Đề tài:" ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC TỪ GÓC ĐỘ CHÚ GIẢI HỌC (tiếp theo) " pot - Pdf 21



Nghiên cứu triết học

Đề tài:" ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN
CỨU CHỦ NGHĨA MÁC TỪ GÓC ĐỘ
CHÚ GIẢI HỌC (tiếp theo) "

ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC TỪ GÓC ĐỘ CHÚ
GIẢI HỌC

(Bình luận về hai trường phái học thuật trong việc “đọc lại
Mác”)
(*)

DƯƠNG HỌC CÔNG
(Tiếp theo kỳ trước)
Bài viết hướng vào hai vấn đề: 1/ Làm thế nào để lý giải tính khách
quan trong ý nghĩa văn bản và tính hợp lý trong việc chú giải; 2/
Mục đích nghiên cứu văn bản của Mác là gì? Đối với vấn đề thứ
nhất, theo tác giả, cần thiết phải có những tiêu chuẩn nhất định. Đối
với vấn đề thứ hai, tác giả cho rằng, không ngừng thúc đẩy những

nhấn mạnh nên tách biệt “hàm ý” của từ ngữ khỏi “cách gọi”. Hàm ý
là những điều vốn có sẵn trong nội tại lời nói, còn cách gọi thì vượt
ra khỏi bản thân ngôn ngữ, gắn liền ngôn ngữ với thế giới. Paul
Ricoeur còn cho rằng, quan hệ giữa người đọc với văn bản, về cơ
bản, giống với quan hệ “ngữ cảnh” mà văn bản thể hiện. Lý giải
không phải là đem cái bóng của bản thân mình vào trong văn bản,
mà là để tiếp nhận một sự phóng đại về chính bản thân từ trong sự lý
giải ngữ cảnh của đối tượng chú giải. Thứ ba, Umberto Eco cho
rằng, “ý đồ tiền văn bản” (pre-textual intention) của tác giả - tức là ý
đồ dẫn tới khả năng sinh ra một tác phẩm - không thể trở thành tiêu
chuẩn có hiệu quả cho chú giải, thậm chí nó có thể không liên quan
gì tới ý nghĩa của văn bản hoặc có thể nảy sinh sự hiểu lầm trong
việc giải thích ý nghĩa văn bản.
Với những điều được tổng hợp trên đây, tôi cho rằng, phải có sự
phân biệt thích đáng giữa “ý nghĩa” hay “hàm ý” của văn bản với “ý
vị” hay “giá trị” (significance) của văn bản. Cái trước là cái vốn có
nội tại, ít nhất cũng là cái mà văn bản “cấp cho”. Cái sau là để nói về
người chú giải, là thứ được hình thành trong quan hệ với người chú
giải. Khi chưa phân biệt rõ ràng hai “ý nghĩa” không giống nhau này
người ta dễ rơi vào những hiểu lầm không đáng có về vấn đề tính
khách quan của ý nghĩa. Trong phần “ý nghĩa” đầu tiên, tôi vẫn thừa
nhận và bảo lưu khái niệm “nghĩa gốc”, nhưng phản đối việc “suy
diễn vô hạn” từ “ý đồ của tác giả”. Trong “ý nghĩa” thứ hai, tôi cho
rằng không nên quá cố chấp với “nghĩa gốc”, không nên có trạng
thái sợ hãi đối với sự “biến dạng” nghĩa, mà nên mở ra không gian
đọc rộng rãi cho việc nối dài tính đương đại của ý nghĩa văn bản.
Trên thực tế, nhìn từ góc độ chú giải học, trong bất cứ quá trình lý
giải hay chú giải nào đều tất yếu nảy sinh “sự biến dạng” hay “biến
hình”, cho dù chúng ta chỉ dịch tác phẩm của Mác sang tiếng Trung
thì tình trạng “biến hình” này cũng đã nảy sinh rồi. Bởi lẽ, “cho dù

đều thuộc sự giải thích không hợp lý. Còn sự giải thích hợp lý đang
chờ đợi “độc giả lý tưởng” của nó, tức là những người đọc hiểu tác
phẩm theo đúng yêu cầu của văn bản và đúng phương pháp mà tác
phẩm cần được hiểu như vậy. Cách giải thích của người “độc giả lý
tưởng” là sự giải thích hợp lý có được nhờ cách hiểu sáng tỏ, hợp lý,
có sức thuyết phục và có thể chấp nhận được, dẫu rằng không thể
loại bỏ được tính đa dạng trong sự giải thích, nhưng tính đa dạng đó
cũng không thể đồng nhất với sự tuỳ ý chủ quan(4).
Từ sau khi văn bản Mác được viết ra, luôn có rất nhiều cách để giải
thích nó. Ở đây, tồn tại quan hệ phức tạp giữa “một” và “nhiều”,
giữa “nguyên” (nguồn – ND) và “lưu” (chảy - ND). Văn bản triết
học Mác là do Mác viết ra, là thứ vốn có trong triết học Mác và được
hình thành một cách tự nhiên trong quá trình sáng tạo triết học này,
nhìn một cách tổng thể, nó là “một”; còn sự giải thích đối với văn
bản triết học Mác lại không giống thế, nó do những người khác thực
hiện (bao gồm cả những người trong cùng một thời đại hay những
người của thế hệ sau), do vậy nó có thể là “nhiều”. Nhìn chung, giải
thích văn bản phải lấy chính văn bản đó làm cơ sở, làm ngọn nguồn,
phải cố gắng hết sức để đạt được sự thống nhất với nội dung thực
chất của văn bản. Thế nhưng, sự “thống nhất” này là quá trình “đối
thoại” vô hạn không có điểm dừng. Trong quá trình ấy, các hình thái
phát sinh thêm trong hệ thống giải thích văn bản tất nhiên trở nên đa
dạng hoá(5). Giữa các hình thái đa dạng hoá này có thể hình thành
những quan hệ bổ sung lẫn nhau, hoặc cạnh tranh lẫn nhau. Sự chú
giải văn bản lại tạo nên một văn bản mới, chúng ta gọi nó là văn bản
phái sinh. Mối quan hệ giữa văn bản gốc được giải thích với văn bản
phái sinh được hình thành khi chú giải văn bản là mối quan hệ giữa
“nguyên” và “lưu” (chảy), giữa “một” và “nhiều”. Kiểu quan hệ này
không phải là quan hệ đơn giản giữa cái nảy sinh và được nảy sinh,
mà là kiểu quan hệ tuần hoàn. Một mặt, văn bản và ý nghĩa của nó

thích một tài liệu hay tư tưởng nào đó, đặc biệt là sự lý giải của các
nhà tư tưởng đối với những tư tưởng phức tạp như tư tưởng của Mác
thì tình huống sẽ phức tạp hơn nhiều, rất khó định luận và cũng
không thể cố thống nhất chúng làm một, bởi vì như vậy sẽ hạn chế
sự tự do phát triển tư tưởng. Nhưng, điều đó không có nghĩa việc
chú giải không có tiêu chuẩn hay chuẩn mực nào, mà chỉ là tiêu
chuẩn hay chuẩn mực này không được đặt định trước hay tiên
nghiệm. Chúng ta không thể nói rằng, “tư tưởng Mác trong ý nghĩa
thật sự của nó” là một vấn đề không có thật, nhưng nếu có ai tự cho
mình là người nắm được “tư tưởng Mác trong ý nghĩa thật sự của
nó” thì lại càng mắc sai lầm lớn hơn.
3. Mục đích nghiên cứu văn bản của Mác nằm ở đâu
Phương hướng nghiên cứu khác nhau không chỉ có chỗ đứng, cương
lĩnh hay phương pháp nghiên cứu khác nhau, mà còn có những yêu
cầu mục tiêu không giống nhau. Trong quá trình “tìm hiểu lại Mác”,
đòi hỏi nghiên cứu Mác trên cơ sở tài liệu đầy đủ, từ đó ngày càng
có thêm những sự hô hào mang tính học thuật, thậm chí hình thành
nên một “phong trào nghiên cứu văn bản Mác”. Cùng lúc này,
nghiên cứu về “giá trị đương đại chủ nghĩa Mác” cũng phát triển với
tốc độ nhanh chóng. Chúng đại diện cho hai khuynh hướng học thuật
khác nhau làm sâu sắc hơn việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác: trường
phái thứ nhất muốn thông qua văn bản để đọc hiểu, khôi phục lại
hoàn cảnh đặc biệt thời điểm mà Mác suy tư; làm rõ trạng thái ban
đầu và thực chất tư tưởng, nắm bắt một cách khách quan tư tưởng
của chính C.Mác, tiếp cận với thế giới tinh thần phức tạp của ông.
Trường phái thứ hai tuy cũng lấy việc nghiên cứu văn bản làm cơ sở,
song nó quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển đương đại của chủ
nghĩa Mác, tức là thông qua việc giải thích lại chủ nghĩa Mác để
nắm bắt các vấn đề thời đại, và vận dụng phương pháp tư tưởng của
Mác vào đương đại(6). Sự khác biệt trong hai khuynh hướng này

việc phải vượt qua sự hiểu sai và đọc sai Mác trước đây, bằng cách
đọc lại, hiểu lại, “quay về” với tinh thần chân thực của Mác vốn bị
“che khuất” trong tiến trình lịch sử (đặc biệt là trong sự giải thích
sau này), chứ không phải “trở về” với tất cả những kết luận có sẵn,
đồng thời giữ khư khư những kết luận có sẵn đó một cách giáo
điều(7). Thứ ba, trong nghiên cứu văn bản, có học giả đề xuất phải
“quay về tầng thứ học thuật” để tiến hành nghiên cứu, vì nhìn vào rất
nhiều hậu quả do việc quá nhấn mạnh tới tính chính trị trước đây
mang lại, thì ý nghĩa tích cực của chủ trương này là điều dễ hiểu.
Vấn đề là ở chỗ, không được bỏ qua “tầm nhìn chú giải” trong
nghiên cứu văn bản, đó phải là điều kiện tiên quyết. Nếu cố ý lẩn
tránh hay làm phai nhạt đi “tầm nhìn chú giải” của bản thân, hay coi
phương pháp trong “Biên soạn lịch sử khách quan” - đã từng bị
Hêghen và Mác phê bình - làm khuôn mẫu, biến việc nghiên cứu văn
bản Mác trở thành giống với các học vấn như “tri thức khảo cổ học”
hay “tinh thần cổ sinh vật học”, thì ý nghĩa của kiểu nghiên cứu này
không những bị giảm nhiều, mà chúng ta cũng sẽ biến thành “kẻ
nhàn rỗi mệt mỏi trong vườn tri thức” Mác (câu nói của Nietzsche).
Trên thực tế, kinh nghiệm trong lịch sử học thuật đã chứng minh
rằng, chỉ có đề xuất những vấn đề mới hoặc lựa chọn góc độ nghiên
cứu và phương pháp nghiên cứu mới, thì mới có thể có phát hiện
mới. Đương nhiên, cũng có một số môn khoa học, như khảo cổ học
hay văn bản học, đặc biệt dựa nhiều vào những tư liệu mới, nhưng
chính những môn khoa học này nếu muốn thực sự đạt được những
thành tựu mới, cũng không thể tách rời khỏi việc lựa chọn góc độ
nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu mới đối với những tài liệu
mới phát hiện.
“Tầm nhìn chú giải” được đặc biệt thể hiện rõ trong chú giải học
chính là “ý thức vấn đề” mà chúng ta vẫn thường nói đến. “Ý thức
vấn đề” là sự ý thức ra vấn đề của người giải thích, là “tiền kiến” hay

tại về mặt triết học(8). Triết học Mác vốn có đầy đủ tính đương đại,
tại sao lại bị “che khuất” đi do chính sự giải thích về nó? Đó là bởi
người giải thích đã thiếu đi “ý thức vấn đề” tương thích và hài hoà
với “tính đương đại” của triết học này. (Xem tiếp>>>)
ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC TỪ GÓC
ĐỘ CHÚ GIẢI HỌC (Tiếp theo)
DƯƠNG HỌC CÔNG

Trên thực tế, việc nghiên cứu về “giá trị đương đại của chủ nghĩa
Mác” có những cơ sở hiện thực sâu sắc. Sau khi chiến tranh lạnh kết
thúc, trên thế giới hay trong nước đều có không ít những lời bàn
luận về tiền đồ cũng như vận mệnh của chủ nghĩa Mác. Cho dù ảnh
hưởng của lời kêu gọi “cáo biệt” Mác có âm vang thế nào thì những
người quan sát một cách bình tĩnh cũng đều thấy rõ ràng là, cùng
với sự lan toả của toàn cầu hoá tư bản, chúng ta đang từng ngày
bước vào thế giới của những tư tưởng của Mác. Khoảng cách giữa
chúng ta với hình bóng Mác càng xa, thì thế giới ý nghĩa học thuyết
của ông lại càng gần chúng ta hơn. Đây cũng chính là cơ sở hiện
thực để khiến việc “tìm hiểu lại Mác” trở thành chủ đề nhận được
sự quan tâm của mọi người trong thời đại ngày nay(9). Nhìn từ góc
độ chú giải học, ý nghĩa của bất kỳ lý luận hay học thuyết nào cũng
đều không cô lập, không tồn tại bất động chỉ trong văn bản; trái lại,
còn tồn tại trong sự giải thích chúng sau này. Do vậy, ý nghĩa của
văn bản là mãi mãi chưa hoàn thiện, việc giải thích thêm sẽ mở ra
con đường để ý nghĩa văn bản hướng tới tương lai. Cần phải thông
qua sự giải thích không ngừng đổi mới để từ ý nghĩa “vốn có” của
văn bản tìm ra những ý nghĩa mới mà văn bản “cần có”; có như vậy,

trung thực” trong học thuyết Mác. Bản thân Mác đã đôi lần coi
những người không để ý đến sự thay đổi điều kiện lịch sử, chỉ biết
đơn giản “thuật lại” “lời nói” của ông là những người giáo điều. Có
thể thấy rằng, yêu cầu nội tại của “phản bản” bao hàm cả “khai tân”.
Nhưng “khai tân” muốn trở thành sự phát triển và giàu sáng tạo thì
không thể tách rời việc luôn nắm bắt một cách sâu sắc thực chất tinh
thần của học thuyết Mác, tức là yêu cầu không ngừng “phản bản”.
Nếu không như vậy, “khai tân” sẽ mất đi nền tảng và tiền đề phải có
của nó. Hiển nhiên, đây là một quá trình không ngừng đi lên trong
quỹ đạo tuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách vô hạn.
Nếu lấy tình hình của Trung Quốc để so sánh thì sự khác biệt của
hai trường phái nghiên cứu kể trên giống như cái gọi là sự cạnh
tranh giữa “Hán học” và “Tống học”. Mọi người đều biết rằng, các
học giả thời nhà Thanh đã phát động phong trào “quay trở lại thời
nhà Hán”, ý muốn quay trở lại với những sự chú thích của các học
giả thời Hán đối với kinh điển thời Tiên Tần. Đây chính là cái gọi là
“Hán học”. Họ gọi thuyết Tân Nho gia là “Tống học”, bởi vì học
phái Tân Nho gia chủ yếu được thịnh hành ở thời Tống. Phùng Hữu
Lan bình luận rằng, “sự tranh chấp giữa Tống học và Hán học trong
Nho giáo thời nhà Thanh là một trong những tranh luận lớn nhất
trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Xuất phát từ quan điểm của
chúng ta ngày nay, trên thực tế nó chính là sự tranh luận giữa việc
tiến hành những chú giải triết học và việc tiến hành chú giải từng
câu chữ đối với những tư liệu thời cổ. Sự giải thích câu chữ chú
trọng vào ý nghĩa vốn có sẵn của văn bản mà nó tin tưởng. Chú giải
triết học chú trọng vào ý nghĩa cần có của văn bản mà nó tin
tưởng”(11). Có lẽ chúng ta cũng không cần bàn luận về sự phân biệt
đó của ông đã thoả đáng hay chưa. Nhưng, đối với nghiên cứu kể
trên mà nói, cho dù là “quay lại Mác” hay khai thác “giá trị đương
đại của chủ nghĩa Mác” cũng đều thuộc về “sự chú giải triết học”,
(*) Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Học thuật, số 9, 2001 (tiếng
Trung).
(1) Xem: H.Gadamer. Chân lý và phương pháp, quyển thượng
(Hồng Hán Đỉnh dịch). Nxb Dịch thuật, Thượng Hải, 1999, tr.6.
(2) Xem: Derria. Viết và sự sai khác (Trương Ninh dịch). Tam Liên
thư điếm, 2001, tr. 25.
(3) Xem: Ecco. Giải thích và giải thích quá đà (Vương Vũ Căn
dịch). Tam Liên thư điếm, 1997.
(4) Tính tương đối trong việc chú giải tài liệu lịch sử một cách
phiến diện hoặc tuỳ tiện sẽ làm nảy sinh tình trạng giống như trong
nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc mà Trần Dần Cách đã phê
bình: “Những người bàn về triết học Trung Quốc cổ đại ngày nay
cũng chính là những nhà triết học đang bàn tới chính triết học của
họ bây giờ. Những người viết về Lịch sử triết học Trung Quốc,
cũng tức là những nhà triết học sử đương đại. Những lập luận của
họ càng chặt chẽ, hệ thống bao nhiêu thì lại càng rời xa thực chất
của học thuyết cổ nhân bấy nhiêu” (Trần Dần Cách. “Báo cáo thẩm
tra” về “Lịch sử triết học Trung Quốc”, xem: Phùng Hữu Lan. Lịch
sử triết học Trung Quốc, quyển hạ. Trung Hoa thư cục, bản mới
1962).
(5) Về tính đa dạng này, Fredric Jameson, khi đề cập đến tính đa
dạng trong ngôn ngữ lý luận, đã từng nói: chúng ta không nên quên
rằng chủ nghĩa Mác ngày nay không phải chỉ có một mà không có
phân nhánh. Thực ra, ngôn ngữ lý luận chủ nghĩa Mác có muôn
hình vạn trạng, do đó cách nói “chủ nghĩa Mác là một trường phái
độc tôn” không thể đứng vững. (Lôgíc văn hoá chủ nghĩa tư bản
thời kỳ cuối. Tam Liên thư điếm, 1997, tr. 19).
(6) Xem: Trương Nhất Binh và Hồ Đại Bình. Từ tính chân thực đến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status