa hữu hạn (nước ngầm) vừa vô
hạn (nước trên mặt đất). Trong thiên nhiên nước luôn hoạt động và vì vậy sự
phân bố nước để có những dao động rõ rệt theo lãnh thổ mùa và qua các năm.
Toàn bộ các nguồn nước ngọt lưu chuyển trên lãnh thổ nước ta rất to lớn.
Nguồn nước ngọt dồi dào đủ đảm bảo cho việc phát triển ngành trồng trọt đặc
biệt là các loại rau quả. Sông ngòi nước ta vừa nhiều vừa kết hợp với nhau tạo
thành những mạng lưới thủy văn dày đặc. Với nhiều sông đào và kênh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status