hoàn thiện chính sách phát triển logistics trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
LOGISTICS TRấN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Giáo viên hướng
dẫn
: ThS. Đặng Thị Thuý Hồng
Họ và tên sinh viên : Lê Thị Vân Anh
Mã sinh viên : CQ500132
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh Thương mại
Lớp : TM50C
Hệ : Chính quy
Thời gian thực tập : 06/02/2012 => 21/05/2012 (Đợt 1)
Hà Nội, năm 2012
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề thực tập được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu của bản thân em
dựa trên tài liệu, số liệu thu thập thực tế từ đơn vị thực tập và các nguồn có liên
quan, không sao chép nguyên văn từ các chuyên đề, luận văn và các bài viết
khác.
Em xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường về cam đoan này.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Vân Anh
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
MỤC LỤC

Xuất phát từ thực tiễn trên, là một sinh viên kinh tế sắp ra trường và được
thực tập tại Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân, em
đã chọn đề tài: “Hoàn thiện chính sách phát triển logistics trên địa bàn
thành phố Hà Nội” để làm chuyên đề thực tập của mình. Kết cấu của chuyên đề
của em gồm 3 chương:
Chương 1: Vị trí, vai trò của hệ thống logistics đối với sự phát triển kinh tế
bền vững của thành phố Hà Nội và sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách
phát triển logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách phát triển logistics của thành
phố Hà Nội.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển
logistics của thành phố Hà Nội.
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
1
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
Em xin viết ra một số nhận xét về tình hình hoạt động cũng như đề ra một số
giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển logistics của thành phố Hà Nội dưới
gúc nhìn chủ quan của mỡnh.Vỡ dưới gúc nhỡn chủ quan của em nên không thể
tránh khỏi có sai sót, em mong cô góp ý để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Th.s Đặng Thị
Thúy Hồng, cảm ơn GS.TS. Đặng Đình Đào, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh
tế cũng như các anh chị, cụ chỳ đang làm việc trong Viện nghiên cứu kinh tế
phát triển đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
2
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG LOGISTICS

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (điều 233) lần đầu tiên đưa khái
niệm dịch vụ logistics vào luật, quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương
mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm
nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy
tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các
dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để
hưởng thù lao”
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
3
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
1.1.1.2. Logistics thành phố Hà Nội
Hà Nội là thành phố có vị trí địa lý, chính trị quan trọng đối với nước ta,
có lợi thế đặc biệt để phát triển thương mại so với các địa phương khác trong cả
nước: là trung tâm đầu não chính trị quốc gia, là trung tâm lớn về kinh tế, văn
hóa, giáo dục, y tế nên tập trung vào các cơ quan sứ quán nước ngoài và các tổ
chức quốc tế, có nhiều đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và
hàng không, thuận lợi cho giao thương với bên ngoài; cơ sở vật chất kỹ thuật đã
tạo dựng vào loại khá trong cả nước. Đó là các yếu tố đảm bảo không chỉ giúp
liên kết kinh tế Hà Nội với kinh tế cả nước mà còn cho phép Hà Nội tiếp cận
nhanh với với những cơ hội thương mại ở cả thị trường trong nước và nước
ngoài, phục vụ và thúc đẩy quá trình tham gia phân công lao động quốc tế, khu
vực và hội nhập vào thị trường thế giới của thành phố nói riêng và của cả nước
nói chung. Vì vậy, hoạt động logistics của thành phố đóng vai trò hết sức quan
trọng trong sự phát triển thương mại này.
Thực tế tại Việt Nam cũng như Hà Nội, dịch vụ giao nhận và kho bói đó
và đang phát triển. Sự hình thành các dịch vụ này dù chỉ ở quy mô nhỏ với một
số ít nội dung hoạt động của cũng báo hiệu một xu thế không thể chối bỏ là dịch
vụ này sẽ ngày càng phát triển nhanh chóng. Sức ép của hội nhập, cổ phần hóa,
tự do hóa thông tin đòi hỏi Hà Nội phải đi trước một bước trong việc hình thành

bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi
logistics
e) Hoạt động xử lý lại hàng hóa bị trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn,
lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
Phân loại theo phương thức khai thác hoạt động của logistics là phù hợp
nhất.
- Logistics bên thứ nhất (1PL): là các công ty tự thực hiện các hoạt động
logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, các
phương tiện xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện
các hoạt động logistics.
- Logistics bên thứ hai (2PL): là việc quản lý các hoạt động logistics truyền
thống như vận tải hay kho vận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện,
cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ logistics nhằm cung cấp các
phương tiện thiết bị hay các dịch vụ cơ bản. Lý do của phương thức này là để
cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư.
- Logistics bên thứ ba (3PL): là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện
các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình hoặc chỉ là một số hoạt động
có chọn lọc.
- Logistics bên thứ tư (4PL): là quản lý và thực hiện các hoạt động logistics
phức hợp như quản lý nguồn nhân lực, trung tâm điều phối, kiểm soát và các
chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động logistics.
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn Hà Nội hầu hết là các
doanh nghiệp nhỏ, hết sức hạn hẹp về vốn, nguồn nhân lực, mặt bằng. Các trang
thiết bị thô sơ chủ yếu tìm kiếm các đối tác nước ngoài mạnh để làm thuê cho họ
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C

- Khả năng tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ L
- Nguồn nhân lực cho phát triển các dịch vụ L (kiến thức nghiệp vụ, trình
độ ngoại ngữ, khả năng ứng xử với các biến động của thị trường)
Mối quan hệ giữa logistics với phát triển kinh tế bền vững của các đô thị lớn
là mối quan hệ hai mặt, có tác động qua lại với nhau, cái này là tiền đề để cái kia
phát triển.
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
Trong sản xuất có sự chuyên môn hóa lao động cao thì sản phẩm của doanh
nghiệp này sẽ là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác. Vì vậy, khi
logistics phát triển, lưu chuyển hàng hóa nhanh, tiết kiệm, không bị ứ đọng ở bất
cứ khâu nào, bất cứ đõu thỡ sản xuất trong nền kinh tế mới hoạt động thông
suốt, sản xuất đến được với tiêu dùng và thông tin từ tiêu dùng sẽ kịp thời được
phản ánh đến sản xuất để kịp thời thay đổi. Khi đó, nguồn lực của xã hội sẽ
được tiết kiệm, giảm chi phí trong khâu lưu thông, giá thành sản phẩm hạ mà
không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, sản xuất phát triển ổn định, bền vững
hơn. Điều này đối với các đô thị lớn như Hà Nội lại càng quan trọng. Tình trạng
giao thông thường xuyên ùn tắc, các xe trọng tải lớn chỉ được hoạt động vào một
số giờ quy định nên việc đảm bảo thông suốt càng khó khăn gấp bội.
Mặt khác, kinh tế phát triển bền vững sẽ tạo môi trường thuận lợi cho
logistics phát triển. Thật vậy, khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân tăng
cao, nhu cầu về hàng hóa phát triển đa dạng khiến cho sản xuất và thương mại
phát triển. Từ đó, nhu cầu về dịch vụ logistics không ngừng gia tăng, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp logistics cạnh tranh phát triển. Ở Hà Nội, nơi thu
nhập của người dân ở mức cao so với cả nước, nhu cầu tiêu dùng cũng phong
phú đa dạng hơn, đồng thời yêu cầu về các dịch vụ kèm theo cũng phát triển, vì
vậy, dịch vụ logistics ở Hà Nội sẽ có môi trường phát triển tốt hơn, cạnh tranh
khốc liệt hơn.

Hà Nội được coi là quá yếu trong hoạch định và thực hiện chiến lược hệ thống
giao thông vận tải, trong đó nổi cộm là giao thông đường bộ và môi trường
chính sách cho hoạt động vẩn chuyển trong đô thị.
Về hệ thống kho thì hiện nay được đáng giá là việc sử dụng các kho này
không hiệu quả. Các kho này chủ yếu vẫn được xây dựng ngang bằng với mặt
đất, đây là kiểu kho truyền thống và rất khó khăn để làm hàng được đóng trong
container, và rất khó mở rộng trong tương lai. Các công ty có vốn đầu tư nước
ngoại chủ yếu thuê lại và hoạt động trên chiến lược “ớt đầu tư cơ sở hạ tầng”.
d. Các sản phẩm của ngành mới dừng ở mức đơn giản, chưa có nhiều giá trị
gia tăng
Các sản phẩm trong ngành chủ yếu là các sản phẩm cơ bản (vận chuyển,
kho bãi) và thiếu những sản phẩm mang giá trị gia tăng. Nếu chỉ cung cấp 2 dịch
vụ cơ bản là vận chuyển và kho vận mà thiếu hẳn các dịch vụ giá trị gia tăng thì
có thể thấy rằng ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói
riêng đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển.
Ngoài ra trên thị trường dịch vụ logistics vẫn thiếu hẳn những nhà cung
cấp dịch vụ 3PL trọn gói thật sự. Một số doanh nghiệp vận tải Nhà nước như
Vinatrans và Vietfratch chỉ cung cấp dịch vụ giao nhận đơn thuần như dịch vụ
lưu kho và làm hàng. Cũn cỏc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như
Maersk, APL… cũng chỉ cung cấp một phần các dịch vụ riêng lẻ.
e. Sự cạnh tranh trên thị trường cao và cạnh tranh chủ yếu dựa
vào giá cả
Hiện nay thị trường Việt Nam có hơn 1000 nhà cung cấp dịch vụ giao
nhận và logistics, trong đó có khoảng 18% là công ty nhà nươc, 70% là công ty
tư nhân, 10% là không đăng ký và 2% là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo ước tính, mặc dù chỉ chiếm 2% tổng số doanh nghiệp, nhưng các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 30-35% thị phần của thị trường.
Và hơn 800 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL trong nước sẽ phải chia nhau
65% thị phần của còn lại. Vì thế, thị trường dịch vụ logistics tại Việt Nam phân
tán, điều này dẫn đến mức độ cạnh tranh ngành rất cao. Hơn thế nữa, do áp lực

làm gia tăng giá trị sản phẩm như đóng gói, phân loại… thúc đẩy thương mại
phát triển, người dân thủ đô được tiếp cận với chất lượng phục vụ cao, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng dịch vụ trong GDP.
c. Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa
chứng từ trong kinh doanh quốc tế
Trong kinh doanh quốc tế cần rất nhiều các chứng từ như C/O, hóa đơn, ISO,
các chứng từ vận tải khi người nhập khẩu yêu cầu chứng từ gỡ thỡ người xuất
khẩu phải xuất trình các chứng từ đó. Mỗi loại chứng từ lại có chức năng và tác
dụng riêng nhưng đều đòi hỏi tính chính xác, thống nhất, hợp pháp thì người
nhập khẩu mới trả tiền. Vì vậy, các nhà xuất khẩu đều muốn được cung cấp các
chứng từ này một cách nhanh chóng, ít chi phí và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Khi dịch vụ logistics phát triển, việc xin cấp các chứng từ này đều do công ty
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
9
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
logistics thực hiện, họ am hiểu thông lệ quốc tế và tránh được các sai sót làm
chậm trễ việc giao tiền của nhà nhập khẩu. Đồng thời, góp phần thúc đẩy các cơ
quan ban ngành liên quan hoàn hiện và tiêu chuẩn hóa các chứng từ trong
thương mại quốc tế.
d. Hoạt động logistics phát triển góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý
và tăng cường năng lực cạnh tranh của thành phố
Hoạt động logistics phát triển, thành phố sẽ bớt khó khăn hơn trong việc
quản lý đường đi của hàng hóa, cũng như chất lượng, xuất xứ của các hàng hóa
đó. Ví dụ, thay vì đưa thịt lợn vào các chợ theo con đường tiểu ngạch, do các
thương lái nhỏ chở với số lượng ít vào thành phố, khiến cơ quan chức năng khó
kiểm soát chất lượng, xuất xứ của hàng hóa này thì khi dịch vụ logistics phát
triển, các công ty logistics sẽ gom hàng từ các hộ nuôi, trang trại, đảm bảo hàng
hóa được kiểm dịch và chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, vận chuyển với
số lượng lớn vào thành phố, việc quản lý chất lượng hàng hóa sẽ dễ dàng hơn.

logistics ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng là vấn đề rất cấp bách, đòi
hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan ban ngành.
1.2.3. Xu hướng phát triển logistics ở các thành phố lớn
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu kinh tế, trong thời gian tới logistics
trên thế giới sẽ phát triển theo các xu hướng sau:
a. Ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử sẽ ngày càng phổ biến
và sâu rộng hơn trong lĩnh vực của logistics
Mạng thông tin toàn cầu đã, đang và sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế toàn
cầu. Quản trị hậu cần là một lĩnh vực phức tạp với chi phí lớn nhưng lại là yếu
tố chủ đạo quyết định lợi nhuận của doanh nghiệp trong thương mại điện tử. Xử
lý đơn đặt hàng, thực hiện đơn đặt hàng, giao hàng, thanh toán và thu hồi hóa
đơn mà khách hàng không ưng ý… là những nội dung của lĩnh vực hậu cần
trong môi trường thương mại điện tử. Một hệ thống hậu cần hoàn chỉnh, tương
thích với các quy trình của thương mại điện tử, đáp ứng được những đòi hỏi của
khách hàng trong thời đại công nghệ thông tin là yếu tố quyết định thành công
trong kinh doanh. Vì vậy, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử
như: hệ thống thông tin quản trị dây truyền cung ứng, công nghệ nhận dạng
bằng tần số vô tuyến… đang ngày càng được áp dụng rộng rãi trong kinh doanh
bởi vì thông tin được truyền càng nhanh càng chính xác thỡ cỏc quyết định trong
hệ thống logistics càng hiệu quả.
b. Phương pháp quản lý logistics kéo (pull) ngày càng phát triển mạnh mẽ
và dần thay thế cho phương pháp quản lý logistics đẩy (push) theo truyền thống.
Nền sản xuất dựa trên logistics kéo đối lập hẳn với cơ chế logistics đẩy
truyền thống trước đây – đó là cơ chế sản xuất được điều khiển bởi cung và
được dẫn dắt chỉ đạo theo một kế hoạch sản xuất đã được sắp đặt trước. trong hệ
thống sản xuất điều khiển bởi cung, các thiết bị và sản phẩm hoàn thiện được
đẩy và các quá trình sản xuất hoặc chuyển vào các nhà kho lưu trữ theo sự sắp
sẵn của công suất máy móc. Rõ ràng, cơ chế sản xuất dựa trên trên logistics đẩy
không thực tế và phù hợp với người tiêu dùng, dẫn đến sự dư thừa và lãng phí.
Logistics kéo là quá trình sản xuất được dẫn dắt bởi hoạt động trao đổi mua bán

thụ lớn về hàng hóa, các ngành dịch vụ phát triển thuận lợi, mạng lưới phân phối
có khả năng liên kết chặt chẽ với các nguồn cung ứng hàng hóa trong vùng.
Trong vùng trung tâm thủ đô, Hà Nội cũng có vị trí hạt nhân là thành phố
trung tâm của vùng, đầu mối giao thông chính, trung tâm của các ngành dịch vụ
nên có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thương mại mang tầm khu vực
Đông Nam Á.
Hà Nội còn có vị trí quan trọng trong hợp tác hai hành lang kinh tế Việt
Nam-Trung Quốc: Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và
Quảng Tây – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng. Theo đó Hà Nội là thành phố
trung tâm và đầu mối để phát triển quan hệ thương mại trong hai hành lang kinh
tế này.
Hà Nội là trung tâm hàng đầu về khoa học- công nghệ, có điều kiện thuận
lợi thu hút đội ngũ khoa học trong và ngoài nước, trong điều kiện đó, ngành
thương mại Hà Nội cũng có nhiều thuận lợi để tăng cường trình độ công nghệ
hiện đại, đáp ứng các mục tiêu phát triển.
Với vị trí thủ đô của đất nước, Hà Nội có đủ các điều kiện và yếu tố thuận
lợi để phát triển ngành thương mại, phát huy vai trò trung tâm giao lưu và phân
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
12
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
phối hàng hóa, trung tâm kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, nhờ đó mà
hoạt động logistics của thành phố cũng thuận lợi phát triển hơn.
1.2.4.2. Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên
- Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình bằng
phẳng, là vùng dân cư đông đúc từ lâu đời, đó là những yếu tố thuận lợi cho phát
triển logistics của thành phố.
- Khí hậu Hà Nội đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa, với hai
mùa chủ yếu trong năm, mùa nóng và mùa lạnh. Hằng năm Hà Nội chịu ảnh
hưởng trực tiếp của 4-5 cơn bão, bão thường trùng với mùa nước sông Hồng lên

Lớp: QTKD thương mại 50C
13
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồng bộ và hệ
thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiều hợp lý. Thêm nữa, hiện tượng
ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông.
Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt - loại hình phương tiện giao thông công
cộng duy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân
vẫn sử dụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy.
1.2.4.4. Phương hướng phát triển tổng thể kinh tế xã hội của thủ đô trong
thời gian tới
a. Phương hướng quy hoạch mạng lưới dịch vụ thương mại
Xây dựng mới trung tâm hội chợ triển lãm thương mại quốc tế ở Mễ Trì
và Đông Anh. Xây mới trung tâm dịch vụ trung chuyển hàng hóa gắn với các
mạng lưới chợ đầu mối nông sản tổng hợp cấp vùng tại khu vực Mê Linh,
Thường Tín – Phỳ Xuyờn, Hòa Lạc, Thạch Thất, Gia Lâm; mạng lưới trung tâm
bán buôn và mua sắm cấp vùng gắn với khu vực đô thị trung tâm, các đô thị vệ
tinh và các đầu mối giao thông liên lạc vùng tại Sóc Sơn, Thường Tín – Phỳ
Xuyờn, Hòa Lạc, Chúc Sơn, Gia Lâm.
Khu vực nội đô hình thành mới các trung tâm thương mại tổng hợp cấp
thành phố tại Tây Hồ Tây, Thượng Đình, Vĩnh Tuy… trên cơ sở chuyển đổi đất
của khu công nghiệp Cao Xà Lá và Dệt Minh Khai. Cải tạo nâng cấp các cơ sở
thương mại, chợ hiện hữu. Tăng cường các cơ sở thương mại, các siêu thị và
Minimart tại quỹ đất tái sử dụng để giảm thiểu cho chợ nhỏ lẻ trong cỏc ngừ
xúm, kinh doanh thương mại trên đường phố.
b. Phương hướng quy hoạch hạ tầng kĩ thuật
Giao thông của Hà Nội hiện nay chủ yếu dựa vào các phương tiện vận tải cá
nhân, theo báo cáo thì tỷ lệ vận tải công cộng rất thấp chỉ chiếm khoảng 14%
gồm cả xe buýt và xe tắc xi. Hệ thống đường sắt đường thủy lạc hậu, chiếm tỷ
trọng quá nhỏ so với tổng lượng nhu cầu vận tải. Nhiều tuyến đường chính đô

thị.
1.2.4.5. Yếu tố về công nghệ thông tin
Thực tế đã chứng minh, dịch vụ logistics không thể phát triển được nếu
không có công nghệ thông tin. Sự tiến bộ vượt trội của công nghệ thông tin thời
gian qua đó giỳp cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics có thể tập
hợp thông tin, xử lý thông tin, xử lý và trao đổi thông tin trong quá trình lưu
chuyển của hàng hóa và chứng từ một cách dễ dàng, thuận lợi.
Trước đây khi công nghệ thông tin chưa thật sự phát triển, các chủ hàng
gủi hàng đi luôn rất lo lắng về hàng hóa của mình trong quá trình vận chuyển.
Ngày nay, công nghệ thông tin hiện đại với hệ thống máy tính có khả năng liên
kết toàn cầu đó giỳp cho chủ hàng có thể liên hệ chặt chẽ với người vận tải, với
người nhận hàng và theo dõi sát sao hành trình của hàng hóa. Sự phát triển của
công nghệ thông tin đó giỳp cho các bên có liên quan có thể trao đổi kịp thời để
giải quyết những khó khăn, vướng mắc đối với hàng hóa của mình một cách linh
hoạt, hiệu quả.
Hệ thống thông tin logistics trong nước bao gồm thông tin trong nội bộ tổ
chức, doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ logistics, thông tin trong từng bộ phận
chức năng (marketing, sản xuất, kế toán tài chớnh…), thông tin ở từng khâu
trong dây chuyền cung ứng và sự kết nối giữa các công đoạn trên.
Nói cách khác, công nghệ thông tin là yếu tố hết sức quan trọng giúp cho
việc tổ chức và quản lý quá trình lưu chuyển hàng hóa qua nhiều công đoạn,
chặng đường, phương tiện và địa điểm khác nhau. Nhờ có công nghệ thông tin
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
15
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
mà người ta có thể điều hành toàn bộ quá trình lưu chuyển hàng hóa một cách
khoa học, hợp lý, kịp thời với độ an toàn cao.
1.2.4.6. Các yếu tố về nguồn nhân lực
Cũng như các ngành kinh tế khác trong điều kiện hội nhập, yếu tố nguồn

các khách hàng lớn đều hạn chế nhập khẩu.
Ngoài ra những bất ổn về an ninh chính trị và xã hội ( như chiến tranh,
khủng bố, thiên tai, dịch bệnh…) đều là những nguy cơ tiềm ẩn và hoàn toàn có
thể dẫn đến những khủng hoảng lại ở quy mô khu vực hay thế giới. Nếu điều đó
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
16
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
xảy ra sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu của
nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng. Từ đó hoạt động logistics của thành phố
cũng bị ngưng trệ.
Xu hướng kí kết các hiệp định thương mại tự do, nhất là giữa các nước và
khu vực với nhau là một thách thức lớn đối với các nước không tham gia hiệp
định. Và ngay cả đối với các nước tham gia hiệp định thỡ cỏc nền kinh tế kém
phát triển cũng thường phải chịu thiệt thòi nhiều hơn.
Dưới sức ép của toàn cầu hóa kinh tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt và
ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mới tinh vi hơn, như áp
dụng các tiêu chuẩn kĩ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm hay các biện
pháp chống bỏn phỏ giỏ…
Những yếu tố trên của nền kinh tế thế giới trong thời gian tới sẽ tác động
đến sự phát triển kinh tế nước ta và Hà Nội, đặc biệt là tới hoạt động xuất khẩu,
đòi hỏi chúng ta phải hạn chế những tác động tiêu cực, đồng thời phải tranh thủ
các yếu tố thuận lợi để gia tăng xuất khẩu. Đặc biệt, hoạt động logistics phải
hoạt động thực sự mạnh mẽ: thông hiểu các thông lệ quốc tế về xuất nhập khẩu,
cú cỏc biện pháp nhằm giảm chi phí vận chuyển… để giảm giá thành sản phẩm,
nâng cao khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của nước ta.
b. Môi trường quốc tế ảnh hưởng tới logistics nội địa
Thị trường bán lẻ của Việt Nam được đánh giá có sức hấp dẫn thứ 3 trên
thế giới, vì vậy được nhiều tập đoàn và công ty thương mại bán buôn và bán lẻ
trên thế giới nhắm tới, trong đó thị trường Hà Nội với lợi thế riờng nờn sẽ thu

nhà bán buôn truyền thống suy giảm, nhất là trên thị trường hàng tiêu dùng
không bền, do các nhà sản xuất tự kiểm soát việc phân phối hoặc các nhà bán lẻ
mở rộng buôn bán tận gốc, nhưng vai trò của các nhà bán buôn hiện đại tăng lên,
nhất là đối với việc cung cấp trọn gói hàng tiêu dùng có giá trị cao, hàng vật liệu
và sản phẩm có số lượng lớn, thị trường dịch vụ phân phối có giá trị cạnh tranh
cao, tác động của thương mại điện tử đến sự thay đổi toàn diện lĩnh vực phân
phối, đặc biệt với sự xuất hiện của các cửa hàng, siêu thị ảo hoặc giao dịch giữa
các doanh nghiệp, xu hướng cạnh tranh trong ngành để giảm chi phí chủ yếu
bằng quy mô phân phối lớn, trình độ chuyên nghiệp hóa cao và tiêu chuẩn hóa
mạng lưới phân phối.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN LOGISTICS CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG LOGISTICS CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
18
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
2.1.1. Điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới việc phát triển logistics của
thành phố
Với vị trí là Thủ đô của cả nước, đầu não chính trị hành chính quốc gia,
trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của
cả nước, đầu mối giao thông với các địa phương của cả nước nên Hà Nội có
điều kiện đặc biệt thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Công nghiệp dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nên cơ cấu kinh tế thủ đô
chuyển hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành
nông nghiệp. đồng thời cơ cấu các ngành cũng chuyển dịch theo hướng tích cực.
ngành công nghiệp chế biến sâu, ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và
chất xám phát triển nhanh và ngày càng có đóng góp lớn. các ngành dịch vụ
được mở rộng, các dịch vụ có chất lượng cao được chú trọng phát triển và có tốc
độ tăng trưởng nhanh, tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu ngành dịch vụ. sản xuất

đầu của thị trường logistics Việt Nam. Năm 1994, khởi đầu là doanh nghiệp liên
doanh logitem giữa Đoàn xe 14 của Việt Nam và doanh nghiệp Logitem
International của Nhật Bản được thành lập, hoạt động chủ yếu là cung cấp dịch
vụ vận tải hàng hóa và hành khách nội địa. Tiếp sau đó, một loạt các doanh
nghiệp mới ra đời, tham gia cung ứng một số loại dịch vụ logistics nhất định, có
thể kể đến một vài doanh nghiệp như doanh nghiệp Liên doanh phát triển tiếp
vận số 1với các bên tham gia liên doanh gồm có Watco, Vietfrach (Việt Nam),
Mitorient (Singapore) và PanViet (Đài Loan), doanh nghiệp Dragon Logistics
liên doanh giữa các tập đoàn Suzuo, Mitsubishi (Nhật Bản) và các đối tác của
Việt Nam là Vinapco và Hanel. Các doanh nghiệp này cung cấp các dịch vụ
Logistics như cảng container, vận tải đường thủy, dịch vụ giao nhận, dịch vụ
liên quan đến phân phối và một số dịch vụ có liên quan khác.
2.1.2.2. Từ 2001 đến 2005
Sang tới giai đoạn thứ hai từ năm 2001 đến 2005, đây là giai đoạn mở đầu
cho sự phát triển của hoạt động giao nhận vận tải quốc tế Việt Nam, một trong
những khâu chuỗi quan trọng của hoạt động logistics. Tuy nhiên trong giai đoạn
này, lĩnh vực kho vận của Việt Nam vẫn là một ngành kinh doanh mới mẻ, khó
cạnh tranh trước các đối thủ nước ngoài, nên phần lớn các doanh nghiệp tham
gia là các doanh nghiệp Nhà nước và nhận được sự bảo hộ, khuyến khích phát
triển của Đảng và Nhà nước trước các doanh nghiệp nước ngoài.
2.1.2.3. Từ 2006 đến nay
Đây là giai đoạn bùng nổ của các hoạt động cung ứng các dịch vụ
logistics Việt Nam và sự ra đời của nhiều doanh nghiệp logistics nội địa. Sau khi
gia nhập WTO, sự phát triển này càng trở nên mạnh mẽ. Số lượng các doanh
nghiệp phát triển nhanh chóng đạt đến con số trên 1000 doanh nghiệp. Trong
con số trên 1000 doanh nghiệp đó, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước đã giảm đi
đáng kể và tới nay chỉ chiếm khoảng 18%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có tỷ trọng ít ỏi chỉ 2%, còn lại 80% là các doanh nghiệp logistics tư nhân.
Đây là những con số đáng vui mừng trước sự trưởng thành của các doanh
nghiệp tư nhân Việt Nam, tuy nhiên lại là một bài toán nan giải cần giải quyết về

Hà Nội có khoảng 150km đường sắt đi qua, trong đó có khoảng 30 km
hầu như chưa được sử dụng (đoạn qua cầu Thăng Long đến ga Văn Điển) và 10
nhà ga. Hệ thống này đang thuộc độc quyền của ngành đường sắt. thành phố chỉ
có thể khai thác lợi ích của hệ thống này bằng các hình thức liên doanh hoặc các
hình thức khác và khi nhà nước xóa bỏ độc quyền của ngành đường sắt.
Bảng 2.2: Các tuyến chính của mạng lưới đường sắt Hà Nội
Tuyến chính Chiều dài Khổ đường
Hà Nội – TP Hồ Chí Minh 1.726 1.000mm
Hà Nội – Hải Phòng 102 1.000mm
SV: Lê Thị Vân Anh
Lớp: QTKD thương mại 50C
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Đặng Thị Thúy Hồng
Hà Nội – Lào Cai 296 1.000mm
Hà Nội – Đồng Đăng 192 Đường lồng (1.435 & 1.000mm)
Hà Nội – Quán Triều 75 Đường lồng (1.435 & 1.000mm)
(Nguồn: Cục đường sắt Việt Nam)
Đường sắt Việt Nam đã xây dựng và khai thác hơn 1 thế kỷ. mạng lưới
đường sắt Việt Nam có 7 tuyến chính với tổng chiều dài 2.600km, riêng tuyến
Hà Nội – thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 2/3 tổng chiều dài. Hiện nay có 3
loại khổ đường sắt 1.000mm, 1.435mm và đường lồng kết hợp cả hai loại trên
nhưng khổ đường 1.435mm chưa chiếm tới 7% và hầu hết là đường đơn. Do
thời gian tồn tại lâu và công tác xây dựng, duy tu bảo dưỡng còn chưa đáp ứng
nên mạng lưới đường sắt có chất lượng thấp. nền đường yếu, một số nơi nền
đường lỳn, trụi, sạt lở, mương rãnh thoát nước cũn kộm nên mùa mưa bão nền
đường toàn bị đọng nước, bị trôi gây ảnh hưởng tới hoạt động vận chuyển.
Mạng lưới đường sắt, cầu hầm có chất lượng thấp, nhiều đoạn xuống cấp,
tiêu chuẩn lạc hậu. hơn nữa trên toàn tuyến đường sắt, còn nhiều tuyến đường
giao cắt đường bộ, gây cản trở giao thông đô thị. Tình trạng hành lang an toàn
đường sắt bị lấn chiếm khá phổ biến, đặc biệt ở Hà Nội, làm ảnh hưởng tới tầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status