Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH YÊN BÁI
TRƯỜNG THPT TRẦN NHẬT DUẬT
TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU
TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC
HỌ VÀ TÊN: Đào Thị Thùy Giang
CHỨC VỤ: Giáo viên
TỔ CHUYÊN MÔN: Ngữ văn
TRƯỜNG: THPT Trần Nhật Duật
Yên Bái, tháng 2 năm 2012

MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài 3
2- Mục đích nghiên cứu 3
3- Đối tượng nghiên cứu 3
4- Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4
5- Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6- Phương pháp nghiên cứu 5
7- Thời gian nghiên cứu 5
NỘI DUNG 6
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài 6
Chương II: Thực trạng của đề tài 7
2.1. Thể loại truyện Nôm
2.2. Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện 7
2.3. Cái nhìn nghệ thuật về con người 8
2.4. Không gian và thời gian nghệ thuật
2.5. Ngôn ngữ và giọng điệu
Chương III: Giải quyết vấn đề 13
3.1. Vận dụng Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học
vào thực tiễn giảng dạy
3.2. Kết quả khảo nghiệm

toàn bộ tác phẩm nhưng các em lại khẳng định rằng Truyện Kiều là kiệt tác văn
học của dân tộc. Điều đó cho thấy các em còn mới đánh giá theo cảm tính mà
3
hạn chế trong tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng.
Tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại có nhiều khó khăn với các em bởi khoảng
cách thời gian và đặc trưng thi pháp, quan niệm nghệ thuật riêng biệt của thời kì
văn học này.
4. Đổi mới phương pháp dạy học hướng tới việc lấy học sinh làm trung
tâm đang là vấn đề cấp thiết đối với các giáo viên. Với bộ môn ngữ văn, các giờ
lên lớp cần trở thành giờ Đọc - hiểu văn bản của học sinh nhằm đưa các em đến
với tác phẩm bằng cách tiếp xúc văn bản nghệ thuật, rung cảm và tiếp nhận toàn
vẹn tác phẩm văn học. Xu hướng đó phù hợp với việc vận dụng Thi pháp vào
dạy học bộ môn vì nó đưa người đọc tới việc tiếp nhận văn bản ngôn từ tức là
“ hình thức vật chất duy nhất cho sự tồn tại nội dung tác phẩm” [150 thuật ngữ
văn học, 307].
Trong thực tế giảng dạy ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy việc vận
dụng Thi pháp học vào khai thác tác phẩm còn nhiều hạn chế và ít được chú
trọng. Để giúp học sinh tiếp nhận một tác phẩm văn học, giáo viên có nhiều con
đường khác nhau. Tuy nhiên, nếu khía cạnh nghệ thuật còn bị bỏ ngỏ thì sẽ
không thể khai thác tác phẩm một cách sâu sắc. Với đặc trưng môn học tìm hiểu
về tác phẩm nghệ thuật như ngữ văn, nếu không đưa học sinh đến tiếp nhận tác
phẩm thì không thể đạt được mục đích giáo dục. Từ những suy nghĩ đó, người
viết đến với đề tài Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học với mong
muốn có được phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong quá trình
học tập tiếp nhận và thưởng thức vẻ đẹp toàn vẹn của tác phẩm văn học.
2- Mục đích nghiên cứu
Với đề tài: Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học”, người viết
mong muốn hướng tới:
- Làm rõ một vài đặc điểm nổi bật trong Thi pháp Truyện Kiều.
- Vận dụng Thi pháp Truyện Kiều trong tìm hiểu đoạn trích Trao duyên.

việc chiếm lĩnh tri thức, thưởng thức tác phẩm, hình thành phẩm chất, nhân
cách…mới thực sự có hiệu quả. Như vậy, việc giúp các em có một phương pháp
tiếp nhận tác phẩm phù hợp hiệu quả là hạt nhân của quá trình đổi mới phương
pháp dạy học.
1.2. Đặc trưng của môn văn là môn học về tác phẩm nghệ thuật ngôn từ với
bản chất thẩm mĩ của nó. Tác phẩm văn chương vẽ nên bức tranh sinh động về
đời sống con người qua ngôn từ được sử dụng một cách có nghệ thuật. Nó tạo
nên hình tượng nghệ thuật - sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và
cải tạo hiện thực theo qui luật của nghệ thuật. Như vậy, dạy học văn cần hướng
đến đặc trưng riêng của bộ môn để có cách tiếp cận phù hợp.
Bản chất của quá trình dạy học văn phụ thuộc vào quá trình nhận thức sáng
tỏ và đầy đủ mối quan hệ giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của môn văn.
Đặc trưng của môn văn khiến cho quá trình dạy học văn trở thành quá trình tiếp
nhận tác phẩm văn học của học sinh. Quá trình tiếp nhận văn học nói chung vốn
đã phức tạp. Với đối tượng học sinh trong nhà trường, quá trình này càng phức
tạp hơn, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, hứng thú, nhu cầu, kinh
nghiệm sống…Do đó, đổi mới phương pháp dạy học văn cần quan tâm đến
những cách tiếp nhận tác phẩm theo đặc thù môn học và đối tượng học sinh.
Tiếp nhận tác phẩm theo hướng Thi pháp là một trong những phương pháp có
thể áp dụng trong thực tiễn dạy học.
6
1.3. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Trong cuốn 150 thuật
ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng đó là “Ngành học thuật nghiên
cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học”
và “Do chỗ mọi phương tiện biểu hiện trong văn học rút cuộc đều quy được về
ngôn ngữ, cho nên có thể định nghĩa Thi học như khoa học về nghệ thuật sử
dụng các phương tiện ngôn ngữ”.
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên cũng cho rằng “Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các
phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong

phẩm dựa trên một sáng tác của nước ngoài như Truyện Kiều.
Chúng tôi nhận thấy phần sáng tạo của Nguyễn Du mang lại giá trị đích thực
cho tác phẩm. Các phương diện nghệ thuật của tác phẩm như thể loại, tư tưởng,
nhân vật, cách kể chuyện cho đến không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu…
đều là sự thăng hoa của một tài năng nghệ sĩ.
2.1. Thể loại truyện Nôm
Thể loại văn học là một phạm trù mang tính lịch sử. Các thể loại xuất hiện
trong một giai đoạn phát triển nhất định và được thay thế bằng thể loại khác.
Như vậy, thể loại cũng là một yếu tố hình thức mang tính nội dung của tác
phẩm.
Truyện Kiều của Nguyễn Du thuộc về thể loại truyện Nôm. Đó là thể loại
văn học tự sự bằng thơ lục bát của người Việt, thịnh hành trong thế kỉ XVII,
XVIII. Truyện Nôm nằm trong mạch truyện thơ thịnh hành ở văn học vùng
Đông Nam Á. Truyện Nôm là truyện thơ nên có các yếu tố của tác phẩm tự sự
như nhân vật, cốt truyện, sự kiện…
Xét hệ thống tác phẩm tự sự, Truyện Kiều thuộc loại truyện vừa, chi tiết
chọn lọc vừa đủ để thể hiện nhân vật. Tác giả hướng đến khắc họa con người
chủ thể với thế giới nội tâm, ý nghĩ, lời thoại, lời kể… để nhân vật hiện lên cụ
thể, gợi cảm. Bên cạnh đặc trưng của tác phẩm tự sự là chất trữ tình đậm đà của
tác phẩm.
Nét đặc sắc trong Truyện Kiều là tác giả có ý thức kể lại rành mạch từng
chuyện. Mỗi sự kiện đều được kể một cách hoàn chỉnh từ đầu đến cuối, từ cảnh
đến tình. Mô hình cốt truyện không giản đơn như các truyện Nôm dân gian. Kết
9
cấu truyện đẩy đi, đẩy lại chứ không xuôi chiều. Có thể nói, Truyện Kiều mang
cốt truyện của thể loại tiểu thuyết.
2.2. Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện
Tư tưởng tác phẩm văn học là sự nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn
bộ nội dung cụ thể, sống động của tác phẩm văn học, cũng như vấn đề nhân sinh
đặt ra trong đó. Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương đích thực nhưng

Như vậy, chữ thân khiến Truyện Kiều không chỉ là chuyện của tài - mệnh tương
đố mà đó còn là phân phận con người. Có thân là có nghiệp, có nghiệp là có
khổ. Cho nên, tài mệnh là một trường hợp của thân mệnh. Như vậy, Truyện Kiều
phản ánh nỗi khổ nạn của kiếp người. Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của
Nguyễn Du đã lấy chữ thân làm nền tảng tức là đề cập đến những vấn đề nhân
bản nhất.
Nghệ thuật kể chuyện cũng là một sáng tạo của Nguyễn Du. Truyện Kiều
không phải là một sự nhào nặn, thêm bớt tác phẩm theo một cách khác mà là ở
quan niệm mới về nhân vật và cách kể chuyện. Nguyễn Du biến con người đạo lí
thành con người tâm lí chính điều này khiến tác giả thay đổi điểm nhìn trần
thuật. Người kể chuyện không kể từ bên ngoài mà đi theo cái nhìn của nhân vật,
từ tâm trạng nhân vật mà ra. Vì thế, Nguyễn Du chỉ tái hiện các sự kiện theo
chừng mực đủ để khêu gợi và bộ lộ tâm tư của nhân vật khiến Truyện Kiều trở
thành một thiên truyện tâm lí độc đáo. Nguyên tác chú trọng sự việc còn Truyện
Kiều chú trọng phơi bày tâm trạng nhân vật trước sự việc đó. Nguyễn Du đã huy
động các thủ pháp trữ tình để diễn tả tâm trạng nhân vật một cách tinh tế trong
đó độc thoại nội tâm được sử dụng rất hiệu quả.
2.3. Cái nhìn nghệ thuật về con người
Trong khi phản ánh đời sống, nghệ thuật thể hiện cái nhìn chủ quan của
mình đối với các hiện tượng từ đó bộc lộ ý nghĩa về đời sống. Để hiểu được nội
dung đời sống trong tác phẩm, phải tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật, cách tư duy,
cảm nhận của chính nhà văn.
11
Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du gắn liền với nghệ thuật phương Đông.
Con người trong văn học trung đại được xây dựng theo mô típ con người vũ trụ.
Tầm vóc, hành động của con người mang qui mô khác biệt so với văn học các
thời kì khác. Theo đó, người tài tình luôn được tôn xưng. Những người này
thường được khắc họa với đường nét bề ngoài đầy ước lệ. Đạm Tiên là đấng tài
hoa; Kim Trọng là bậc tài danh; Từ Hải là đấng anh hùng…
Mặt khác, Nguyễn Du còn coi con người là sự thể hiện của những giá trị

Nguyễn Du nhìn thấu nhân vật của mình, nắm bắt hồn vía và miêu tả một cách
tài tình. Nhà thơ có quan niệm về cá tính con người một cách rõ rệt.
Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc kiểu người kể chuyện biết trước
và biết hết nhưng người kể chuyện đó chỉ đứng trên nhân vật ở một số phần
mang tính chất giới thiệu như : Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh / Vẫn là một đứa
phong tình đã quen; Lầu xanh quen thói xưa nay / Nghề này thì lấy ông này tiên
sư. Người trần thuật chủ yếu lấy điểm nhìn nhân vật làm chỗ đứng cho mình để
thể nghiệm mọi cảm xúc. Trong sự miêu tả thường không báo trước cái đã biết
mà chú ý để mọi sự vật, sự việc hiện dần ra qua sự suy đoán của con người. Do
đó, tác giả có cái nhìn nghệ thuật nhiều chiều đối với các hiện tượng đời sống
được miêu tả. Nguyễn Du đặt các sự kiện trong cuộc đời Kiều vào sự nhìn nhận,
đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau. Việc nàng bán mình được nhìn từ chuẩn
mực đạo đức xã hội đương thời “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”.
Nhưng ở góc độ cá nhân, nàng Kiều không đành lòng trước mối tình tan vỡ
“ Ôi Kim lang, hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây’’
Việc nhờ cậy em cũng có hai chiều: nửa cậy em, nửa không muốn; đối với
chữ trinh có quan điểm chuẩn mực nhưng cũng có hối hận thầm kín, riêng tư
“Biết thân đến bước lạc loài / Nhị đào thà bẻ cho người tình chung’’. Với ông
trời, có khi vai trò được khẳng định tuyệt đối, có khi lại cho rằng con người có
khả năng tự thay đổi vận mệnh và chịu trách nhiệm trước cuộc sống của mình
“Người dầu muốn quyết trời nào đã cho’’
13
“Trời kia đã bắt làm người có thân’’
“Bắt phong trần phải phong trần’’
“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’’
“Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương!’’
Điều này thể hiện sự mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà thơ nhưng cái
nhìn nghệ thuật đa chiều lại là ưu điểm. Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du cho
thấy ông đã đổi mới quan niệm về con người, bao quát cuộc sống trong một

tác, tư duy nghệ thuật cũng như sự đánh giá của nhà văn về hiện thực cuộc sống.
Ngôn ngữ trong Truyện Kiều vừa mang màu sắc bác học với cách dùng từ
trang nhã, ước lệ; sử dụng khá nhiều điển tích, điển cố. Bên cạnh đó, sức sáng
tạo của Nguyễn Du còn thể hiện ở ngôn ngữ dân tộc mà nhà thơ đưa vào tác
phẩm một cách nhuần nhuyễn. Những từ thuần Việt, thành ngữ dân gian được
tác giả lồng vào đó cả lối suy nghĩ, cảm nhận theo tâm hồn người Việt đã mang
đến sự đồng cảm của đông đảo thế hệ và tầng lớp bạn đọc trong xã hội.
Giọng điệu là một trong những yếu tố chủ đạo cấu thành hình thức nghệ
thuật của một tác phẩm “giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn
học” [Từ điển thuật ngữ văn học, tr 135]. Nó phản ánh lập trường xã hội, thái
độ, tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả và tạo nên sức hấp dẫn cho mỗi tác
phẩm. Như vậy, tìm hiểu về giọng điệu trong một tác phẩm có thể đưa đến nhận
xét về thái độ đánh giá của nhà văn về hiện thực cuộc sống. “Mỗi một thời đại,
nhìn chung có một giọng điệu riêng, thể hiện cách thức chiếm lĩnh hiện thực và
lí giải hiện thực riêng. Gắn với điều này là quan niệm hiện thực của thời đại
ấy”
Trong Truyện Kiều, giọng chủ đạo là cảm thương, là tiếng kêu thương gắn
liền với cảm hứng nhân đạo trong tác phẩm. Truyện Kiều là lời đau đớn, da diết,
lay động lòng người. Giọng điệu này thể hiện rõ nét qua lời than, lời tâm sự, độc
thoại của nhân vật và lời bình luận của chính tác giả.
15
Chương III: Giải quyết vấn đề
3.1. Vận dụng Tiếp nhận Truyện Kiều theo hướng Thi pháp vào thực
tiễn giảng dạy đoạn trích Trao duyên
Ở những phần trên, người viết đã đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều
từ góc nhìn Thi pháp. Chúng tôi đã vận dụng hướng tiếp cận này vào giảng dạy
tiết 83, đoạn trích Trao duyên Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (SGK Ngữ văn
10, Tập 2) tại lớp 10B1, 10B2 và so sánh với việc dạy học không theo hướng đi
này ở lớp 10B3 trường THPT Trần Nhật Duật. Chúng tôi hướng dẫn học sinh
khai thác đoạn trích này từ đặc trưng thể loại; không gian và thời gian nghệ

2. Phương tiện
- Phần soạn bài của học sinh, tác phẩm trong sách giáo khoa, tranh ảnh
- Giáo án soạn giảng của giáo viên
III- Hoạt động của thầy trò
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc và tiếp nhận tác phẩm từ đặc trưng
thể loại và các yếu tố nghệ thuật để thấy được nội dung của tác phẩm.
- Học sinh tiếp nhận văn bản, thảo luận, đưa ra ý kiến
IV- Cách thức tiến hành
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Tác phẩm Truyện Kiều ra đời trong hoàn cảnh
xã hội như thế nào? Cho biết đánh giá của em về tác phẩm ?
3. Bài mới
* Lời vào bài: Toàn bộ Truyện Kiều là một bi kịch. Đoạn trích Trao
duyên là bi kịch nhỏ nằm trong bi kịch lớn. Sau khi đã quyết định bán mình
chuộc cha và em, Kiều vẫn canh cánh món nợ tình với Kim Trọng. Trong đêm
17
cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều đã trao duyên cho em. Đoạn trích
này tái hiện lại cảnh tượng trao duyên và tâm trạng của nàng Kiều.

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY, TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT

Học sinh đọc phần Tiểu dẫn và
nêu vị trí của đoạn trích
- Giáo viên cho học sinh xem
tranh Thúy Kiều trao duyên để
gợi không khí
Giáo viên: Tại sao Kiều phải
trao duyên?
Giáo viên: Truyện Kiều thuộc thể
loại nào? Đoạn trích này cho em

Giáo viên: Đoạn thơ là lời của ai
nói với ai? Trong tâm trạng nào?
Đọc với giọng điệu và nhịp điệu
nào để phù hợp?
Hướng dẫn đọc đoạn trích
Giáo viên: em hãy xác định mạch
tự sự của đoạn trích. Chuyển văn
bản văn vần sang dạng văn xuôi.
Giáo viên:
Nhân vật Thúy Kiều
được tái hiện trên những phương
diện nào?
Giáo viên: Đoạn trích trao duyên
tái hiện thời điểm nào trong cuộc
đời Thúy Kiều?
Giáo viên: Kiều trao duyên trong
khung cảnh nào? khung cảnh đó
có vai trò nào trong việc thể hiện
=> Thúy Kiều đau đớn tột cùng khi phải trao
duyên
- Đọc với giọng buồn tha thiết, càng về sau
càng tuyệt vọng, khẩn thiết, não nùng, bi ai.
- Mạch tự sự
+ Thúy Kiều nhờ cậy, thuyết phục Thúy Vân
thay mình kết duyên với Kim Trọng
+ Thúy Kiều trao kỉ vật cho Thúy Vân và dặn
Vân những chuyện sau này
+ Kiều trở lại với thực trạng đau xót khi nhớ
tới Kim Trọng
- Đoạn trích tái hiện lời nói, cử chỉ, hành

với một đối tượng cụ thể trong cuộc giao
tiếp.
- Kiều muốn em thay mình trả nghĩa cho
Kim Trọng
+ Với Kiều: để trả món nợ tình, vẹn nghĩa
với Kim Trọng
+ Với Vân: vì tình chị em mà chấp nhận thiệt
thòi trong tình yêu
- Cử chỉ: Lạy
=> Thể hiện thái độ kính cẩn, trang trọng
- Lời nói
+ Cậy là nhờ giúp đỡ. Ngoài ra, cậy còn
mang hàm nghĩa gửi gắm, tin tưởng, trông
mong, hi vọng.
+ Chịu lời là nài ép, bắt phải nhận, không thể
không nhận chứ không chỉ là tự nguyện như
nhận lời
=> Lời lẽ thắt buộc
+ Đứt gánh tương tư: tình cảnh bi đát, dang
dở và tâm trạng đau đớn, xót xa
+ Ngày quạt ước, đêm chén thề: Hạnh phúc
êm đềm, kỉ niệm ngọt ngào
+ Sự đâu sóng gió bất kì: tai họa đột ngột,
20
Giáo viên: Kiều đã kể câu chuyện
của mình với Vân như thế nào ?
Nhận xét cách sử dụng từ ngữ
của Kiều ?
Giáo viên: Đánh giá về ngôn ngữ
được sử dụng ?

21
Thảo luận về hành động của Thúy
Kiều.
Giáo viên: Thế nào là trao
duyên? hành động này thể hiện
điều gì về nhân vật ?
Giáo viên: Cách nàng Kiều trao
kỉ vật có gì khác lạ ?
Giáo viên: Thế nào là “của
chung”
Giáo viên: Em hãy cho biết tâm
trạng của Kiều sau khi trao kỉ
vật?
Giáo viên: Kiều có trao được
duyên không?
Giáo viên: Sau khi trao kỉ vật,
+ “Chiếc vành với bức tờ mây”
+ “Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày
xưa”
- Duyên này thì giữ vật này của chung
=> Kiều mâu thuẫn giữa lời nói và hành
động; lí trí và tình cảm. Vừa trao kỉ vật vừa
tiếc nuối, đau khổ
=> Kiều chất chứa tâm trạng đau đớn, giằng
xé, chua chát. Thực chất, đây là tâm trạng
giã biệt tình yêu sâu nặng với Kim Trọng
=> Duyên vì nghĩa mà trao được nhưng Tình
không thể trao. Mâu thuẫn giữa tình và nghĩa
mới giải được phần nghĩa còn phần tình vẫn
bế tắc nguyên vẹn.

lòng vị tha của Kiều.
- Kiều quên đi sự có mặt của Thúy Vân ; lời
nói hướng về Kim Trọng
=> Từ đối thoại chuyển thành độc thoại nội
tâm
+ Kiều tự nhận mình đã phụ bạc người yêu
+ Kiều trở về với đau đớn, mất mát trong
trong tình yêu, nỗi dày vò vì tình yêu tan vỡ.
+ Kiều nhận lỗi về mình nên muốn Kim
Trọng hiểu lòng mình
- Kiều gọi Kim Trọng trong đau đớn, mê
sảng. Đó là tiếng thét thảng thốt, ai oán của
nỗi đau lên đến tột đỉnh khiến nàng
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá
23
Trọng?
Giáo viên
: Cái “lạy” này khác
trước như thế nào ?
Giáo viên
: Lời gọi “Kim lang”
diễn tả điều gì ?
Giáo viên: Tại sao có thể xem
đây là thời điểm đau khổ nhất của
nàng Kiều ?
Giáo viên: Nghệ thuật xây dựng
nhân vật của Nguyễn Du có nét
đặc sắc nào?
- Ai đã chứng kiến câu chuyện

người. Con người với ý nghĩa cá nhân nhân
bản. Vượt qua mô hình con người đạo lí, tác
giả biến nhân vật thành con người tâm lí.
24
Du ra sao? Ông muốn nêu lên
vấn đề gì?
Giáo viên: Cho biết giá trị nghệ
thuật của đoạn trích?
Giáo viên: So sánh với tác phẩm
của Thanh Tâm Tài Nhân, Truyện
Kiều có những sáng tạo độc đáo
nào?
Giáo viên: Cho biết cảm nhận
của em về đoạn trích này?
- Đoạn trích cho thấy sự sáng tạo nghệ thuật
của Nguyễn Du
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.
+ Hình thức đối thoại dần chuyển vào độc
thoại nội tâm để nhân vật tự bộc lộ, phơi bày
nội tâm tình cảm và khát vọng sâu kín của
mình.
+ Ngôn ngữ tinh tế giàu sức biểu cảm và kết
hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học và bình
dân.
C- Kết luận
Đoạn trích Trao duyên cho thấy sức cảm
thông lạ lùng của tác giả với những khổ đau
và khát vọng hạnh phúc của con người.
Nguyễn Du thể hiện bút pháp điêu luyện và
sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật miêu tả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status