Tăng cường huy động vốn tại tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí việt nam (PVFC) vnecon vn forum - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Với nội dung đề tài “Tăng cường huy động vốn tại Tổng Công ty Tài
chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC)”, trong bối cảnh năm 2008 khi nền
kinh tế gặp không ít sóng gió, đặc biệt là hệ thống ngân hàng và tài chính phải
đối mặt với sóng gió đầu tiên trên tiến trình khôi phục và phát triển kinh tế.
Theo hướng đi của chuyên đề, tôi đã có thời gian dài để nghiên cứu và trang
bị thêm nhiều kiến thức về cách viết, về cách nhìn nhận, đánh giá và giải
quyết những vấn đề trong thực trạng phát sinh trong hoạt động thu xếp và huy
động vốn của PVFC.
Để có những kết quả đạt được trong luận văn này, tôi chân thành cảm
ơn sự tận tình hướng dẫn với kiến thức chuyên sâu, định hướng và lập luận
sâu sắc của PGS.TS Vương Trọng Nghĩa giúp tôi lĩnh hội và tiếp thu kiến
thức và phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu. Tôi cũng xin chân
thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa đã đóng góp các ý kiến trong thời
gian xây dựng và hoàn thành. Bên cạnh đó, để hoàn thành được luận văn này
xin cám ơn sự ủng hộ, động viên và tạo điều kiện của những người thân: gia
đình, bạn bè và đồng nghiệp.
Qua những lời nhắn gửi này, tôi xin phép gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện để luận văn thành công
tốt đẹp.
Hà nội, tháng 10/2008.
MỤC LỤC
Trang
Danh sách bảng biểu và các ký tự viết tắt
Tóm tắt Luận văn
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của Công ty Tài chính 4
1.1. Hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính 4
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của Công ty Tài chính 4
1.1.2. Hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính 9
1.2. Họat động huy động vốn của Công ty Tài chính 17

76
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động marketing 77
3.2.4. Phát triển mạng lưới theo hướng hiệu quả 78
3.2.5. Phát triển công nghệ 79
3.2.6. Nâng cao trình độ cán bộ 80
3.2.7 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa hoạt động đầu tư, nguồn vốn và
dòng tiền 82
3.2.8 Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. 82
3.3. Kiến nghị 83
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 83
3.3.2. Kiến nghị với NHNN 85
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………
88
Danh mục tài liệu tham khảo
3
CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
Ký hiệu Ý nghĩa
PVFC : Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam
PV : Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCT : Tổng Công ty
CT : Công ty
CTTC : Công ty Tài chính
HĐV : Huy động vốn
TCTD : Tổ chức tín dụng
CTTC : Công ty Tài chính
TGĐ : Tổng Giám đốc
FDI : Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
PVFC : Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam

doanh nghiệp nhà nước và tăng cường năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập đang tạo ra cơ hội phát triển của ngành dịch vụ tài
chính và cơ hội cho các định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp.
Qua 7 năm hình thành và phát triển, từ một định chế tài chính với vốn
điều lệ ban đầu là 100 tỷ đồng, PVFC đã trải qua chặng đường phát triển đầu
tiên của mình với tất cả khó khăn và thách thức của một định chế tài chính
còn mới mẻ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Tháng 10 năm 2007, PVFC
chính thức bán đấu giá 59.638.900 cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), tăng
vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng.
PVFC với các ngành nghề kinh doanh là hợp tác đầu tư, hoạt động thu
xếp vốn, huy động vốn, dịch vụ tài chính, dịch vụ ủy thác vốn đầu tư, tín dụng
cá nhân và doanh nghiệp, kinh doanh ngoại hối. Trong đó các sản phẩm dịch
vụ mũi nhọn là thu xếp vốn và tài trợ dự án, đầu tư tài chính và các dịch vụ tài
chính tiền tệ khác. Trong các sản phẩm-dịch vụ nền tảng của công ty, sản
phẩm HĐV đóng góp phần quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm dịch
vụ mũi nhọn.
Các tổ chức tài chính có nguồn vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ khá
khiêm tốn, còn lại chủ yếu do huy động, vốn đi vay và vốn khác. Trong đó
6
huy động vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất. Vì vậy vấn đề huy động vốn là yếu tố hết
sức quan trọng quyết định đến sự phát triển và mở rộng kinh doanh, giúp tạo
dựng nguồn vốn vững chắc, ổn định đáp ứng nhu cầu kinh doanh của Công ty
đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Trong hoạt động kinh doanh, PVFC coi trọng sản phẩm mũi nhọn như
thu xếp vốn và tài trợ dự án, đầu tư tài chính, hợp tác đầu tư và các dịch vụ tài
chính tiền tệ khác nhưng nền tảng để làm tốt điều đó phải phát triển tốt nhất
các sản phẩm nền tảng như Huy động vốn. Công tác huy động vốn tại PVFC
đã đạt được rất nhiều thành quả, song bên cạnh đó còn bộc lộ một số tồn tại
cần tiếp tục được khắc phục để tăng cường huy động vốn tại PVFC nhằm hiện
thực hóa, thực hiện tốt nhất các vấn đề kinh doanh.

6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của Công ty Tài chính.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần
Dầu khí Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Tổng Công ty Tài
chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam.
8
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.3
Hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính
Ở nước ta, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hoạt động tài chính -
tiền tệ đã có nhiều đổi mới, theo hướng ngày càng gắn với thị trường, phù hợp
với lộ trình mở cửa, hội nhập. Trong quá trình ấy, cùng với sự xuất hiện các
loại hình công ty, các công cụ tài chính - tiền tệ mới, các tổ chức tài chính phi
ngân hàng (bao gồm các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty thuê
mua, công ty chứng khoán, công ty quản lý Qũy đầu tư ) đã ra đời và ngày
càng phát triển phong phú, đa dạng.
Ngày nay việc kinh doanh dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của
ngân hàng mà bên cạnh ngân hàng còn có CTTC, Công ty Bảo hiểm, CTTC,
các tổ chức tín dụng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng…Các CTTC ra đời và
phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Trong các nước phát triển
hầu như không một công dân nào không biết đến ngân hàng hoặc CTTC. Nền
kinh tế phát triển thì hoạt động của CTTC cũng như hoạt động của các ngân
hàng ngày một phát triển, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của
nền kinh tế trong việc thu xếp, tạo lập nguồn vốn cho sự phát triển trên thị
trường tài chính tiền tệ và tạo lập các công cụ tài chính.
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của Công ty Tài chính (CTTC)

thu xếp dòng tiền phục vụ mục tiêu kinh doanh một cách hợp lý, nguồn tiền
đó có thể đầu tư dự án, chứng từ có giá, các khu công nghiệp… và cho vay
với lãi suất cao hơn ra ngoài thị trường tạo nên bộ phận thu nhập của CTTC.
Để tạo lập nguồn vốn,CTTC phải trả lãi cho các khoản tiền gửi hoặc
các khoản vay và các chi phí khác. Với mục tiêu tăng cường hoạt động kinh
doanh và tối đa hoá lợi nhuận, CTTC thường xuyên tổ chức khai thác các
nguồn vốn với chi phí thấp để mở rộng cho vay và đầu tư, Xuất phát từ xu
hướng phát triển trong hoạt động của mình, các CTTC không ngừng mở rộng
mạng lưới hoạt động, đa dạng hoá hoạt động, các CTTC có thể vừa tăng thu
nhập vừa có thể cạnh tranh với CTTC thương mại, các định chế tài chính phi
tài chính khác trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế cao như hiện nay,
hoạt động của các tổ chức tài chính là môi giới trên thị trường tài chính ngày
càng phát triển cả về số lượng và quy mô, đa dạng và phong phú, hoạt động
đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên sự khác biệt giữa CTTC với các CTTC thương
mại ở chỗ, trong khi các CTTC thương mại huy động vốn từng khoản tiền gửi
và sau đó cho vay những khoản tiền lớn, thì các CTTC đi huy động, vay các
khoản tiền lớn và cho vay những món tiền nhỏ.
Một đặc điểm khác với CTTC thương mại và quỹ tiết kiệm là CTTC
không phải chấp hành luật dữ trữ bắt buộc và hoạt động ngoài sự kiểm soát
của CTTC Trung ương.
Các loại hình và đặc điểm của CTTC
CTTC ra đời gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, ở các công
nghiệp phát triển, thường có 3 loại hình CTTC với các đặc trưng sau:
11
• Các CTTC bán hàng, các công ty này cho những người tiêu dùng
vay tiền để mua hàng của một nhà sản xuất hay một nhà hàng bán
lẻ. Các công ty này trực tiếp cạnh tranh với các CTTC trong nghiệp
vụ cho vay tiêu dùng và được người tiêu dùng hưởng ứng hơn vì các
khoản cho vay được thực hiện nhanh chóng và tiện lợi ngay tại nơi

4) Công ty tài chính liên doanh: là Công ty tài chính được thành lập
bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng,
doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín
dụng nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
5) Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài: là Công ty tài chính được
thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
Đặc trưng của CTTC tại Việt Nam là các CTTC thường thuộc một
Tổng công ty hay thuộc một Tập đoàn, bởi hoạt động của chúng gắn liền với
chức năng thu xếp vốn cho đầu tư phát triển của ngành vừa thực hiện chứng
năng kinh doanh vốn của Tổng công ty hoặc Tập đoàn đó. Vai trò của CTTC
thuộc Tổng công ty hoặc Tập đoàn là hết sức quan trọng, làm gia tăng giá trị
của đồng vốn sử dụng, đồng thời là trung gian tài chính giúp ích cho việc luân
chuyển vốn chính thức, nhanh chóng, hiệu quả, an toàn giữa các thành viên
trong Tổng Công ty hoặc Tập đoàn hoặc từ các thành viên của Tập đoàn với
các đối tác bên ngoài.
13
Nếu nhìn vào sự tồn tại của các TCT hiện nay thì với gần 100 tổng
công ty (17 tổng công ty 91 và 76 tổng công ty 90) mới chỉ 6 tổng công ty đã
thành lập được CTTC (CTTC bưu điện thuộc TCT bưu chính viễn thông,
CTTC tàu thuỷ thuộc TCT tàu thuỷ VN, CTTC dệt may thuộc tổng công ty
dệt may, Cty tài chính cao su thuộc TCT cao su VN, Tổng Công ty Tài chính
Cổ phần Dầu khí Việt Nam thuộc Tập đoàn Dầu khí VN và mới nhất là CTTC
thuộc TCT than VN) hoạt động theo nghị định 79/2002/NĐ-CP về “tổ chức
và hoạt động của CTTC” được chính phủ ban hành ngày 04.10.2002 và mẫu
điều lệ CTTC trong TCT ban hành theo quyết định số 104/QĐ-NH5.
Trong khi thực hiện vai trò trung gian tài chính trong Tổng công ty
hoặc Tập đoàn của mình, CTTC đảm trách việc chuyển vốn nhàn rỗi từ Tập
đoàn, Công ty thành viên, dân cư, CTTC sang người có nhu cầu về vốn, đồng
thời tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền mặt làm phương tiện

để TCT tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động cho TCT với các nghiệp
vụ:
1) Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo vốn từ việc nhận tiền gửi
của các tổ chức, cá nhân, từ các hoạt động thanh toán, uỷ thác hoặc từ việc
phát hành các chứng từ có giá để phục vụ cho các hoạt động cho vay, đầu
tư của CTTC.
2) Hoạt động tín dụng
- Cho vay:
15
Như hoạt động cho vay của ngân hàng, CTTC cũng cho vay nhằm tài trợ về
vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức. Các CTTC giao cho khách hàng
sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.
*) Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của
CTTC Nhà nước.
Tuỳ theo thời hạn cho vay, khoản vay của khách hàng được phân thành
vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Ngắn hạn: thời hạn vay dưới 12 tháng;
Trung hạn: thời hạn vay từ 12 tháng đến 05 năm; Dài hạn: thời hạn vay từ 05
năm trở lên.
Tình trạng khóa khăn về tài chính của một số CTTC thường phát sinh
từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân: quản lý yếu
kém, cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không
hợp lý, tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế…
Vốn vay từ nguồn cho vay trung và dài hạn sẽ cấu thành nên tài sản cố
định của các doanh nghiệp được tồn tại dưới hình thức hiện vậy đó là: phương
tiện vận tải, thiết bị máy móc, nhà cửa tăng thêm. Với những tài sản cố định
được bổ sung sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách bình
thường. Về phía CTTC cũng tìm được đối tượng đầu tư ổn định và có hiệu
quả. Cho vay trung dài hạn đem lại cho CTTC nguồn thu lớn.

- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có
giá khác
17
Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình
thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho CTTC để nhận một khoản
tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu; CTTC có thể chiết khấu thương
phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp.
Tái chiết khấu là việc CTTC thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá
còn thời hạn thanh toán thuộc sở hữu của các Tổ chức tài chính khác. Các
giấy tờ có giá này đã được các CTTC chiết khấu, tái chiết khấu trên thị trường
thứ cấp.
- Bảo lãnh
Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của
mình đối với người nhận bảo lãnh. Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính phải
được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật Các tổ chức
tín dụng và hướng dẫn của CTTC Nhà nước.
CTTC cam kết sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi nếu người
được bảo lãnh không thực hiện đúng và đủ những cam kết đối với bên yêu
cầu bảo lãnh. CTTC thực hiện bảo lãnh cho khách hàng dưới các hình thức:
bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự
thầu và một số hình thức bảo lãnh khác.
- Đồng tài trợ dự án đầu tư:
CTTC đứng ra làm đầu mối kêu gọi các tổ chức tín dụng khác cùng cho
vay một dự án. Điều này là do CTTC thiếu vốn, hoặc có thể hạn mức cho vay
đối với doanh nghiệp đã hết. Và đây thường là những dự án lớn, thời gian dài
và lãi suất cao.
- Thu xếp vốn đầu tư:
18
CTTC sẽ thay mặt bên vay tìm kiếm nguồn vốn cho dự án; Soạn thảo,
đàm phán các điều kiện của Hợp đồng vay vốn; Hỗ trợ bên vay và các thành

ngoài.
Hiện nay, các công cụ đầu tư trên thị trường tài chính ngày càng đa
dạng, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế, trong điều kiện
thị trường tài chính phát triển như vậy, hoạt động đầu tư của các CTTC cũng
trở nên ngày càng đa dạng hơn. Tỷ trọng sử dụng vốn đầu tư trong tổng tài
sản có ngày càng tăng.
Đầu tư ngắn hạn
Hoạt động đầu tư ngắn hạn của CTTC chủ yếu là việc nắm giữ các giấy
tờ có giá ngắn hạn, thông thường có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm: Tín
phiếu kho bạc, thương phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. Việc nắm giữ các
giấy tờ có giá ngắn hạn cũng làm tăng tính lỏng của tài sản có, khi có nhu cầu,
các CTTC có thể dễ dàng mua – bán các giấy tờ này trên thị trường tiền tệ thứ
cấp.
Tại các nước có thị trường tài chính tiền tệ và phát triển, tỷ trọng sử
dụng vốn đầu tư vào các giấy tờ có giá ngắn hạn, đặc biệt là tín phiếu kho bạc
chiếm một tỷ lệ đáng kể bởi đây là loại hàng hoá có tính lỏng cao, tạo điều
kiện cho các CTTC linh hoạt trong việc sử dụng vốn khả dụng.
Đầu tư trung và dài hạn
Đầu tư trung và dài hạn của các CTTC là các hoạt động đầu tư có thời
hạn trên 1 năm, bao gồm: Đầu tư vào các loại chứng khoán dài hạn như trái
phiếu chính phủ, mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các loại chứng
20
khoán khác trên thị trường chứng khoán cả trong nước và quốc tế; góp vốn,
mua cổ phẩn của các tổ chức kinh tế, góp vốn đầu tư trực tiếp vào các doanh
nghiệp…
Trong các loại giấy tờ có giá dài hạn, trái phiếu chính phủ là loại hàng
hoá có độ rủi ro thấp, tạo điều kiện cho CTTC giảm thiểu rủi ro khi nắm giữ
nó. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu và đầu tư góp vốn
vào các doanh nghiệp cũng giúp cho các CTTC thâm nhập vào hoạt động của
doanh nghiệp, nắm được thông tin của khách hàng, mở rộng màng lưới khách

Vốn là năng lực chủ yếu đối với CTTC, nó quyết định đến khả năng,
quy mô hoạt động của nó. CTTC có nguồn vốn kinh doanh lớn cho phép mở
rộng các hình thức kinh doanh hay đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh,
quyết định khả năng thanh toán chi trả của CTTC. Nếu có nguồn vốn lớn,
năng lực thanh toán tốt thì giúp cho các CTTC giảm thiểu rủi ro, sẽ gây được
uy tín trên thị trường.
Vốn của CTTC còn là một nhân tố tác động đến sự thắng lợi trong cạnh
tranh, tạo cho CTTC có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. CTTC có
khả năng vốn dồi dào cho phép điều chỉnh phí bình quân đầu vào và chủ động
trong việc hợp tác đầu tư, thu xếp vốn kinh doanh, đây thực sự là một lợi thế
cạnh tranh.
Mặt khác, hoạt động của CTTC khi có nguồn vốn lớn và dồi dào sẽ có
đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, thoát khỏi hình
thức kinh doanh đơn điệu, có quỹ dự trữ cần thiết tạo đà mở rộng quy mô hoạt
22
động tín dụng và đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và chủ động trong việc
đầu tư, hợp tác đầu tư, thu xếp vốn kinh doanh, đây thực sự là một lợi thế
cạnh tranh.
Vốn của CTTC là nhận tiền gửi của TCT, các doanh nghiệp thành viên
của TCT, các doanh nghiệp cùng ngành kinh tế kỹ thuật mà TCT kinh doanh
và công nhân viên trong TCT Để có một khối lượng vốn lớn từ nhiều nguồn
phong phú, đa dạng đòi hỏi các CTTC phải đa dạng hoá được các nguồn vốn
nghĩa là có một tỷ trọng vốn trung và dài hạn thích hợp để thực hiện chức
năng của một tổ chức tài chính, khi thực hiện tốt chức năng đó, CTTC sẽ luôn
giữ được lợi thế trong cạnh tranh, uy tín của tổ chức sẽ không ngừng được
nâng cao.Vốn nói chung của CTTC bao gồm: Vốn chủ sở hữu và Vốn nợ.
1.4.1. Huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu gồm có vốn hình thành ban đầu, vốn điều lệ và vốn bổ
sung trong quá trình kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh

vốn điều lệ bằng Đôla Mỹ hoặc bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp góp bằng
Đồng Việt Nam, số tiền góp vốn điều lệ phải được quy đổi ra Đôla Mỹ theo tỷ
giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên CTTC giữa Đồng Việt
Nam với Đôla Mỹ do CTTC Nhà nước công bố tại thời điểm góp vốn.
Bằng hiện vật: Vốn điều lệ được góp bằng hiện vật phải là tài sản có giấy tờ
hợp pháp chứng minh quyền sở hữu và là tài sản cần thiết phục vụ trực tiếp
cho hoạt động của Công ty tài chính. Việc định giá và chuyển quyền sở hữu
24
tài sản góp vốn được thực hiện theo quy định hiện hành của luật pháp Việt
Nam.
*) Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, CTTC gia tăng vốn chủ sở hữu từ nguồn lợi
nhuận, từ phát hành cổ phần, góp thêm, cấp thêm hoặc từ các khoản vay trung
và dài hạn có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần. Nói chung vốn bổ
sung này không thường xuyên, phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh
của CTTC hoặc vào từng điều kiện cấp thiết.
1.4.2. Huy động nợ
Các CTTC với tư cách là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính trung
gian, huy động vốn từ các nguồn sau:
*) Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân
theo quy định của CTTC Nhà nước.
Các CTTC nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân, tuy nhiên khác biệt
giữa nghiệp vụ tiền gửi của các CTTC với ngân hàng là kỳ hạn tiền gửi từ
một năm trở lên. Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán
khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn.
Căn cứ vào mục đích của tiền gửi, có thể phân loại thành ba loại tiền gửi sau:
*) Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ
được chi trả sau một thời gian xác định. Người gửi không được sử dụng các
hình thức thanh toán nhưng bù lại được hưởng lãi suất cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status