LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài, trong khi
thống nhất chưa được bao lâu nên xuất phát điểm nền kinh tế không cao, nền sản
xuất ở mức độ thấp, công nghệ kĩ thuật lạc hậu,… Thực hiện quá trình công nghiệp
hóa và hiện đại hóa, nước ta đã bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể như:
tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, ổn định, tốc độ lạm phát được kiểm soát
và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Trong điều kiện hiện nay, khi xu
thế hội nhập và hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế cũng như giữa các
quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên rõ ràng và cần thiết hơn bao giờ hết thì
ngành ngân hàng đang đóng vai trò như là huyết mạch. Hệ thống ngân hàng nếu
phát triển sẽ có tác dụng tích cực đến mọi hoạt động của xã hội và ngược lại, cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua là một minh chứng cho thấy vai trò đó. Khi
các nền kinh tế trên thế giới đang dần phục hồi thì ngành ngân hàng là đòn bẩy
quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình này. Ở nước ta, hoạt động của lĩnh vực ngân
hàng, tài chính trong thời gian qua được đánh giá là khá tốt. Tuy nhiên, đây vẫn là
lĩnh vực được đánh giá là tiềm năng, đáng được quan tâm và đầu tư hơn nữa. Với
gần 90 triệu người dân và khoảng hơn 400 ngàn doanh nghiệp, các ngân hàng đang
có những cơ hội rất lớn để phát triển.
Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh,trái tim của nền kinh tế , là dấu hiệu
báo hiệu sức khỏe của nền kinh tế.Các ngân hang mạnh nền kinh tế mạnh,ngược lại
các ngân hàng yếu kém nền kinh tế sẽ yếu kém.Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền
kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ
Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các
hoạt động cho vay và đầu tư.Ngân hàng thương mại đã thâm nhập vào mọi lĩnh
vực kinh tế - xã hội như là người mở đương,người tham gia,người quyết định đối
với mọi quá trình sản xuất kinh doanh.Ngân hàng thương mại ngày càng đóng vai
trò là trung tâm tiền tệ , tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế , là định
chế quan trọng nhất của nền kinh tế
Chính vì tầm quan trọng to lớn của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh
tế nên trong quá trình thực tập tại Chi nhánh Hà Thành Ngân hàng thương mại cổ
phần Bắc Á, em đã chọn đề tài : “Thực trạng hoạt động của Ngân hàng thương
động và hiền là một trong số các Ngân hàng TMCP lớn với mạng lưới hoạt động
khắp các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm trong cả nước
Để có thể đứng vững và phát triển, Ngân hàng TMCP Bắc Á ngoài huy động
vốn , cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán đã không ngừng đa dang hóa việc
cung cấp các dịch vụ : Mở tài khoản nội tệ , ngoại tệ , nhận tiền gửi , đầu tư cho
vay và bảo lãnh , thanh toán trong nước và ngoài nước , tài trợ thương mại ,
chuyển tiền nhanh, kinh doanh ngoại hối , phát hành và thanh toán thẻ, séc du lịch ,
ngân hành trực tuyến ….Ngoài hoạt động chính là kinh doanh tiền tệ , Ngân hàng
thương mại cổ phẩn Bắc Á còn tham gia vào kinh doanh vào lĩnh vực du lịch và
khách sạn.Hiện tại Ngân hang Bắc Á đang trực tiếp đầu tư , quản lý và khai thác
khách sạn Xanh ( Green hotel) đạt tiêu chuẩn ba sao tại thị xã Cửa Lò Nghệ An
Không dừng lại ở đó Ngân hàng TMCP Bắc Á còn là thành viên chính thức của
Hiệp hội thanh toán viễn thông lien Ngân hàng toàn cầu , Hiệp hội các Ngân hàng
Châu á, Hiệp hội các Ngân hàng Việt Nam và phòng công nghiệp thương mại Việt
Nam. Trong những năm hoạt động , Ngân hàng thương mại cổ phẩn Bắc Á đã vinh
dự nhận đươc cờ thi đua của Thủ tướng Chinh Phủ , bằng khen của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về thành tích hoạt động kinh doanh và cờ thi đua của Ủy ban
nhân dân tỉnh Nghệ An , là một trong mười Ngân hàng được chọn tham gia vào hệ
thống Thanh toán tự động lien Ngân hàng
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh Hà Thành
Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á – Chi nhánh Hà thành được
thành lập theo quyết định số 52/2006-HĐQT ngày 11/5/2006 của hội đồng quản trị
Ngân hàng Bắc á về việc thành lập Chi nhánh Phương Mai sau đổi thành chi nhánh
Hà Thành trụ sở đặt tại 11 Nguyễn Thị Định – Cầu Giấy – Hà Nội. Sau hơn 6 năm
hoạt động Chi nhánh ngày càng phát triển và mở rộng về quy mô. Bộ máy bao gồm
Ban giám đốc Chi nhánh và các phòng trực thuộc.
Để tìm kiếm khách hàng và thu hút huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh
tế, Ban giám đốc Chi nhánh bắt tay xây dựng các chiến lược phát triển kinh doanh
tại chi nhánh và tìm kiếm các địa điểm tiềm năng để mở rộng mạng lưới lập thêm
các phòng giao dịch và quỹ tích kiệm nhằm nâng cao doanh số huy động vốn trong
tạo cán bộ, thường xuyên tổ chức các khóa học nghiệp vụ sát với thực tiễn, sát với
yêu cầu của một thị trường có tính cạnh tranh cao, sát với nhu cầu tác nghiệp, kế
hoạch và chiến lược phát triển của đơn vị. Đội ngũ này đã có những đóng góp tích
cực và quan trọng trong việc xây dựng và phát triển mô hình hoạt động hiện hành
của chi nhánh, tạo dựng một thương hiệu riêng cho Chi nhánh.
b. Nhiệm vụ các phòng ban
b.1. Giám đốc chi nhánh
BAN GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
BAN GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
Phòng
Kế
toán-
Tài
chính
Phòng
Kế
toán-
Tài
chính
Phòng
Tiền tệ-
Kho
quỹ
Phòng
Tiền tệ-
Kho
quỹ
Phòng
Dịch vụ
Khách
Giao
Dịch
II
Phòng
Giao
Dịch
III
Phòng
Giao
Dịch
III
Phòng
Giao
Dịch
IV
Phòng
Giao
Dịch
IV
Giám đốc ngân hàng là người đứng đầu Ngân hàng và thực hiện các nhiệm vụ
quyền hạn, điều hành hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và báo cáo lên cho
người quản lý ngân hàng cấp trên.
Chịu trách nhiệm cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và thực
hiện các chương trình kế hoạch theo quy chế của Ngân hàng cấp trên.
b.2. Phó giám đốc
Phó giám đốc là nhà quản lý cấp dưới bên cạnh Giám đốc, phụ trách một số
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhiệm vụ khác của đơn vị và chịu trách nhiệm
công việc trước giám đốc .
Thay mặt Giám đốc thực hiện các công việc được ủy quyền thông qua văn bản
ủy quyền. Là người tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực chuyên môn của mình
VND và ngoại tệ đảm bảo đúng quy trình, chế độ quản lý kho quỹ của Nhà Nước,
của ngành Ngân hàng và Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Nhiệm vụ:
- Thực hiện thu chi tiền mặt VND , ngoại tệ và séc du lịch đảm bảo an toàn kho
quỹ.
- Quản lý, bảo quản kho tiền, ấn chỉ quan trọng, các loại tiền ngoại bảng, các giấy
tờ có giá do các phòng nghiệp vụ gửi theo đúng quy định của NHNN Việt Nam
và Ngân hàng TMCP Bắc Á .
- Thực hiện điều chuyển tiền mặt VND và ngoại tệ, séc du lịch, thực hiện tiếp
quỹ, điều quỹ cho các phòng giao dịch, đảm bảo định mức tồn quỹ theo quy
định.
- Giám định tiền giả; kiểm tra, phân loại tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông đảm bảo
bảo an toàn lưu thông theo quy định của NHNN Việt Nam và Ngân hàng
TMCP Bắc Á.
- Chuẩn bị đầy đủ tiền VND để tiếp quỹ cho hệ thống ATM của Chi nhánh.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và bất thường theo yêu cầu của Ban giám
đốc; của Ngân hàng TMCP Bắc Á .
b.5. Phòng khách hàng :
Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Khách hàng được thực hiện theo quy định
chức năng, nhiệm vụ của các phòng thực hiện nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Bắc Á.
b.6. Phòng tín dụng
Chức năng:
Phòng tín dụng là phòng nghiệp vụ có chức năng triển khai nghiệp vụ cấp tín
dụng đối với đối tượng khách hàng là gồm: cho vay, bảo lãnh theo đúng các quy
định, quy chế về cho vay hiện hành của Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Phòng Tín dụng thể nhân là đầu mối trong việc triển khai các chính sách và sản
phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Bắc Á tại chi nhánh Hà
Thành.
Nhiệm vụ:
chính sách, chủ trương của Ngân hàng TMCP Bắc Á ;
- Marketing, thông tin tuyên truyền quảng bá thương hiệu, hình ảnh Chi nhánh
Hà Thành Ngân hàng TMCP Bắc Á;
b.8. Các phòng giao dịch
Ngân hàng TMCP Bắc Á chi nhánh Hà Nội có một sự phát triển mạnh về quy mô.
Thể hiện qua sự phát triển của hệ thống phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh. Mặc
dù quy mô hoạt động là khác nhau song Giám đốc Chi nhánh NHTMCPNT Hà Nội
quy định chức năng, nhiệm vụ chung cho các phòng Giao dịch đó là huy động vốn;
Cho vay cầm cố, thế chấp tài sản đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình
và cá nhân; Các dịch vụ về ngân hàng tại Chi nhánh. Ngoài ra, một số phòng Giao
dịch có những chức năng khác tùy theo quyết định của Giám đốc chi nhánh
NHTMCPNT Hà Nội.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI
NHÁNH HÀ THÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á
I. Phân tích khái quát báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Bắc Á (2009-
2011)
bảng 1 :báo cáo tài chính Ngân hàng TMCP Bắc Á (2009-2011)
1. Đánh giá khai quát về tình hình Tài sản – Nguồn vốn
1.1. Về tài sản
Năm 2009 tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Băc Á đạt 11.572.688 triệu đồng.
Năm 2010 con số này tăng lên 18.786.402 triệu đồng tăng 7.213.714 triệu đồng
tương đương tăng về số tương đối là 62,33 %. Con số này tiếp tục tăng lên mức
22.566.395 triệu đồng vào năm 2011 tương đương ở mức tăng 3.779.994 triệu
đồng về số tuyệt đối và 20,12 % về số tương đối. Chỉ trong vòng 3 năm tổng tài
sản của Ngân hàng TMCP Bắc Á đã tăng gấp đôi từ hơn 11 tỷ (2009) đến hơn 22
tỷ (2011).
Có thể thấy trong cơ cấu tài sản của Ngân hàng TMCP Bắc Á thì khoản mục
“cho vay và cho thuê tài chính khách hàng” luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong
tổng tài sản. Năm 2009, dư nợ cho vay là 5.197.546 triệu đồng , chiếm 44,91% tỷ
trọng tổng tài sản của Ngân hàng. Sang đến năm 2010 dư nợ của Ngân hàng tiếp
cấu tổng tài sản. Đây là một tốc độ tăng trưởng rất cao thể hiện một sự tăng trưởng
lớn trong khoản mục đầu tư của Ngân hàng TMCP Bắc Á. Đầu tư là khoản mục
mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng chỉ sau khoản mục tín dụng. Việc đầu tư vào
các lọa chứng khoán là cách để Ngân hàng TMCP Bắc Á đa dạng hóa các khoản
mục đầu tư, tối ưu hóa các nguồn vốn lỏng nâng cao hệ số sử dụng vốn đồng thời
lại đảm bảo khả năng thanh toán lúc cần thiết cho Ngân hàng do Ngân hàng có thể
bán và chiết khấu thông qua thị trường. Việc này càng phát triển danh mục đầu tư
của Ngân hàng TMCP Bắc Á đưa đến cho Ngân hàng nhiều lợi nhuận, nhiều điều
kiện thuận lợi nhưng nhà quản trị Ngân hàng cũng cần xem xét để có một cơ cấu
hợp lí trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế hiện nay.
Trong năm 2011, do sự khó khắn chung của tình hình kinh tế, ngoài các khoản
mục có sự tăng trưởng nhanh như đã nêu ở trên thì một số khoản mục như “ chứng
khoán kinh doanh”, “ tiền và vàng gửi các TCTD khác” có sự suy giảm. “Chứng
khoán kinh doanh” năm 2009 đạt 53.158 triệu đồng chiếm 0,46% tỷ trọng, năm
2010 tăng lên 61.023 triệu đồng chiếm 0,32 % tỷ trọng tổng tài sản nhưng đến năm
2011 lại có sự sụt giảm lớn, chỉ còn 35.447 triệu đồng chiếm 0,16 % tỷ trọng giảm
hơn so với năm 2010 là 25577 triệu đồng, tương đương giảm 41,91 %.
Khoản mục thứ 2 có sự suy giảm trong năm 2011 là “tiền, vàng gửi các TCTD”.
Năm 2011 giảm 445.049 triệu đồng, tương đương giảm 7,77% so với năm 2010.
Nhìn một cách tổng quát ta thấy rằng cơ cấu tài sản của Ngân hàng TMCP Bắc Á
khá hợp lý. Các khoản mục sinh lời đều chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của
Ngân hàng mà cao nhất là “cho vay và cho thuê tài chính khách hàng”. Tuy vậy
Ngân hàng nên nâng cao tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tổng tài sản
hơn nữa đồng thời với việc đó là nâng cao chất lượng tín dụng. Việc đầu tư mang
lại lợi nhuận , đa dạng hóa các danh mục đầu tư, tính năng thanh khoán khi năm
giữ các chứng khoán hiệu quả nhưng các nhà quản trị Ngân hàng cũng phải xây
dựng một tỷ lệ hợp lý trong tổng tài sản của Ngân hàng.
1.2. Về nguồn vốn
Nhìn chung tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của Ngân hàng TMCP Bắc Á
tăng qua các năm từ 2009 – 2011. Để thấy được mức độ tăng ta sử dụng bảng 1cho
nhưng đến cuối năm 2011 con số này đã giảm và dừng lại ở mức 31.550 triệu đồng
chiếm 0,14% tỷ trọng. Chỉ qua 3 năm khoản mục này đã giảm tới 172.553 triệu
đồng tương đương giảm hơn 500 % (2009-2011) .
Khoản mục giảm sút tiếp theo là “các khoản nợ chính phủ và NHNN” . Năm
2010 là 1.011.415 triệu đồng chiếm 5,38% tỷ trọng tổng nguồn vốn. Sang năm
2011 con số này giảm đi 596.714 triệu đồng tương đương giảm 59% đưa khoản
mục này về mức 414.700 triệu đồng chiếm 1,87% trong tổng nguồn vốn. Ngân
hàng cần tìm ra nguyên nhân cho sự giảm sút này
Tổng nguồn vốn tăng mạnh đồng thời tổng tài sản của Ngân hàng tăng lên cho
thấy sự tăng trưởng và phát triển của Ngân hàng TMCP Bắc Á. Với số vốn có
trong tay Ngân hàng TMCP Bắc Á đã xây dựng được cơ cấu tài sản khá hợp lí
trong đó mảng tín dụng và đầu tư chiếm tỷ trọng lớn. Sự ăn khớp giữa cơ cấu tài
sản –nguồn vốn cho ta thấy một chiến lược kinh doanh hiệu quả của Ngân hàng
TMCP Bắc Á đồng thời tạo ra hình ảnh về một Ngân hàng luôn chủ động trước
những biến động trong tương lai, tiến lên không ngừng trong thực tiễn hoạt động
kinh doanh của mình
2. Phân tích tình hình thu nhập- chi phí- khả năng sinh lời của Ngân hàng
TMCP Bắc Á
2.1. Phân tích tình hình thu nhập của Ngân hàng TMCP Bắc Á
bảng 2:tình hình thu nhập của Ngân hàng TMCP Bắc Á
Đơn vị: triệu
đồng
Nhìn một cách tổng quát ta thấy tổng thu nhập của Ngân hàng TMCP Bắc Á
năm 2009 là 1.055.002 triệu đồng , năm 2010 tăng thêm 557.170 triệu đồng tương
đương tăng thêm 52,81 % đưa tổng thu nhập tăng lên và đạt 1.612.173 triệu đồng ,
năm 2011 tổng thu nhập là 2.731.948 triệu đồng tăng 1.119.776 triệu đồng tương
đương tăng 69,46 %.
Hầu hết các khoản mục đều có sự tăng trưởng, cụ thể là: Cũng như các Ngân
hàng thương mại khác, nguồn thu từ các nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng
TMCP Bắc Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Khoản “ thu nhập từ lãi và các khoản
Năm 2009 khoản chi này là 147.972 triệu đồng chiếm 17,56 % tổng chi phí năm
2010 khoản chi này là 198.469 triệu đồng chiếm 14,67 % tổng chi phí, tăng tuyệt
đối 50.497 triệu đồng tương đối tăng 34,13 % , khoản chi này năm 2011 là 262.400
triệu đồng chiếm 11,22% tổng chi phí.
Khoản “chi dự phòng rủi ro tín dụng” chiếm tỷ trọng khá cao ở năm 2009 với
mức 7,14 % tuy nhiên có xu hướng giảm mạnh trong các năm 2010, 2011 lần lượt
ở các mức 3,58% và 1,83%
2.3. Phân tích tình hình lợi nhuận của Ngân hàng TMCP Bắc Á
bảng 4: tình hình lợi nhuân của Ngân hàng TMCP Bắc Á
đơn vị: triệu đồng
Nhìn vào bảng lợi nhuận của Ngân hàng TMCP Bắc Á cho thấy lợi nhuận của
năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng luôn ở mức cao.Năm 2009, tổng thu là
1.005.002 triệu đồng , tổng chi là 842.481 triệu đồng và lợi nhuận là 212.521 triệu
đồng. Sang đến năm 2010 tổng thu đạt 1.612.173 triệu đồng tổng chi là 1.353.078
triệu đồng nên lợi nhuận thu được là 259.094 triệu đồng tăng 46.573 triệu đồng,
tương đối tăng 21,91%. Sang đến năm 2011 tổng thu đạt được là 2.731.948 triệu
đồng tổng chi là 2.337.728 triệu đồng nên lợi nhuận đạt được là 394.221 triệu đồng
tăng 135.126 triệu đồng so với năm 2010 tương đối tăng 52,15%. Đây là con số thể
hiện sự nỗ lực hoạt động của Ngân hàng TMCP Bắc Á trong giai đoạn 2009-2011.
2.4. Lợi nhuận và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân.
bảng 5:chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bắc Á
Nhìn vào bảng ta thấy ROA của Ngân hàng TMCP Bắc Á năm 2009 đạt 2,24%,
năm 2010 thấp hơn 2009 đạt 1,71 % sang đến năm 2011 bắt đầu có sự tăng trưởng
trở lại đạt mức 1,91 %. ROE năm 2009 đạt 26,28 %, năm 2010 đạt 24,8 % năm
2011 tăng lên 28,79 %
Mức tăng ROA,ROE (2010-2011) hay giảm (2009-2010) là do nguyên nhân
sau:
- Trong giai đoạn 2009-2010, tổng tài sản chỉ tăng 20,12 % nên ROA, ROE có
xu hướng giảm, nhưng đến năm 2011 tổng tài sản tăng lên tới 62,33% nên ROA,
ROE cũng tăng lên
thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi
khác phát sinh trong kinh doanh một cách thường xuyên. Hình thức này rất an toàn
và thuận tiện.
Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền được gửi vào Ngân hàng với mục đích an
toàn và tiện lợi, không mang tính phục vụ thanh toán. Khi cần khách hàng có thể
rút ra để chi tiêu. Cũng giống như trường hợp tiền gửi thanh toán, Ngân hàng phải
đáp ứng ngay nhu cầu của khách hàng khi họ đến rút tiền, do đó việc Ngân hàng sử
dụng nguồn vốn này phải dựa trên khả năng thanh toán chi trả với một xác suất đủ
lớn và an toàn.
Tiền gửi có kỳ hạn: là khoản tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và
Ngân hàng về thời gian rút tiền. Chủ yếu bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc
từ tích luỹ và xét về bản chất, chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi. Về cơ
bản, các khoản tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như
các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Thông thường tiền gửi có kỳ
hạn được hưởng lãi suất cao. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, Ngân hàng sử
dụng phần lớn nguồn vốn này vào kinh doanh. Chính vì thế các NHTM luôn tìm
cách đa dạng hoá các loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với các
mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Huy động vốn từ dân cư
Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền gửi của người dân thông qua việc dành một
phần thu nhập của mình để gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích tích luỹ để dành,
hưởng lãi suất hay phục vụ chi tiêu thông thường.
Tuỳ theo tiêu thức phân loại, có thể chia tiền gửi tiết kiệm thành nhiều loại khác
nhau, cụ thể là:
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
- Tiết kiệm báo trước: là khoản tiền gửi không có thời gian đáo hạn mà người
gửi khi muốn rút ra phải báo trước cho Ngân hàng một thời gian.
- Tiết kiệm có mục đích: là khoản tiền gửi mà người gửi tiền vào Ngân hàng
kèm theo mục đích như: tiết kiệm mua nhà ở, ôtô
Căn cứ vào mục đích gửi tiền:
204.03
3 496.513 803.104 1.431.763
2 Tổng nguồn vốn huy động 132.367
335.25
8 600.811 1.260.753
3 Tỷ trọng NVHĐ/ TTS (%) 64,87 67,52 74,81 88,06
Mức tăng trưởng huy động vốn qua các năm
Chỉ tiêu
Năm
2009/08
Năm
2010/09
Năm
2011/10
4 Tốc độ tăng trưởng NVHĐ (%) 153,28% 79,21% 109,84%
5 BQ tăng trưởng NVHĐ (%) 114,1%
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á - chi nhánh Hà Thành mới hoạt động
được hơn 6 năm nhưng đã tạo được niềm tin của khách hàng gửi tiền, nguồn vốn
huy động đã tăng từ 132 tỷ đồng lên tới 1.206 tỷ đồng, gấp 9 lần. Quy mô nguồn
vốn tăng lên đáng kể qua các năm nhưng tỷ trọng nguồn vốn huy động so với tổng
tài sản cũng thay đổi nhiểu từ 65% đến 88%. Nguyên nhân là do Chi nhánh đã sớm
ổn định được tổ chức, sắp xếp nhân sự và đặc biệt là cơ cấu lại các điểm giao dịch,
thực hiện công tác marketing nhằm nâng cao vị thế hình ảnh của Chi nhánh. Bên
cạnh đó còn có nhiều các sản phẩm tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn, chính sách chăm
sóc khách hàng chu đáo để thu hút nguồn tiền gửi. Trong điều kiện tình hình kinh
tế có nhiều thay đổi, lãi suất huy động vốn trên thị trường luôn biến động, cạnh
tranh ngày càng gay gắt, công tác huy động vốn của các NHTM ngày càng gặp
nhiều khó khăn. Với nỗ lực duy trì ở mức tốt nhất có thể, Chi nhánh đã bám sát các
biến động đó, kết hợp với những chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Chi nhánh đã
có những điều chỉnh và chính sách phù hợp với thị trường, từ đó mà có được mức
4 Giấy tờ có giá 20.123 6 10.987 2 3.339 0
Tổng 335.258 100 600.811
10
0 1.260.753 100
Biểu đồ 1: Cơ cấuhuy động vốn qua các năm theo tiền gửi
Nhìn vào thực tế tình hình huy động vốn theo loại tiền gửi (bảng và biểu đồ 1)
Ta thấy, trong 3 năm qua từ 2009 đến 2011, tiền gửi có kỳ hạn đã tăng từ 196 tỷ
đồng tới 615 tỷ đồng, gấp 3 lần. Khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của doanh
nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt huy động vốn mà còn mang lại nhiều lợi ích
cho Ngân hàng vì khi doanh nghiệp đã có tiền gửi tại Ngân hàng (tức là mở tài
khoản tại Ngân hàng) thì có nghĩa rằng doanh nghiệp đó cũng sẽ sử dụng các sản
phẩm dịch vụ của Chi nhánh như: chuyển tiền, ủy nhiệm chi, chi trả lương cho cán
bộ công nhân viên, đồng thời Chi nhánh cũng tận dụng được nguồn tiền này cho
hoạt động kinh doanh ngắn hạn của mình.
Xét về tổng thể tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn có xu hướng giảm qua các năm, năm
2009 là 58%, năm 2010 là 50%, năm 2011 là 49% . Trong khi đó tiền gửi tiết kiệm
tăng từ 116 tỷ đồng đến 595 tỷ đồng, gấp 5 lần tương ứng với tỷ trọng tăng từ 35%
năm 2009 đến 47% năm 2011. Điều đó cho thấy Chi nhánh Hà Thành đã ngày
càng trở thành đối tác tin cậy của doanh nghiệp và người dân. Việc huy động tiền
gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế là rất quan trọng, đây là nguồn vốn có chi phí
đầu vào thấp, quy mô tiền gửi lớn. Nhưng nguồn vốn này tính ổn định của không
cao bằng tiền gửi của dân cư. Vì vậy, về cơ cấu thì tiền gửi tiết kiệm có xu thế tăng
về tỷ trọng so với các nguồn khác là do Chi nhánh quan tâm tới thị hiếu của khách
hàng nên đã tập trung phát triển sản phẩm tiết kiệm, có nhiều chính sách khuyến
mại và chăm sóc khách hàng tốt góp phần tăng nguồn vốn huy động từ dân cư tăng
nhiều hơn.
Tiền gửi thanh toán tăng từ 1% đến 4% là do chiến lược phát triển đúng đắn
như khuyến khích mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng hưởng lãi suất
không kỳ hạn (3.6%/năm), ưu tiên trong việc vay vốn và giảm phí chuyển
tiền đây là nguồn vốn có lãi suất thấp, đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả