TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn : TH.S DƯƠNG THỊ NGÂN
Sinh viên thực hiện : VŨ THỊ NGỌC BÍCH
Mã sinh viên : CQ500185
Chuyên ngành : KINH TẾ HẢI QUAN
Lớp : HẢI QUAN 50
Hệ : CHÍNH QUY
Thời gian thực tập : 09/01/2012 => 07/05/2012 (ĐỢT 1)
HÀ NỘI, THÁNG 5/2012
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta sau thời gian đổi mới và mở cửa đã đạt được những thành tựu
rất quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó sự thay
đổi về quan điểm và chính sách kinh tế đã đem lại những tác động tích cực đối
với thị trường hàng hóa, dịch vụ trong nước với sự biến đổi tích cực về chất và
phát triển vượt bậc về lượng. Tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ
tiên tiến của thế giới, Thủ đô Hà Nội đã đạt được những thành công nhất định
trong việc ứng dụng những công nghệ, dây chuyền sản xuất mới để nâng cao
năng suất và chất lượng của ngành sản xuất dịch vụ trong các lĩnh vực sản xuất -
kinh doanh quan trọng như xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, các dịch
vụ kho hàng, dịch vụ hải quan, dịch vụ phân phối. Các dịch vụ nói chung và
dịch vụ logistics nói riêng không ngừng được phát triển, ngày càng phong phú
và đa dạng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Trong bối cảnh hội nhập WTO và khi Việt Nam đang thực hiện các cam kết
phố Hà Nội
Chương III: Giải pháp phát triển Logistics thành phố Hà Nội thời gian
tới.
Do thời gian và trình độ có hạn nên chuyên đề tốt nghiệp của em không
tránh khỏi những sai sót. Do vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của
thầy cô để chuyên đề tốt nghiệp của em ngày càng hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn GS.TS Đặng Đình Đào – Viện
trưởng Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển (Đại học Kinh tế quốc dân) và cô
giáo hướng dẫn ThS. Dương Thị Ngân đã giúp đỡ em hoàn thành được chuyên
đề tốt nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy, cô giáo cùng
các anh chị đang làm việc tại Viện nghiên cứu Kinh tế và phát triển – Đại học
Kinh tế quốc dân, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình em thực tập
ở Viện nghiên cứu thời gian qua.
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 4 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LOGISTICS VÀ
LOGISTICS THÀNH PHỐ
1.1. TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS VÀ LOGISTICS THÀNH PHỐ
1.1.1. Tổng quan về Logistics
1.1.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển Logistics
Ngày nay, Logistics đã hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của
nền kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và
tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới. Tuy nhiên, một điều thực tế là
Logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động
thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Một số kỹ thuật trong Logistics có
thể khác nhau khi áp dụng vào quân sự và kinh tế, nhưng sự khác nhau đó
không nhiều. Logistics trong quân sự chú trọng vào phản ứng nhanh nhạy và
linh hoạt để đáp ứng với những tình huống thay đổi. Còn trong kinh tế, nhiều
doanh nghiệp cũng hoạt động trong môi trường mà khả năng phản ứng nhanh
nhạy và linh hoạt động là những yếu tố thực sự quan trọng cho sự thành công.
Logistics chính là giai đoạn phát triển của “Outbound Logistics” – một lĩnh
vực quan trong nỗ lực marketing của công ty để phân phối sản phẩm đến tay
khách hàng.
- Giai đoạn phát triển hệ thống Logistics (Logistics system): Ở giai đoạn này,
hoạt động Logistics là sự kết hợp cả hai khâu đầu vào (cung ứng vật tư) và đầu ra
(tiêu thụ sản phẩm) để tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả. Đây chính là giai đoạn phát
triển mới của Logistics. Đối với một công ty, hoạt động này có thể quan trọng hơn
hoạt động kia, nhưng đối với một công ty khác, hai hoạt động có thể có vai trò như
nhau. Điều này còn tùy thuộc vào tính chất của ngành công nghiệp và hoạt động
chính của công ty. Tuy nhiên, một công ty sẽ giành được nhiều lợi nhuận và hiệu
quả nếu như biết vận hành tốt, và phối hợp đồng bộ, hợp lý giữa hai khâu cung
ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
- Giai đoạn quản trị dây chuyền cung ứng - Quản trị Logistics (Supply
chain manangement): Đây là giai đoạn phát triển của Logistics vào những năm
cuối thế kỷ XX. Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản
trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals -
CSCMP): “Quản trị Logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm
việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng
hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu
thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của quản trị Logistics cơ
bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi,
nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới Logistics, quản trị tồn
kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức
độ khác nhau, các chức năng của Logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu
vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị Logistics là
chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động Logistics cũng
như phối hợp hoạt động Logistics với các chức năng khác như marketing, kinh
doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.
1.1.1.2. Khái niệm về Logistics và dịch vụ Logistics
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics, nhưng đến nay
- Theo tập thể tác giả Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đưa ra khái niệm
trong cuốn sách “Dịch vụ Logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc
tế” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật: “Logistics là quá trình phân
phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ…
từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp
nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng,
liên tục và đáp ứng các yêu cầu tốt nhất của khách hàng.”
Logistics ra đời đã giúp cho con người sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật
lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bản
thân và xã hội một cách tốt nhất. Tuy có thể tách biệt về địa lý, nhưng nhờ có
công nghệ thông tin, truyền thông đại chúng, các phương tiện vận tải tiện lợi,
Logistics không còn nằm ngoài, tách biệt với quá trình sản xuất mà trở thành
một bộ phận gắn bó không thể thiếu được của nhiều chuỗi hàng hóa toàn cầu.
Như vậy, có thể hiểu Logistics là quá trình tối ưu hóa về địa điểm và thời điểm,
tối ưu hóa về việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên
thủy của quá trình tái sản xuất cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 7 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng
loạt các hoạt động kinh tế.
1.1.2. Khái quát về Logistics thành phố
1.1.2.1. Tính tất yếu về Logistics thành phố
Trong nền kinh tế của một quốc gia, sự phát triển của các thành phố lớn
đóng vai trò rất quan trọng. Các chỉ số kinh tế của các đô thị lớn có ảnh hưởng
đáng kể đến tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi suất, năng suất, chi phí, chất lượng và hiệu
quả, cũng như các khía cạnh khác của nền kinh tế quốc gia. Do vậy, muốn nên
kinh tế quốc gia phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì một quốc gia phải có
các chính sách phát triển kinh tế đúng đắn đối với các thành phố lớn như là trục
tăng trưởng của nền kinh tế.
phố sẽ thúc đẩy hoạt động đi lại được diễn ra thuận tiện hơn, đẩy mạnh được
những hoạt động xã hội như chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tổ chức giao lưu
văn hóa, nghệ thuật. Các dịch vụ vận tải đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong
nền kinh tế nói chung và trong thương mại nói riêng. Chất lượng của Logistics
thành phố là yếu tố quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
nó tạo sự thuận lợi, nhanh chóng trong lưu thông, hạ giá thành sản phẩm, nâng
cao hiệu quả chuỗi logistics, hạn chế được hiện tượng ùn tắc giao thông ở các
đô thị lớn, giảm thiểu được ô nhiễm môi trường…
Thực tiễn cho thấy, phát triển dịch vụ Logistics thành phố là một tất yếu
trong nền kinh tế thị trường hiện đại của quốc gia nói chung và của các thành
phố lớn nói riêng, nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng sản phẩm,phân phối
hàng hóa, cũng như nhu cầu về đi lại của người dân. Đồng thời, sự phát triển
dịch vụ Logistics thành phố có tác động to lớn, thúc đẩy sản xuất, thương mại,
nâng cao hiệu quả phát triển của thành phố, từ đó đặt nền móng vững chắc cho
hội nhập kinh tế của các quốc gia.
1.1.2.2. Bản chất của Logistics thành phố
Logistics thành phố không phải là hoạt động đơn lẻ, mà bao gồm một
chuỗi các dịch vụ do người kinh doanh Logistics phối hợp các hoạt động như
vận chuyển, tồn trữ, cung ứng nguyên vật liệu, bao bì, đóng gói, ghi mã hiệu,
làm thủ tục thông quan, gom hàng, tách hàng, quản lý tồn kho, quản lý nguồn
hàng, dự báo nhu cầu… để cung ứng thuân tiện nhất cho khách hàng với chi phí
thích hợp thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế của thành phố.
Dịch vụ Logistics thành phố gắn liền tất cả các khâu của quá trình sản
xuất trong thành phố. Dịch vụ Logistics thành phố phát triển sẽ giúp cho quá
trình sản xuất được diễn ra liên tục, đảm bảo về thời gian và chất lượng sản
phẩm trong phạm vi thành phố. Khi sản phẩm được sản xuất ra, Logistics thành
phố sẽ tham gia vào quá trình phân phối, vận chuyển hàng hóa tới người tiêu
dùng của chính thành phố đó cũng như người tiêu dùng trong các tỉnh, thành
phố khác.
Logistics thành phố liên quan đến nhu cầu cơ bản của của cuộc sống,
mại dịch vụ của thành phố. Do đó, dịch vụ Logistics xuyên suốt mọi giai đoạn
trong hoạt động của doanh nghiệp, từ giai đoạn cung cấp nhân lực, thông tin,
nguyên vật liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Logistics thành phố được hoạt động trong không gian thành phố nhưng
nó có sự kết nối chặt chẽ với hoạt động Logistics quốc gia, và Logistics toàn
cầu. Logistics thành phố chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
Logistics quốc gia, chỉ khi Logistics thành phố phát triển mới đưa được
Logistics quốc gia phát triển và có vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Việc cung ứng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài như cơ
sở hạ tầng giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng thông tin, các điều kiện tự nhiên
như khí hậu, thời tiết, địa hình…
Dịch vụ Logistics thành phố là sự phát triển của dịch vụ vận tải đa
phương tiện ở thành phố. Trên cơ sở hợp đồng giữa người mua và người bán,
người tổ chức dịch vụ Logistics thành phố sẽ nhận hàng tại cơ sở của từng
người bán và gom hàng thành các đơn vị gửi hàng rồi chuyển đến nơi xếp dỡ
hàng hóa. Tiếp đó, người tổ chức dịch vụ Logistics thành phố xếp hàng hóa
thành các lô hàng thích hợp để phân phối đến địa chỉ cuối cùng.
Logistics thành phố là tổng hợp của tất cả các dịch vụ cần thiết như vận
tải, đóng gói, xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, dự trữ, phân phối hàng hóa đến các nơi
theo yêu cầu, làm các thủ tục trong quá trình giao nhận hàng hóa, cung cấp
thông tin và dịch vụ khách hàng… để đảm bảo hỗ trợ một cách hiệu quả nhất và
kinh tế nhất cho các doanh nghiệp trong thành phố.
Hệ thống của dịch vụ Logistics thành phố cũng có biên giới như những
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 10 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ thống khác, đó là biên giới về địa lý (khu vực thị trường), kinh tế (khả năng
quản lý một số hàng hóa và dịch vụ nhất định) và con người (khả năng tương
tác và phục vụ một nhóm hàng nhất định). Do vậy yếu tố môi trường của thành
phố nói riêng cũng như của quốc gia nói chung có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
của Logistics thành phố.
thành phố phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch cụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và mở cửa thị trường dịch vụ,
có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp trên thế giới. Đây là
những tập đoàn Logisitics hùng mạnh có khả năng cạnh tranh lớn, có bề dày
kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới dày đặc. Điều
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 11 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này cho thấy, việc đẩy mạnh phát triển Logistics thành phố rất quan trọng. Chỉ
khi Logistics thành phố phát triển thì ảnh hưởng của các tập đoàn Logistics
chuyên nghiệp mới được giảm bớt. Tăng nguồn thu cho các hoạt động dịch vụ
logistics thành phố, đóng góp nguồn thu vào ngân sách địa phương.
Logisitics thành phố phải có hệ thống quản lý nguồn cung cấp một cách
chiến lược để giảm tổng chi phí nguyên liệu và dịch vụ.
1.2. TỔ CHỨC, QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS THÀNH PHỐ VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC ĐÔ THỊ LỚN
1.2.1. Tổ chức và quản lý hoạt động Logistics thành phố
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một cơ quan quản lý chuyên ngành về hoạt
động Logistics. Đây chính là khó khăn cho hoạt động Logistics thành phố vì khó
có thể đưa ra được chiến lược và quy hoạch phát triển thống nhất, lâu dài, kịp
thời trong điều kiện hội nhập, không tranh thủ được triệt để cơ hội đang xuất
hiện cũng như việc quản lý của thành phố sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy
cần có sự tổ chức và quản lý một cách thống nhất để có thể tối ưu hóa các dòng
vận động hàng hóa, thông tin, tiền tệ trên địa bàn thành phố. Để giảm thiểu
những khoản chi phí bất hợp lý, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm từ nơi sản xuất
đến tay người tiêu dùng đòi hỏi các nhà cung ứng, nhà sản xuất, người vận tải,
người kinh doanh kho bãi…cùng phối hợp đồng bộ các giải pháp để tối ưu hóa
các hoạt động tổ chức sản xuất và phân phối hàng hóa một cách hiệu quả, đúng
chủng loại, đúng số lượng, đúng địa điểm, kịp thời gian, với chi phí được giảm
thiểu tối đa trong khi vẫn thỏa mãn được yêu cầu của xã hội, hoạt động của
cấp. Vì vậy, doanh nghiệp phải bằng mọi cách nghiên cứu, xác định được nhu
cầu thực của khách hàng, trên cơ sở đó xây dựng mục tiêu và mức độ dịch vụ
khách hàng phù hợp.
- Hệ thống thông tin trong quản trị: Muốn quản trị logistics thành công thì
trước hết phải quản lý được hệ thống thông tin rất phức tạp. Hệ thống thông tin
logistics thành phố bao gồm thông tin trong nội bộ từng tổ chức (doanh nghiệp,
nhà cung cấp, khách hàng của doanh nghiệp), thông tin trong từng bộ phận
chức năng, thông tin trong từng khâu của dây chuyền cung ứng và sự kết nối
thông tin giữa các tổ chức, bộ phận.
- Quản trị dự trữ: Chi phí dự trữ có tác động trực tiếp đến nhiều hoạt động
logistics, nên cần có sự cân đối giữa chi phí dự trữ và các khoản chi phí
logistics khác. Quản trị dự trữ là khâu quan trọng trong toàn bộ hệ thống
logistics. Cần sử dụng tốt và phối hợp chặt chẽ các kỹ thuật: Phân tích dự báo,
mô hình dự trữ, hệ thống giải quyết đơn hàng…để làm tốt công tác quản lý, biến
nó trở thành công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp thành công.
- Quản trị vật tư: Các hoạt động của quản trị vật tư bao gồm: Xác định nhu
cầu vật tư; tìm nguồn cung cấp; tiến hành mua sắm vật tư; tổ chức vận chuyển;
nhập kho và lưu kho; bảo quản và cung cấp cho người sử dụng; quản trị hệ
thống thông tin có liên quan; lập kế hoạch và kiểm tra hàng tồn kho; tận dụng
phế liệu, phế phẩm.
- Vận tải: Việc lựa chọn phương thức vận tải và cách thức tổ chức vận tải
sẽ quyết định hàng có đến kịp thời gian hay không. Giá trị gia tăng ở đây chính
là việc khách hàng được hưởng dịch vụ hoặc sản phẩm đúng nơi và đúng lúc.
- Kho bãi: Nội dung quản trị kho bao gồm: thiết kê mạng lưới kho; thiết kế
và trang bị các thiết bị trong kho; tổ chức các nghiệp vụ kho: xuất, nhập, lưu
kho, bảo quản hàng hóa trong kho; quản trị hệ thống thông tin số sách, số liệu
về hoạt động của kho; tổ chức quản lý lao động; tổ chức các công tác bảo hộ và
an toàn lao động trong kho
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 13 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản xuất kinh doanh.
Logistics còn cho phép các nhà kinh doanh trong lĩnh vực vận tải giao
nhận cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng phong phú hơn ngoài dịch vụ vận
tải đơn thuần. Điều đó xuất phát từ đặc điểm của hoạt động logistics tổng hợp
các hoạt động bao gồm giao nhận vận tải, bốc xếp dự trữ, đóng gói, ghi ký mã
hiệu hàng hóa. Vì vậy, trong quá trình vận tải người kinh doanh dịch vụ vận tải
không chỉ cung cấp dịch vụ vận tải đơn thuần mà thực tế họ đã tham gia cùng
với người sản xuất và lưu thông hàng hóa như: lắp ráp, đóng gói, gom hàng,
xếp hàng, cung cấp kho hàng… Với sự phát triển của dịch vụ logistics đã góp
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 14 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phần hoàn thiện dịch vụ vận tải giao nhận.
Logistics thành phố góp phần giải quyết các vấn đề về môi trường đô thị,
phát triển bền vững của các đô thị lớn. Giúp các cơ quan chức năng tìm giải
pháp tình thế trước mắt để hoàn thiện hệ thống giao thông vận tải,từ đó góp
phần giải quyết các vấn đề về ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông như điều
chỉnh giờ làm, tách làn, phân luồng,…và quan trọng hơn là tìm ra những giải
pháp dài hạn để giải quyết tận gốc vấn đề, trong đó đáng nói là quy hoạch đô thị,
bố trí dân cư lấy giao thông vận tải làm định hướng. Logisitics thành phố giải
các bài toán tối ưu trong các hoạt động kinh tế trên địa bàn, góp phần tối ưu hóa
trong vận chuyển, phân phối, lưu thông, phân phối trong dân cư, trường học,
làm giảm chi phí lưu thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứng từ. Các thủ tục, giấy
tờ rườm rà chiếm một khoản chi phí không nhỏ trong hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra
đảm nhận việc ký một hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận
tải để đưa hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng. Logistics
thành phố hoàn thiện hệ thống giao thông vận tải, góp phần giải quyết các vấn
đề về tai nạn giao thông ở các đô thị lớn. Nhờ phát triển dịch vụ Logistics mà
văn minh trong thương mại đô thị dần được hình thành. Các doanh nghiệp hoạt
động theo cách thức hợp lý
được thuận lợi và bình đẳng.
Một nước khi áp dụng chính sách mở cửa kinh tế, khối lượng và trị giá
hàng hóa đưa vào lưu thông lớn, các yêu cầu về dịch vụ logistics phục vụ cho
lưu chuyền hàng hóa cả về xuất khẩu và nhập khẩu đều gia tăng cả về số lượng
và chất lượng.
Hà Nội có vị trí, vai trò là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung
tâm lớn về văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế và giao
lưu quốc tế. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, Hà Nội mở rộng quan hệ hữu
nghị, hợp tác với các nước. Đến nay, Hà Nội đã thiết lập quan hệ hợp tác chặt
chẽ, thường xuyên có hiệu quả với 35 thủ đô, thành phố của các nước trong khu
vực và trên thế giới. Sau giải phóng miền Nam hoàn thành thống nhất đất nước.
Hà Nội bước vào phục hồi kinh tế, xây dựng lại các nhà máy, xí nghiệp. Quá
trình tái thiết kinh tế Thủ đô cũng là lúc cả nước bắt đầu sự nghiệp đổi mới,
chuyển từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa, quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường theo định hướng XHCN. Năm 1999, Hà Nội được Tổ chức văn
hóa, giáo dục và khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Thành
phố vì Hoà bình. Hà Nội đang phấn đấu để trở thành một thành phố hiện đại,
một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, du lịch và dịch vụ phát
triển, xứng đáng là trái tim của cả nước, một điểm hẹn lý tưởng của bạn bè quốc
tế trong quá trình hội nhập, một Thành phố vì Hòa bình.
Trong quá trình tự do hóa thương mại, việc trao đổi hàng hóa không chỉ
giới hạn trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới. Điều này đòi hỏi
các quốc gia ngoài việc xây dựng thể chế, pháp luật cho hoạt động lưu chuyển
hàng hóa trong nước mà còn cần phải xây dựng cơ chế, chính sách phát triển
kinh tế và phát triển dịch vụ logistics phù hợp với cam kết khu vực và các hiệp
định có liên quan đến dịch vụ logistics của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Như vậy, môi trường chính trị pháp luật là yếu tố rất quan trọng tác động trực
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 16 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiếp đến sự phát triển của hệ thống Logistics thành phố.
Là thành phố thủ đô của một quốc gia, thành phố Hà Nội giữ vị trí trung
tâm của cả nước. Kể từ khi, nhà nước ta có các chính sách đổi mới kinh tế năm
1986, Thành phố Hà Nội có những bước tăng trường vượt bậc. Theo số liệu của
Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội, năm 2010, GDP bình quân đầu người của Hà
Nội lên tới 37 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 25,3 triệu. Hà
Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án. Thành phố cũng là địa điểm
của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 17 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sở sản xuất công nghiệp. Từ đó nhu cầu về Logistics cho nền kinh tế và cho
xuất nhập khẩu cũng tăng lên phục vụ cho phát triển kinh tế. Tốc độ tăng trưởng
GDP của Hà Nội được đóng góp nhiều nhất từ ngành công nghiệp và xây dựng
nhờ dòng chảy của luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bên cạnh
những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế Hà Nội. Năm 2010, với gần 320.000 lao động, các
doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành
phố. Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao
động. Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã
hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu
của Hà Nội. Qua đó có thể thấy, nhu cầu tiềm năng của Logistics thành phố
còn rất lớn kể cả thị trường xuất khẩu, nhập khẩu và nguồn cầu trong nước,
nước ngoài. Do vậy tùy theo nhu cầu từng đối tượng khách hàng và đối tượng
thị trường mà doanh nghiệp của thành phố có đầu tư hợp lý trong chiến lược
kinh doanh của mình để phát triển dịch vụ Logistics thành phố.
1.3.1.1.4. Môi trường công nghệ
Khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quản lý Logistics
thành phố và có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động Logistics liên quan,
đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tác động tích cực đến mọi
mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của loài người, tạo ra sự
phổ biến, đi sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp, đây chính là môi trường
tốt thúc đẩy hoạt động Logistics thành phố phát triển.
1.3.1.1.5. Môi trường lao động
Cũng như các ngành kinh tế khác, trong điều kiện hội nhập, yếu tố nguồn
nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển hệ thống logistics
thành phố. Yêu cầu của đội ngũ cán bộ trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ logistics là phải tinh thông nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ, có khả năng ứng biến
đối với những biến động của thị trường. Do vậy, đòi hỏi phải có môi trường lao
động tốt, đáp ứng được nhu cầu về nghiên cứu cũng như đào tạo cán bộ hoạt
động trong lĩnh vực logistics. Vì vậy cần có giải pháp của nhà nước, cũng như
Ủy ban nhân dân thành phố trong việc hoàn thiện môi trường kinh doanh
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các
doanh nghiệp hoạt động logisitics nói riêng.
1.3.1.2. Các nhân tố đặc thù
1.3.1.2.1. Hệ thống giao thông vận tải thành phố
Hệ thống giao thông vận tải thành phố là điều kiện quan trọng cho sự phát
triển Logistics thành phố. Tuy không trực tiếp tác động đến hàng hóa nhưng hệ
thống giao thông vận tải là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình đưa
hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Hệ thống giao thông vận tải thành phố
bao gồm hệ thống đường sá, bến bãi, sân bay, bến cảng… Nếu như hệ thống
đường sá không tốt, thiếu các phương tiện vận chuyển, không có các phương
tiện thông tin đại chúng… thì việc lưu chuyển hàng hóa từ người sản xuất tới
người tiêu dùng không thể đạt được hiệu quả cao. Chính vì thế, các đô thị với
lượng hàng lưu thông lớn phải chú trọng đầu tư phát triển hệ thống giao thông,
bến cảng, sân bay… để phát triển hoạt động Logisics thành phố.
Hoa Kỳ là nước có dịch vụ Logistics thành phố phát triển mạnh ở tất cả các
phân ngành và có kết cấu hạ tầng phát triển. Các thành phố lớn ở Hoa Kỳ, hệ
thống đường sá đạt chất lượng cao, các luồng đường bộ được xây dựng quy
mô, hiện đại, thuận lợi cho việc phân phối hàng hóa thuận tiện. Đồng thời, dịch
vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là một trong những phân ngành quan
của khách hàng, nhu cầu của khách hàng quyết định hướng phát triển của các
dịch vụ hậu cần trong tiêu thụ sản phẩm. Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng
doanh nghiệp sẽ quyết định là nên phát triển các dịch vụ nào. Hơn nữa doanh
nghiệp cần phải căn cứ vào lượng khách hàng có nhu cầu về một dịch vụ nào đó
rồi quyết định xem có nên cung cấp dịch vụ ấy không. Nhưng để biết được các
nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp cần tiến hành công tác nghiên cứu thị
trường. Việc nghiên cứu nhu cầu khách hàng giúp doanh nghiệp đưa ra các
dịch vụ Logistics hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm về mặt chi phí. Mặt khác trên thị
trường hiện nay người ta luôn cố gắng cung cấp dịch vụ tốt nhất để tăng cường
cạnh tranh. Vì thế làm tốt công tác dịch vụ Logistics trong tiêu thụ sản phẩm
giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh. Đồng thời doanh nghiệp
cũng cần quan tâm đến tình hình tiêu thụ sản phẩm trên thị trường để có những
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 20 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kế hoạch điều chỉnh các dịch vụ này cho phù hợp hơn, góp phần tiết kiệm các
chi phí.
Hiện nay, Hà Nội có hơn 6 triệu người dân, trong đó tỷ lệ người dân sống ở
các khu vực thành thị chiếm 41,2%, nhóm dân cư thành thị này là nhóm dân cư
có thu nhập cao, họ đòi hỏi chất lượng và trình độ văn minh phục vụ cao và
hiện đại đối với các dịch vụ thương mại và dịch vụ phân phối hàng hóa. Hà Nội
là thành phố có tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, đặc biệt ngày càng có nhiều
khu đô thị mới được hoàn thành, thu hút một lượng dân cư mới có tỷ lệ người
trẻ tuổi cao, có thu nhập ở trong nội thành Hà Nội hoặc từ các tỉnh khác di cư
về. Với nhu cầu tiêu dùng lớn, các mặt hàng đa dạng đòi hỏi cơ sở hạ tầng của
Logistics thành phố Hà Nội phải ngày càng phát triển để có thể đáp ứng được
các yếu tố về cung ứng các dịch vụ, phân loại, bảo quản hàng hóa được tốt
hơn. Trong việc phân phối vận chuyển và theo dõi các luồng vận động hàng hóa
từ sản xuất đến tiêu dùng cần được tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ và
hiệu quả để phục vụ tốt nhu cầu của các dịch vụ phân phối hàng hóa trên thị
trường thành phố. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Logistics dựa trên cơ sở các
của nước ta phải đối mặt với những thách thức vô cùng lớn để phát triển dịch
vụ Logistics thành phố nói riêng và Logistics quốc gia nói chung ngày càng phát
triển.
Không chỉ chịu sức ép đối với các doanh nghiệp Logistics trên thế giới, mà
ngày cả thị trường trong nước, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt trong việc chạy đua phát triển kinh tế. Đơn giản chỉ lấy ví dụ về
một dịch vụ đó là dịch vụ thuê bao di động cũng có thể thấy rõ điều này, họ luôn
cạnh tranh và đưa ra những chương trình khuyến mãi, những chính sách giảm
cước mới. Tất nhiên khách hàng là người được hưởng lợi đầu tiên từ việc này
nhưng mục đích chính của họ là lôi kéo thu hút khách hàng của đối thủ cạnh
tranh. Điều này không chỉ đúng trong ngành dịch vụ mà trong ngành sản xuất
cũng vậy, họ luôn đưa ra các dịch vụ mới nhằm làm hài lòng khách hàng của
mình. Mặc dù phân phối trong tiêu thụ sản phẩm là một dịch vụ mang tính sản
xuất nhưng nó cũng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt hơn thì người ta
sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển các dịch vụ logistics của doanh
nghiệp vì đây là một vũ khí cạnh tranh đặc biệt, nó thể hiện một nét đặc thù của
từng doanh nghiệp không ai giống ai.
1.3.1.2.5. Chính sách mở cửa và quá trình phát triển thương mại của thành phố
Mức độ mở cửa nền kinh tế là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh
giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia, cũng như một đô thị lớn. Mức độ mở
của nền kinh tế được thể hiện ở chính sách thuế quan, các hàng rào phi thuế
quan, chính sách tỷ giá Một nước có chính sách mở cửa nền kinh tế cao có nghĩa
là nước đó có giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu hợp lý, hạn chế các biện
pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước.
Với một thủ đô lớn cả về quy mô và cơ cấu như Hà Nội, nhu cầu sử dụng
về hàng hóa và dịch vụ là rất lớn, từ đó thúc đẩy sự lưu thông và phân phối hàng
hóa phát triển. Hoạt động lưu thông hàng hóa ngày càng tăng, sẽ đẩy mạnh kinh
tế thành phố phát triển, các hoạt động thương mại cũng phát triển hơn. Quá
trình phát triển thương mại của một thành phố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
Tính hiệu quả của các quá trình và thủ tục. Bao gồm tính hiệu quả của giấy
phép và vận chuyên trong hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tính minh bạch trong
việc xin và cấp phép giấy phép hải quan, thông tin đầy đủ và kịp thời về những thay
đổi luật pháp, các giấy phép hải quan xúc tiến dành cho các thương nhân với mức
độ tuân thủ cao.
Nguyên nhân của những yếu tố cản trở chủ yếu. Đánh giá mức độ thường
xuyên mà doanh nghiệp trải qua việc phải xếp kho/chất hàng miễn cưỡng, bị thanh
tra trước khi chuyên chở, chuyển tàu biển, gặp phải các hoạt động của tội phạm (ví
dụ, ăn cắp), hay phải trả các khoản thanh toán không chính thức.
Những thay đổi về môi trường Logistics kể từ năm 2005. Đánh giá tình
trạng cải thiện hoặc tồi tệ đi của các yêu tố về môi trường. Các yếu tố này bao gồm:
thủ tục thanh toán hải quan, thủ tục thanh toán chính thức khác, cơ sở hạ tầng
thương mại và giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin,
các dịch vụ Logistics tư nhân, các quy định liên quan đến Logistics, tình trạnh tham
nhũng.
SV: Vũ Thị Ngọc Bích 23 Lớp: Hải Quan 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động đặc thù của doanh nghiệp Logistics
thành phố
Một số chỉ tiêu chính đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics của
doanh nghiệp bao gồm:
*) Tổng chi phí Logistics (CF
LOG
)
CF
LOG
= F
v
+ F
tk
– C
hc
- C
bh
Trong đó:
NIBT: Doanh thu thuần trước thuế
DT
bh
: Doanh thu bán hàng
C
sx, dv
: Chi phí sản xuất/ dịch vụ
C
hc
: Chi phí hành chính
C
bh
: Chi phí bán hàng
Doanh thu thuần trước thuế là một thước đo lợi nhuận trước thuế được thể
hiện như sau: [Tỷ lệ % NIBT/giá trị tài sản] là một trong những thước đo đánh
giá mức độ lợi nhuận của một công ty. Bất kể NIBT là tích cực hay tiêu cực,
cần thiết phải có một phân tích đầy đủ về nó. Nó giúp cho các doanh nghiệp
nói chung và các doanh nghiệp Logistics nói riêng đánh giá được đúng đắn khả
năng tiêu thụ hàng hóa hay khả năng cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
*) Chi phí bảo quản hàng hóa (C
bq
):
C
bq
= Q
tiếp; Chi phí gián tiếp; Lợi nhuận hợp lý.
Thông thường khi tính chi phí cho một loại dịch vụ, người ta tính theo giờ
và gọi là giá tính cho một giờ.
Giá cho 1 giờ dịch vụ = Chi phí trực tiếp tính cho 1 giờ + Lợi nhuận
Lợi nhuận trong 1 giờ được cộng vào để bù đắp chi phí gián tiếp và có lãi.
*) Chi tiêu đánh giá chất lượng hoạt động dịch vụ (K
d
) - Chỉ tiêu mức độ
đáp ứng nhu cầu dịch vụ.
Trong đó:
Q
o
i
: Khối lượng dịch vụ loại i cho doanh nghiệp dịch vụ thực hiện trong
năm
N
o
i
: Số lượng khách hàng được cung ứng dịch vụ loại i
Q
n
i
: Nhu cầu hàng năm về dịch vụ loại i
N
n
i
: Số lượng khách hàng có nhu cầu dịch vụ loại i
m : Số lượng các dịch vụ được doanh nghiệp dịch vụ thực hiện (cung ứng).
Ngoài ra, cũng như các doanh nghiệp khác, nhóm chỉ tiêu này còn có các
chỉ tiêu như lợi nhuận, mức doanh lợi…