ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA VĂN XÃ HỘI
================
BÁO CÁO THỰC TẾ CHUYÊN MÔN 2
LỚP: QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH K9
Sinh viên: Phạm Đình Khánh
Mã SV: DTZ1156180015
Thái Nguyên - ngày 30 tháng 10 năm 2013
MỞ ĐẦU.
Sự nghiệp của các Tiên chúa họ Khúc đã được lịch sử ghi nhận. Từ
“Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu thời Trần, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô
Sỹ Liên thời Lê đến Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều
Nguyễn đều ghi lại rõ ràng, cho đến cuốn lịch sử Việt Nam tập I do GS. Viện
sĩ Nguyễn Khánh Toàn chủ biên cũng đã ghi:
“Giành lấy chính quyền từ tay bọn phong kiến phương Bắc, Khúc Thừa
Dụ đã kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn 1000 năm của bọn chúng. Lịch sử
ghi nhớ công lao của Khúc Thừa Dụ như là một trong những người đặt cơ sở
cho nền độc lập dân tộc”
Bài tiểu luận phần nào đóng góp thêm những thông tin quý báu cho bạn
đọc về lịch sử dân tộc ta, giới thiệu thêm về Đền thờ họ Khúc tới du khách
thập phương cùng biết.
Bài tiểu luận có khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như:
người dân địa phương, ban quản lý khu di tích và nhiều cuốn sách lịch sử có
giá trị (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch sử Việt Nam…) với những phương pháp:
Điền dã, quan sát, liệt kê, tổng hợp,… Kính mong giới thiệu cùng mọi người
cũng như các thầy cô giáo đọc và đóng góp, bổ sung ý kiến cho bài tiểu luận
của em được hoàn thiện hơn.
NỘI DUNG.
I. Báo cáo thực tế.
1.1. Địa điểm thực tế.
Lên trường, chọn lọc và thống kê lại những kết quả thu được
và tìm kiếm thêm một số tài liệu khác có liên quan.
Từ
29/09/2013
đến
Quay lại địa điểm thực tế.
Xin các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trao đổi với ban quản lý về những vấn đề chưa hiểu.
30/09/2013
Từ
1/10/2013
đến
20/10/2013
Tôi lên trường tiếp tục chọn lọc những kết quả thu được, kết
hợp với các phương tiện tra cứu, trao đổi thông tin khác như
google, facebook, kiểm tra lại những vấn đề đã hoàn thành,
chuẩn bị dàn ý chi tiết cho đề cương thực tế và làm thành sản
phẩm.
Đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu cho bản thân
1.3. Kết quả đạt được.
- Hoàn thành tương đối kế hoạch và nhiệm vụ đã đề ra.
- Thời gian và địa điểm chính xác như trong kế hoạch.
- Xây dựng thành công đề tài hoàn chỉnh.
- Tìm kiếm được nhiều thông tin bổ ích cho quá trình học tập, nghiên
cứu sau này.
- Tìm hiểu thêm về kiến thức lịch sử dân tộc, lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của ông cha ta.
1.4. Thuận lợi và khó khăn trong quá trình đi thực tế.
1.4.1. Thuận lợi.
- Trong quá trình đi thực tế, phương tiện đi lại bằng ô tô khách đều đặn
- Đúc rút ra bài học về cách giao tiếp trong quá trình phỏng vấn.
- Muốn thành công thì không thể thiếu kiến thức thực tế, kiến thức
trong sách vở, cũng như ngoài cuộc sống.
II. Nhật kí cá nhân.
2.1. Từ ngày 01/09/2013 đến 12/09/2013.
- Lập kế hoạch đi thực tế
- Xác định nhiệm vụ, mục tiêu thực tế.
- Xây dựng đề cương chi tiết cho bài báo cáo.
- Xác định thời gian, địa điểm thực tế.
- Tìm hiểu sơ bộ về địa điểm thực tế cần đến.
- Dự trù những phương án cụ thể trong trường hợp bất trắc.
2.2. Từ 13/09/2013 đến 16/09/2013.
2.2.1. Ngày 13/09/2013.
Buổi sáng: 5h30’ tôi bắt đầu dậy để kịp giờ ăn sáng và lên xe về địa điểm tôi
thực tế (Đền thờ Khúc Thừa Dụ - Hải Dương. Đúng 6h tôi đã ngồi yên vị trên chiếc
xe khách màu đỏ thẫm còn mới nguyên chạy tuyến Ninh Giang – Thái Nguyên.
Ngồi trên xe mà lòng tôi không khỏi bồ hồi, lo lắng. Tôi tự hỏi không biết chuyến đi
này của mình sẽ như thế nào? Liệu các cô, các chú, các bác ở đấy có chào đón mình
không, hay là Tôi bắt đầu cảm thấy sợ, một luồng gió lạnh làm tôi nổi da gà, rồi
bao nhiêu ý nghĩ mông nung cứ thoắt ẩn thoắt hiện trong đầu tôi.
6h5’, xe bắt đầu chuyển bánh đi, tôi ngồi trên xe ngắm nhìn cảnh vật
bên ngoài. Khoảng 30 phút sau thì tôi thiếp vào giấc ngủ.
9h40’, xe đến Hưng Yên. Bác tài xế cho các hành khách xuống nghỉ
ngơi giải lao ít phút và đi vệ sinh. Tôi tranh thủ mua mấy chiếc bánh mì về
cho mấy đứa trẻ con. Mười phút sau thì xe lại tiếp tục khởi hành
Khoảng 11h10’, xe đã về đến bến thị trấn Ninh Giang, tôi đón xe bú về
thẳng nhà. Về đến cổng nhà, mẹ đã đón tôi ở bên ngoài và bảo tôi thay quần áo
rồi ăn cơm. Có lẽ vì đi xe hơi mệt nên ăn cơm xong toi đã thiếp vào giấc ngủ cho
đến tận 4h chiều hôm đó. Tôi quyết định ở nhà giúp mẹ nấu cơm, nói chuyện với
mẹ về việc đi thực tế và chuẩn bị để sáng hôm sau mới đến địa điểm thực tế.
vào gặp ông Triệu (Bùi Quang Triệu). Ông Triệu làm quản lý ở đây từ khi đền
còn là một ngôi đình làng nhỏ, ông chuyên lo việc thờ cúng, đón khách vào
đền. Sau khi nghe tôi giới thiệu là sinh viên về đây tìm hiểu và nghiên cứu,
ông Triệu lại càng hào hứng hơn. Lúc này tôi biết mình đã được chào đón.
Ông cho tôi đi tham quan các gian thờ trong đền , tôi tranh thủ chụp lại
mấy bức ảnh hoành phi, câu đối, các bức tượng thờ. Sau đó ông dẫn tôi đi ngắm
cảnh đền, ông chỉ cho tôi nào là giếng mắt rồng, nào là nhà tả vu, hữu vu, bức
phù điêu tụ nghĩa, cho đến các tượng linh thú, hai tâm bia đá ghi công của anh
hùng Khúc Thừa Dụ vv Tôi và ông trò chuyện vui vẻ, trao đổi cùng nhau như
hai người tri kỉ đã quen nhau từ lâu, mải miết cho đến khi ánh nắng mặt trời đã
gay gắt. Tôi giật mình nhìn đồng hồ lúc này đã là 10h20’ nên tôi quyết định xin
phép chào ông ra về và hẹn ông vào 1h30’ chiều sẽ quay lại.
Khoảng 11h tôi về đến nhà, trong người đã thấm mệt. Mẹ bảo tôi đi rửa
mặt rồi chuẩn bị vào ăn cơm cho khỏi đói. Ăn cơm xong tôi rửa bát giúp mẹ
và vào giường ngủ trưa.
12h45’, chuông báo thức điện thoại kêu. Tôi tỉnh dậy rửa mặt mũi và
thay đồ, chuẩn bị hành trang lên đường.
Đúng 13h20’ tôi đã có mặt trước cửa đền, ông Triệu đã đón tôi ngay ở
cửa chính với một khuôn mặt rạng rỡ tươi cười, tôi lễ phép chào ông và cùng
ông đi vào trong đền. Sau khi ngồi xuống ghế uống nước, tôi bắt tay ngay vào
công việc theo lịch trình đã hoạch định sẵn ở nhà. Tôi cẩn thận ghi chép lại
những thông tin từ ông, chỗ nào chưa hiểu thì hỏi kĩ hơn, nhờ ông giải đáp
giúp. Tôi và ông trò chuyện rất nhiều, ông hăng say kể cho tôi nghe từ vị trí
khu đền, kết cấu, rồi lịch sử hình thành như thế nào, cả trong những năm
tháng kháng chiến ra sao vv
16h30’, câu chuyện của tôi và ông còn chưa đến hồi kết nhưng tôi xin phép
ông được ra về vì phải giúp mẹ nấu cơm. Tôi chào ông và hẹn ông hôm sau.
Buổi tối sau khi ăn cơm xong, tôi vào bàn học bắt đầu tổng kết và chỉnh
sửa, ghi lại mạch lạc những thông tin tìm hiểu được và chuẩn bị cho công việc
của ngày mai.
bỗng nhìn thấy người đàn bà nọ đội trên đầu một rổ sề toàn cỏ dại. Bà hỏi:
- Nhà chị mang cái gì thế kia?
- Bẩm bà, đây là rau dại con nhặt ở ngoài đồng
- Nhặt làm gì cho chật nhà à?
- Dạ không, để ăn ạ. Rau này ăn được. Chúng con đã ăn, mát lành lắm.
Thưa bà không có nó, ba mẹ con nhà con chết đói từ năm ngoái rồi
Nghe chuyện lạ, Khúc bà bảo:
- Thật vậy à, đưa ta xem!?
Khúc bà ngờ ngợ nhận ra loại cỏ này mọc ở bờ ruộng mạ. Nó sinh sản
trong mùa đông, phát triển nhờ hút sương lạnh, mặt lá có màu ánh bạc. Bà
nghĩ: Rau ăn được tất phải lành. Giống rau này từa tựa như cây ngải, chắc
thuộc họ nhà ngải cứu, công dụng cho con người.
Vốn là người xuất thân dòng dõi danh gia, lại về làm dâu nhà hào
trưởng thế lực, nổi tiếng khoan dung giản dị, Khúc bà có tài nữ công gia
chánh. Bà nảy ra ý nghĩ
Sáng hôm ấy Khúc Thừa Dụ dậy muộn, sang bàn ăn, thấy đĩa bánh lạ,
còn bốc hơi nóng hổi, ông hỏi người hầu:
- Đây là cái gì?
- Bẩm ông, bánh bà mới làm ạ. Bà dặn khi nào ông dậy, mang lên để ông
thưởng thức.
- Thế bà đi đâu?
- Thưa, bà đi lễ với các cụ trong làng
Khúc ông ngắm nghía tấm bánh rồi nếm thử. Mùi thơm của bột nếp, mùi
ngậy của mỡ lợn, vị béo ngọt của đậu xanh tạo nên một hương vị dân giã mà
đài các, quả là ông chưa từng một lần được ăn.
Chiều, Khúc bà trở về, ông hỏi ngay:
- Bà cho ta ăn bánh gì mà ngon thế?
- Ông có biết không, bánh làm từ cây cỏ dại ngoài đồng. Rồi bà kể lại
đầu đuôi câu chuyện. Bà giã gạo tẻ làm bột, gạo nếp đồ xôi. Hạt đậu xanh làm
nhân, có mỡ hành phi lên thơm lựng. Rau dại luộc, giã nhỏ rắc đều bột gạo,
họp đột xuất mà không báo cháu biết. Hôm nay ông tự phạt với cháu đây”
Tôi kính cẩn chào lại ông và nói: “Ông không tự phạt thì cháu cũng có
nhiều chuyện hỏi ông đây”. Rồi tôi cùng ông vào trong uống trà, vừa uống tôi
vừa bắt tay ngay vào việc. Tôi nói: “Hôm qua bác Nga kể cho cháu nghe
nhiều chuyện lắm. Hôm nay ông nói cháu nghe thêm nữa được không ạ?”.
Ông gật đầu đồng ý và bắt đầu say xưa với những câu chuyện, tôi đã kịp mở
điện thoại ghi âm lại. Ông kể cho tôi nghe những chuyện ít ai biết được về
anh hùng Khúc Thừa Dụ, trong đó có một chuyện mà tôi thấy thú vị nhất, xin
kể lại để mọi người cùng nghe:
Dùng trâu đuổi giặc.
“Khi Khúc Thừa Dụ đã là một thanh niên cường tráng, nối nghiệp cha
làm Hào Trưởng. Ông thường tìm cách chiêu nạp hào kiệt. Tất cả mọi người
đến với ông đều mượn danh là gia khách. Họ về đây tụ nghĩa chuẩn bị cho
khởi nghĩa giành chính quyền.
Bọn giặc đánh hơi thấy, bèn sai quân sĩ đến “thăm” nhà Hào trưởng để
dò la thực hư. Biết chuyện ấy, có người khuyên ông: Nên tiêu diệt bọn này rồi
thừa cơ dốc binh quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi.
Ông mỉm cười, rồi gọi những người thân tín đến, ông nói:
- Ta đã hiểu ý đồ của giặc. Nay giặc tuy yếu nhưng sức ta chưa mạnh.
Ta đánh thắng một trận nhỏ chẳng đủ bù cho tổn thất lớn sau này. Vì thế ta có
ý định làm thế này, thế này
Về sau, dân làng ai cũng biết. Ông đã sai người lấy những trái ớt thật
cay phơi khô, dã nhỏ bỏ chung với muối rồi cho vào túi nhỏ buộc vào hạ bộ
trâu, cột chặt lại, rồi sai người dắt trâu ra đường nơi quân lính thường qua
lại, chờ sẵn. Quả nhiên lũ giặc kéo đến. Ông hạ lệnh lấy nước sôi đổ vào túi
muối ớt. Trâu bị cay, xót hoảng hốt lồng lên chạy thục mạng. Muối ớt càng
thấm, trâu càng hung dữ, gặp bất cứ ai cũng húc.
Giặc khiếp vía, tránh được trâu này lại bị trâu khác húc. Đường hẹp,
không có lối thoát, chúng chỉ còn biết kêu trời mà thôi. Có tên chết, có tên bị
thương kêu la inh ỏi. Khi trâu đã chạy xa, Khúc Thừa Dụ sai người ra khênh
thấy ông Triệu đang ngồi nói chuyện với một chú nữa. Ông kêu tôi ngồi
xuống uống nước và giới thiệu với tôi: “Hôm nay cháu thật may mắn đấy,
đây là chú Sắn, chắc cháu cũng đã quen thuộc rồi. Chú đang là phó chủ tịch
xã Kiến Quốc và là trưởng ban quản lý chung của đền, có chuyện gì chưa hiểu
hay muốn biết thêm nữa thì cháu cứ hỏi chú ấy. Bây giờ ông phải đi có công
chuyện, hai chú cháu ngồi nói chuyện với nhau nhé”.
Tôi chào tạm biệt ông và ngồi xuống lễ phép chào chú Sắn. Chú là phó
chủ tịch xã nhưng lại vô cùng giản dị, chú mặc chiếc áo sơ mi màu nâu, cái
quần xám với đôi dép quai hậu màu đen đã mòn đế; không đóng thùng cũng
chẳng giầy đen bóng. Tôi bắt tay ngay vào phần việc chính của mình là tìm
hiểu về thực trạng phát triển du lịch của đền, cố gắng khai thác thật nhiều
thông tin từ chú. Thật không may cho tôi là hôm nay chú lại không đem theo
những tài liệu có liên quan đến mảng này. Nhưng chú cũng nhiệt tình giải đáp
một cách khái quát nhất những câu hỏi của tôi. Chú còn kể cho tôi nghe nhiều
câu chuyện mơ mơ hồ hồ, chẳng hạn như Chuyện rùa thần xuất hiện tại buổi
lễ an vị tượng Khúc Thừa Dụ-Khúc Hạo-Khúc Thừa Mỹ tại Cúc Bồ:
Theo lời chú kể lại mà tôi ghi được vài dòng thì… “Hôm đó là ngày
21/7/2008 âm lịch, ông Bùi Văn Nam (là anh em họ với chú Sắn) nhân đi thăm
vùng đăng tại “Cống Nhạng” trước cửa đền thờ (đoạn sông Luộc nối sông Hồng
với sông Thái Bình. Anh Nam thấy có vật bơi xung quanh túi đăng, giống con ba
ba. Anh lội xuống chặn đăng lại rồi về mang vợt bắt. Khi vớt lên nhìn kỹ thì
không phải là ba ba mà là một con rùa, nên ông mang rùa về đền.
Đêm ấy, khi hành lễ, rùa được thả trong chiếc thau to, dưới làn nước
trong veo. Trong tiếng thanh la, chiêng trống ầm vang, rùa vẫn bơi lội bình
thường. Thấy lạ, nhiều máy quay phim, máy ảnh không rời ống kính. Nhìn
tấm ảnh phóng to50 x 75 thấy rùa có điều rất lạ khác với rùa thường ngày:
Toàn thân màu vàng, tai đỏ, sống lưng có màu xanh sẫm, xen lẫn sọc vàng
mờ. Trên mai, ngăn cách bởi đường viền và sống lưng, nằm gọn trong khuôn
vây thứ nhất hiện lên chân dung một người: gồm khuôn mặt, cổ áo, ngực, đầu
đội mũ vành rộng, trên đỉnh mũ ở giữa trán là phần lóa sáng. Khuôn mặt đầy
Sáng hôm nay trời mưa nhỏ nhưng tôi vẫn quyết định đi xuống đền để
xác minh lại một lần nữa những tài liệu thu thập được từ những ngày vừa qua.
Khoảng hơn 8h tôi mới xuống đến đền gặp ông Triệu. Tôi và ông bàn luận,
trao đổi những thông tin hiểu biết với nhau một cách cởi mở. Thật tình cờ tôi
lại được ông đọc cho nghe bài văn tế anh hung đan tộc Khúc Thừa Dụ, tôi
nhanh tay ghi chép lại được vài dòng sau:
Đẹp thay!
Mây thắm Ninh Giang
Nắng hanh Kiến Quốc
Gió mùa thu man mác Cúc Bồ
Tiết tháng bảy heo may sông Luộc
Thắp hương trầm cung kính người xưa
Dâng lễ vật tri ân đời trước.
Nhớ linh xưa:
Khoan hòa nức tiếng Hồng Châu
Hào hiệp lừng danh đất Cúc
Tuổi thiếu niên-trí tuệ thông minh
Thời trai tráng-quyền năng mưu lược
Gặp kẻ sa cơ, cấp giúp tận tình
Nhìn lũ bạo tàn, ghét căm tột bực
Hào trưởng nhiều đời, đáng vẻ danh gia
Thế lực khắp vùng, xứng trang cự tộc
Kính bậc hiền nhân, môn khách hội tụ đàm luận văn chương
Nghe ông đọc xong bài văn mà trong lòng tôi rạo rực, lòng tôn quý với
người xưa, sự biết ơn chân thành với Khúc Tiên Chúa đã đặt nền móng cho
nền độc lập, tự chủ của nước nhà. Sự cảm thông sâu sắc với Khúc Hậu chúa,
chịu nín nhịn khi sa vào tay giặc để mưu đồ phục quốc trấn giang sơn.
10h30p tôi xin phép cáo từ ông ra về để chiều còn kịp giờ xe chạy lên
trường học. Tôi cũng xin phép ông tạm thời kết thúc chuyến đi về đây để lên
trường tập trung tìm hiểu thêm nữa, nếu có gì sẽ gọi điện về cho ông sau,
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong
quá trình dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền
Hùng, Cổ Loa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này
nhưkhu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi , Lam
Kinh, đền Đồng Nhân, đền Khúc Thừa Dụ…
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của
các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này
như khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch
sử cách mạng Pắc Bó
1.3. Tiêu chuẩn xếp hạng di tích.
Điều 1. Những bất động sản nói trong Nghị định số 519-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ra ngày 29/10/1957 có những tiêu chuẩn sau đây, trong khi
chưa đủ điều kiện phân loại A, B,C, đều được xếp vào một hạng:
1. Di tích lịch sử: Những di tích liên quan đến những sự kiện lớn về
lịch sử đấu tranh của dân tộc qua các thời kỳ, từ tiền sử đến ngày nay.
2. Di tích danh nhân: Di tích của những người đã chết có sự nghiệp
lớn lao góp phần vào lịch sử đấu tranh hay lịch sử văn hóa của dân tộc và thế
giới: anh hùng dân tộc, nhà chính trị, nhà khoa học, văn hào, nghệ sĩ…
3. Di tích kiến trúc nghệ thuật: Những công trình kiến trúc điêu khắc
có giá trị tiêu biểu đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc và thế giới.
4. Thắng cảnh: Những khu vực sông núi, hồ biển, những phong cảnh
tươi đẹp nổi tiếng ở trong nước và nước ngoài.
5. Di tích khác: Những di tích liên quan mật thiết đến sinh hoạt văn
hóa của địa phương có tác dụng giáo dục tư tưởng, phổ biến văn hóa, khoa
học cho nhân dân địa phương.
Những dấu vết xưa có giá trị cần giữ gìn làm phong phú cho đời sống
văn hóa ở nông thôn hay thành thị.
Điều 2. Những động sản nói trong điều 5 của Nghị định số 519-TTg và
khởi kính
Địa dư dĩ lập, cao sở phú, hậu sở tái, á- âu phong vũ dịch lan ma”
Ngôi đình tọa lạc trên thế đất cao so với đất cư dân khoảng trên 1 mét.
Theo truyền ngôn: từ xưa làng có ngôi đình Đồng Cói( xây dựng trên đất
đồng cói), hiện nay thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh phụ, tỉnh Thái Bình.
Dòng sông luộc chuyển mình, Nhân dân Cúc Bồ đã chuyển ngôi đình đồng
Cói về dựng lại phía nam của làng từ năm nào chưa rõ. Năm 1918, làng tân
tạo lại ngôi đình.
Đình xây dựng theo kiểu chữ Đinh, gồm 7 gian ngoài, 3 gian hậu cung,
kiến trúc nghệ thuật thời Lê-Nguyễn, do 7 hiệp thợ của làng đứng ra đảm
nhiệm. hai bên tả hữu là 2 giải vũ. Trước cửa Đình là một ao rộng. Cổng đình
được kiến trúc là một cổng chính và 2 cổng phụ. Bên cạnh là 2 giếng mắt
rồng, xung quanh có nhiều cây cổ thụ, phong cảnh u hoàn, tuyệt mĩ.
Ngôi đình bị thực dân Pháp tháo gỡ từ năm 1950, khi chúng kéo quân
về đóng bốt tại làng. Ngày xưa, trong đình có rất nhiều đồ thờ rất quý như 3
pho tượng thờ, ngựa ,hài, mũ, long đình, bát biểu hoành phi, câu đối, sạp thờ,
tất cả được sơn son thiếp vàng. Ngày nay chỉ còn: sập thờ, khám thờ, long
đình,bát biểu, hài mũ. Đáng chú ý là bức cuốn tạo thư dựng năm Canh Thìn,
niên hiệu Bảo Đại 1940, nội dung ghi :
“Tổ linh thiêng biến hóa trên đời. Muốn phúc lớn phải có lòng tôn
quý. Lòng nhân từ lớn lao, trí tuệ thần thông, quảng đại mênh mông. Đạo sâu
nặng, xưa nay vẫn tích tụ trong sáng , nghàn thu mãi lưu truyền”.
(Nguyễn Thị Ngọc Lan- Bảo tàng Hải Dương dịch) và một vài bài trâm:
“ Chủ từ tích thư
Tự linh hiển thiên
Cơ khúc lưu thử
Tam vạn cúc kinh”
Nghĩa:
Người được thờ dấu tích được ghi trong sách
Vốn từ xưa đã linh thiêng hiển ưungs
cửa phụ. Kiến trúc “ bằng dầu” có 2 tầng. Hai đầu nóc là 2 con rồng đắp nổi,
phía dưới là 2 “nghê đá” ngồi 2 đầu cổng hướng mặt hướng ra ngoài canh giữ.
Qua cổng chính vào sân của phần hội. Ở đây gặp hồ sen ở giữa, xung quanh
hồ là hàng lan can đá trạm khắc tứ linh oai nghiêm, bề thế. Kế tiếp là 10 pho
tượng linh thú (nghê, trâu, ngựa, voi, hà mã) xếp hai hàng hướng mặt vào sân
rồi đến hai bức phù điêu bằng đá giống như bức bình phong trước cửa đền.
Bức bên trái dựng cảnh “ tụ nghĩa”, rèn quân sĩ, đánh Tống Bình và suy tôn
Khúc Thùa Dụ làm Tiết Độ Sứ. Lá cờ đại có chữ Khúc tung bay trước gió.
Bên phải là “Khúc hoan ca” mô tả cảnh thái bình, mở mang nghề nông chăn
tằm, dệt cửi , học hành, lễ hội vui chơi.
Bước qua 5 bậc đá của y môn nội sâu vào phần sân của phần lễ, ngước
nhìn lên nóc nhà thượng điện, có tấm biển đề 3 chữ “Thiên cổ tại”ngự giữa
nóc. Các mái đao là những con rồng uốn cong, tóc dài hình sóng vắt ngược
lên cao rồi uốn chạy xuống phía dưới với vài đợt sóng
Qua 9 bậc thềm vào khu nhà Thượng điện, tai đây có ba ban thờ. Ban
công đồng đặt chính giữa, trên là bức hoành phi có đề 4 chữ Thiên Nam
chính khí, dưới là đôi câu đối:
“Thời thế tạo danh hư, thất cước anh hùng ta xuyễn vận
Giang sơn hàm sấn tiếu, tham công bại phụ khấp tàn nhi”
Nghĩa:
“Thời thế dựng vơi đầy, sẩy bước anh hùng sa lỡ vận
Non sông cười mỉm nụ, tham công cha bại khóc con tàn”
Và hai bên là ban thờ “Lưỡng ban” có hai hoành phi.
Bên phải: “Hồng Châu anh kiệt”
Bên trái là: “Hùng phong do tại”
Và đôi câu đối:
“Cường nhược Bắc Nam thời hữu biệt
Chính nhân hào kiệt thế kỳ ban”
Tại gian trung từ có ba bức hoành phi:
1. Khoan giản an lạc
trong đó còn có các vị anh hùng họ Khúc thế kỷ X.
Sử cũ chép: Họ Khúc quê ở trang Cúc Bồ, hạt Hồng Châu xưa, nay là
làng Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Khúc Thừa
Dụ là người có chí lớn, tính khoan hòa, thương người nên được nhân dân
trong vùng kính phục.
Năm 905 đời vua Chiêu Tông nhà Đường, chính sự đổ nát, nhân dân
khởi nghĩa khắp nơi. Ở Giao Châu, nhân dân nổi dậy chống bọn thống trị
khiến nhiều kẻ sợ hãi, phải bỏ lỵ sở chạy trốn. Nhân cơ hội này, Khúc Thừa
Dụ đã đứng lên đánh chiếm Tống Bình, tự xưng là Tiết Độ sứ để cai trị Giao
Châu. Nhà Đường bấy giờ đã suy yếu, không thể ngăn cản được cũng đành
thuận để Khúc Thừa Dụ làm “Tĩnh Hải quân Tiết Độ sứ” và gia phong “Đồng
bình Chương sự” (một chức quan cực phẩm của triều đình, được quyền ngồi
ngang với vua bàn việc quốc trọng). Tuy chưa dặt quốc hiệu, xưng đế, xưng
vương, trên danh nghĩa vẫn tự coi mình là mệnh quan của nhà Đường nhưng
thực chất Khúc Thừa Dụ đã tạo nên nền móng tự chủ ban đầu cho đất nước
mà một nghìn năm trước bao bậc anh hùng liệt nữ chưa thể làm được.
Ngày 23 tháng 7 năm 907 (Đinh Mão), Khúc Thừa Dụ mất, con là
Khúc Hạo lên kế thừa đại nghiệp, dựa vào cơ đồ cũ, giữu vững La Thành,
xưng Tiets Độ sứ, tiếp tục làm chủ Giao Châu. Khúc Hạo đã sáng suốt nhận
thức rõ: “phải tạo được nền tảng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vững chắc
mới giữ được nền tự chủ lâu dài”. Khúc Hạo đã tiến hành những chính sách
cụ thể: chia đất nước thành Lộ - Phủ - Châu – Giáp – Xã, bình quân thuế
ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán giao cho Giáp trưởng
trông coi. Chính sự cốt chuộng Khoan dung – Giản dị - An cư – Lạc nghiệp,
gọi tắt là Khoan – Giản – An – Lạc.
Năm 917, Khúc Hạo tạ thế. Con là Khúc Thừa Mỹ lên kế nghiệp làm
Tiết Độ sứ. Thời điểm này ở Trung Quốc, nhà Nam Hán đã mạnh, chúng diệt
nhà Lương và các nước xung quanh rồi mang quân xâm lược nước ta. Vì lực
mỏng thế cô, Khúc Thừa Mỹ bị Nam Hán bắt.
Họ Khúc truyền 3 đời, tổng cộng 51 năm (879-930), trong đó có 25