MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS VÀCHI PHÍ LOGISTICS
5
1.1.
Khái niệm logistics và vai trò của logistics 5
1.1.1.
Khái niệm logistics 5
1.1.2. Vai trò của logistics 7
1.2.
Phân loại logistics và dịch vụ logistics 11
1.2.1. Phân loại logistics 11
Phân tích chi phí logistics của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
logistics trên địa bàn Hà Nội 45
2.3.1. Các yếu tố cấu thành chi phí logistics tại các doanh nghiệp LSP trên địa
bàn Hà Nội 45
2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí logistics 54
2.4. Những khó khăn trong công tác tối ưu hoá chi phí logistics của các LSP
tại Hà Nội 58
2.4.1. Khó khăn từ bên trong các doanh nghiệp 58
2.4.2. Các khó khăn từ bên ngoài doanh nghiệp 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỐI ƯU HÓA CHI PHÍ LOGISTICS
CHO CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS TẠI HÀ NỘI 62
3.1. Định hướng phát triển cho các LSP Hà Nội thời gian tới 62
3.2. Đề xuất các giải pháp tối ưu hoá chi phí logistics 65
3.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô 65
3.2.2. Nhóm giải pháp vi mô 70
KẾT LUẬN 77
Organization
Tổ chức Lao động Thế giới
LPI Logistics Performance Index Chỉ số logistics của Ngân hàng Thế
giới
LSP Logistics Service Provider Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
logistics
NK Nhập khẩu
TEU Twenty-foot equivalent units Đơn vị container hoá
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
XK Xuất khẩu
XNK Xuất nhập khẩu
LCL Less than container load Giao hảng không đủ container
VIFFAS Vietnam Freight Forwarders
Association
Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt
Nam
VLA Vietnam Logistics
Association
Hiệp hội các doanh nghiệp logistics
Việt Nam
ii DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Chín nhóm hoạt động logistics chính (Key Logistics Activities) 19
Bảng 2.1. Các tuyến chính của mạng lưới đường sắt Việt Nam 32
iii
động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, logistics phát triển mạnh mẽ và
không chỉ còn giới hạn ở góc độ quân sự mà được mở rộng ra trong nhiều lĩnh vực
khác trong xã hội, trong đó có kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói
riêng. Tại Việt Nam, logistics tuy còn mới nhưng ngày càng có một vai trò quan
trọng trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Điều này đánh dấu xu thế hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới của nước ta và ngành logistics của Việt Nam cũng không đứng
ngoài xu thế đó, nhất là khi nước ta tiến hành thực hiện các cam kết về phân phối và
logistics của WTO trong thời gian sắp tới. Trong bối cảnh đó, vấn đề được đặt ra là
làm sao để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
logistics (LSP – Logistics Service Provider) ở nước ta trước các đối thủ cạnh tranh
từ nước ngoài trong khi chi phí logistics của các doanh nghiệp này vẫn còn cao. Nếu
giải quyết tốt được bài toán chi phí – năng lực cạnh tranh thì dưới góc độ vi mô,
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics được cải thiện
đáng kể, hơn nữa trên bình diện vĩ mô, điều này có ý nghĩa tích cực tới sự phát triển
của nền kinh tế.
Xét trên phạm vi hẹp hơn, từ góc độ các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ
logistics tại Hà Nội, địa bàn có mức độ tập trung cao các LSP, đồng thời là khu vực
có tính cạnh tranh mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực kinh tế, việc tối ưu hoá chi phí
logistics cho các LSP càng trở nên thiết thực và có tính thời sự hơn nữa. Không
dừng lại ở đó, việc tối ưu hoá chi phí logistics cho các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ logistics ở Hà Nội có giá trị tham khảo và hữu ích cho các doanh nghiệp cung
ứng dịch vụ này trong cả nước. Bên cạnh đó, việc tối ưu hoá chi phí logistics tạo
2 điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics được hưởng dịch vụ tốt
hơn với chi phí cạnh tranh hơn.
Với ý nghĩa trên đồng thời với khả năng nghiên cứu và thời gian có hạn, nhóm
Việt Nam và ASEAN”. Bản báo cáo đề cập đến những khó khăn, thách thức với
logistics thương mại và thuận lợi hóa thương mại, đồng thời đề xuất các giải pháp vĩ
mô cho logistics thương mại ở Việt Nam.
Tuy nhiên, các bài nghiên cứu và báo cáo kể trên chỉ dừng lại ở việc đề cập
đến thực trạng logistics ở Việt Nam và trên thế giới, riêng với các nghiên cứu ở Việt
Nam, chưa có bài viết về địa bàn Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu
trên đa phần hướng tới chi phí của các doanh nghiệp sản xuất, chưa có nghiên cứu
nào đi sâu vào phân tích chi phí logistics của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
logistics.
Vì vậy, đây là nghiên cứu đầu tiên về chi phí logisitics cho các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ logistics trên địa bàn Hà Nội.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu có mục tiêu là các giải pháp tối ưu hoá chi phí logistics của các
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics tại Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về logistics, dịch vụ logistics, chi phí logistics và cách
xác định chi phí logistics.
Khảo sát chi phí logistics của một số doanh nghiệp cung ứng dịch vụ
logistics trên địa bàn Hà Nội.
Phân tích, tổng hợp các biện pháp tối ưu hoá chi phí logistics đang được
áp dụng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua bảng hỏi.
- Phương pháp phân tích tài liệu.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh.
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chi phí logistics và các biện pháp tối ưu hóa chi phí
logistics của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS VÀCHI PHÍ LOGISTICS
1.1. Khái niệm logistics và vai trò của logistics
1.1.1. Khái niệm logistics
Thuật ngữ “logistics” có nguồn gốc từ tiếng Pháp (logistique), được sử dụng
đầu tiên trong lĩnh vực quân sự với ý nghĩa là nghệ thuật bố trí và di chuyển quân
đội. Napoleon từng định nghĩa: “logistics là hoạt động để duy trì quân đội. Trong
nhiều cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945), các nhà
quân sự đã sử dụng các kỹ năng về logistics nhằm đem lại chiến thắng cho quân đội
của mình. Sau chiến tranh, logistics còn được áp dụng trong công cuộc tái thiết đất
nước hoặc trợ giúp tái thiết đất nước. Sau này, thuật ngữ logistics thu hút sự quan
tâm trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là giai đoạn 1957 – 1958, khi khủng hoảng kinh
tế thế giới xảy ra và việc thu hẹp lợi nhuận đã buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm
các hệ thống kiểm soát chi phí hiệu quả hơn. Điều này thúc đẩy sự ra đời của
logistics trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.
Logistics phát triển nhanh chóng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ở nhiều
nước; do đó, có nhiều tổ chức thế giới và học giả tham gia nghiên cứu đã đưa ra các
định nghĩa khác nhau. Khái niệm logistics xuất hiện trong rất nhiều báo cáo và tài
liệu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về logistics.
Khó có thể khẳng định rằng định nghĩa nào về logistics là đúng nhất vì các
định nghĩa khác nhau tiếp cận logistics ở những phương diện, góc nhìn khác nhau.
Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thường được hiểu là hoạt động
quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phân phối
vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó. Việc nghiên cứu
các khái niệm điển hình, nhận được nhiều sự chấp thuận và ủng hộ sẽ giúp ta có
cách nhìn nhận và hiểu biết toàn diện hơn về logistics. Dưới đây là một số khái
niệm điển hình về logistics:
- Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý
logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): “Logistics là hoạt động quản lý
hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố
này là các bộ phận tạo thành chuỗi logistics”. Các yếu tố khác nhau kể trên bao gồm
vận tải, kho bãi, phụ tùng thay thế, nhân sự và đào tạo nhân sự, tài liệu, thiết bị kiểm
tra, hỗ trợ, nhà xưởng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào với nhau
hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo cấp độ yêu cầu của doanh nghiệp mình.
7 1.1.2. Vai trò của logistics
Từ việc nghiên cứu khái niệm logistics, ta có thể thấy rằng logistics bao gồm
rất nhiều hoạt động và mỗi hoạt động lại mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích
khác nhau. Vì thế, logistics có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng
và với nền kinh tế nói chung.
1.1.2.1. Với nền kinh tế quốc dân
Đầu tiên và quan trọng nhất, logistics có vai trò tăng khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xu thế toàn cầu hóa
mạnh mẽ hiện tại đặt nền kinh tế quốc dân trước những thách thức to lớn. Đó chính
là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các hãng, các tập đoàn đa quốc gia – những tổ chức đã
hoàn thiện về mặt cơ cấu, nhân sự và quy trình hoạt động. Giảm được chi phí, trong
đó, tối ưu chi phí logistics chắc chắn sẽ làm cho giá cả hàng nội địa có sức cạnh
tranh hơn trên thị trường quốc tế. Chi phí logistics của nước ta, cũng giống như
những quốc gia đang phát triển khác, chiếm tỷ trọng không nhỏ trong GDP. Vì vậy,
việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp và cả nền
kinh tế giảm được chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ đó tinh giản hóa và tăng
hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, trong thương mại quốc tế,
chi phí vận tải chiếm một phần lớn trong giá cả của hàng hóa khi khoảng cách giữa
nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ thường khá xa. Vì thế, dịch vụ logistics càng hiện
đại và hoạt động càng hiệu quả thì càng tiết kiệm được chi phí vận tải và theo đó
càng giảm được chi phí lưu thông.
trong kinh doanh quốc tế. Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ,
chứng từ, thủ tục phục vụ cho các giao dịch thương mại quốc tế hàng năm là một
con số rất lớn, và chi phí đó làm ảnh hưởng lớn tới hoạt động mua bán quốc tế. Mặt
khác, sự phát triển logistics trong quá trình tối ưu hóa các chu trình lưu chuyển
nguyên vật liệu, hàng hóa hay sản phẩm dịch vụ đã tự nó thúc đẩy sự hình thành các
tiêu chuẩn về đóng gói, bốc xếp, chứng từ, hệ thống nhãn mác hay mã vạch…từ đó
rút ngắn thời gian thực hiện các công đoạn phân loại, ghi chép, xử lý và lưu trữ
chứng từ trong lưu thông hàng hóa. Sự mở rộng hoạt động thương mại và logistics
quốc tế cũng kéo theo nó xu hướng đồng bộ các hệ thống chuẩn mực áp dụng trong
logistics. Điều này không chỉ đơn thuần tiết kiệm được thời gian và chi phí trong
lưu thông, tạo ra một hệ thống lưu chuyển thông suốt và nhanh chóng mà cao hơn là
tạo nên một mạng lưới logistics quốc tế hiệu quả, mang lại lợi ích to lớn cho việc
mở rộng thị trường.
9 Cuối cùng, đối với nền kinh tế quốc dân, logistics được coi như là một công cụ
hữu hiệu để liên kết các hoạt động của các mắt xích khác nhau trong chuỗi giá trị
toàn cầu (Global Value Chain). Các hoạt động sản xuất hàng hóa và thương mại
ngày nay trên thế giới đã và đang biến các quốc gia nói riêng, các châu lục nói
chung thành những mắt xích, những bộ phận trong nền kinh tế toàn cầu. Cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của mọi ngành nghề là sự gia tăng về khối lượng và số lượng
hàng hóa, dịch vụ, dẫn tới khối lượng luân chuyển hàng hóa cũng ngày càng gia
tăng. Chính trong những điều kiện đó mà vai trò liên kết của logistics càng được thể
hiện rõ nét. Nhờ có hệ thống liên kết giữa các khâu từ cung cấp, sản xuất, lưu thông
và phân phối hàng hóa mà logistics tạo dựng nên mà các hoạt động kinh tế được
đảm bảo vận hành trơn tru khâu đầu vào đến khâu đầu ra trong từng giai đoạn, từ
phạm vi từng doanh nghiệp tới toàn nền kinh tế.
1.1.2.2. Dưới góc độ doanh nghiệp
Vai trò đầu tiên và quan trọng nhất phải nhắc tới là logistics góp phần nâng
trợ cho các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chính xác trong
hoạt động sản xuất và kinh doanh. Sản phẩm và dịch vụ chỉ đem lại cho khách hàng
giá trị và sự thỏa mãn cao nhất khi nó tới được với khách hàng đúng thời hạn và địa
điểm quy định. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để đáp ứng được nhu cầu nói
trên của khách hàng, các nhà quản lý phải giải quyết các bài toán như tìm mua
nguyên vật liệu phù hợp, vận chuyển và cung ứng kịp thời cho quá trình sản xuất
với điều kiện tiết kiệm chi phí và hiệu quả về thời gian. Áp dụng các nguyên tắc của
logistics để phối hợp các hoạt động cung ứng là một giải pháp hiệu quả cho những
vấn đề nói trên vì logistics cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để họ có thể đưa
ra những quyết định cung ứng chính xác và kịp thời. Hơn nữa, trong những năm gần
đây, nền kinh tế vẫn nằm trong giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng, chi phí
dịch vụ logistics chịu sự tác động của việc tăng giá năng lượng, đẩy chi phí vận tải
lên cao và đồng thời là việc hạn chế cho vay vốn từ ngân hàng. Trong bối cảnh khó
khăn như vậy, các nhà quản lý càng thấy rõ vai trò quan trọng của các cách thức tối
ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho hay vận chuyển hàng hóa. Cùng với sự trợ giúp
của công nghệ thông tin, logistics chính là công cụ vô cùng đắc lực để tiến hành các
cách thức đó.
Cuối cùng, đối với doanh nghiệp, logistics giúp giải quyết đầu ra và đầu vào
một cách hiệu quả đồng thời đảm bảo cung cấp đúng yếu tố nguyên nhiên vật liệu,
đúng thời gian và địa điểm từ đó có thể thỏa mãn nhu cầu khách hàng được tốt hơn.
Đầu vào và đầu ra là hai vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh. Nguyên vật liệu
11 đầu vào tới tay nhà sản xuất không đúng chủng loại, không đủ số lượng hay chậm
hơn dự kiến; các bán thành phẩm chuyển tới công đoạn sản xuất tiếp theo mà bị
thiếu hụt, sai sót; các sản phẩm hoàn thiện ứ đọng, tồn kho, không đến được tay
người tiêu dùng hoặc tới người mua nhưng không đúng chủng loại, chậm trễ so với
yêu cầu… là những vấn đề mà nếu xảy ra sẽ dẫn tới hậu quả là sự sụp đổ của cả một
hệ thống sản xuất và kinh doanh. Giải pháp ở đây có thể là sử dụng dịch vụ logistics
1.2.1.2. Phân loại theo quá trình
Logistics đầu vào (in bound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài
nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời
gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
Logistics đầu ra (out bound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp
thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí
nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Logistics ngược (reverse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu,
phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất,
phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
1.2.2. Phân loại dịch vụ logistics
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại dịch vụ logistics
khác nhau. Theo Hiệp định Thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ (GATS – The
General Agreement on Trade in Services) của Tổ chức thương mại thế giới WTO
thì dịch vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:
Thứ nhất, các dịch vụ logistics cốt lõi (Core freight logistics service). Dịch vụ
logistics cốt lõi yếu chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và mang tính quyết
định đối với các dịch vụ khác và bao gồm các dịch vụ sau:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi
logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng
hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua
container.
13
biệt nhỏ nhưng hai khái niệm này có thể coi là tương đương và có thể sử dụng như
một khái niệm thống nhất.
14 Dịch vụ logistics có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí, ứng với mỗi tiêu
chí logistics lại có các hình thức khác nhau. Do đó, cho tới nay vẫn chưa có một
khái niệm hoàn toàn thống nhất về chi phí logistics. Điều này phụ thuộc vào nội
dung, phương pháp tính chi phí logistics cũng như loại hình và lĩnh vực kinh doanh.
Thậm chí, giả định các loại hình và lĩnh vực kinh doanh như nhau, kết luận về chi
phí logistics cũng có thể khác nhau nếu nguồn cung ứng và quy trình logistics khác
nhau.
Dù chưa có khái niệm thống nhất về chi phí logistics nhưng cho tới nay đa số
các nhà nghiên cứu và tổ chức kinh doanh thường sử dụng khái niệm về chi phí
logistics do Lampert đưa ra. Theo đó, chi phí logitics bằng tổng các chi phí liên
quan đến dịch vụ khách hàng, chi phí liên quan đến vận tải, chi phí liên quan đến dự
trữ, chi phí liên quan đến quản lý kho, chi phí liên quan đến sản xuất và chi phí liên
quan đến giải quyết đơn hàng, thông tin. Trong khái niệm trên, chi phí logistics
được xây dựng bằng các liệt kê các chi phí có liên quan trong quá trình kinh doanh,
sản xuất. Trong đó, có sự tham gia của 6 nhóm chi phí và cả 6 nhóm chi phí này
liên quan đến khái niệm quan trọng là chi phí phân phối (lưu thông), về thực chất
chúng là những bộ phận cấu thành trong chí phí lưu thông, phân phối và việc tiết
kiệm chi phí phân phối, lưu thông là một trong những mục tiêu quan trọng của
logistics.
15 Sơ đồ 1.1. Chi phí logistics xác định bởi Lampert
Chi phí d
ị
ch v
ụ
nơi ch
ố
n
- Chi phí dịch vụ khách hàng
- Chi phí hỗ trợ dịch vụ linh kiện
- Chi phí hàng trả lại
-
Chi phí d
ự
tr
ữ
hàng t
ồ
n
kho
- Chi phí đóng gói
- Chi phí loại bỏ hàng hóa
-
dựng địa điểm cho nhà máy
và nhà kho
16 chìm của tảng băng còn bao gồm chi phí phân phối theo mạng riêng và chi phí quản
lý phân phối.
1.3.2. Cách xác định chi phí logistics
Từ những khái niệm về chi phí và chi phí dịch vụ logistics đã được nghiên cứu
ở phần trên, có thể thấy ngay rằng kiểm soát và tiết kiệm chi phí tốt sẽ mang lại rất
nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Chi phí, nói chung là một trong những thông tin
quan trọng hàng đầu trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của các nhà quản trị và nếu đứng trên giác độ kế toán, các thông tin mà các
nhà quản trị cần hầu hết đều liên quan tới chi phí. Đối với các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ logistics, chi phí logistics chính là những phí tổn thực tế phát sinh gắn
liền với hoạt động cung cấp dịch vụ hàng ngày của doanh nghiệp, chi phí cũng có
thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một hợp đồng, dự án hoặc những lợi
nhuận mất đi do lựa chọn phương án cung cấp dịch vụ, hy sinh cơ hội kinh doanh.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được các thành phần cấu thành nên
chi phí logistics của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics để có thể tìm ra
những phương án tối ưu hóa các khoản mục đó. Có rất nhiều cách để xác định chi
phí, đưới đây là một số cách xác định dựa theo các tiêu thức phổ biến nhất để có thể
phân tích cơ cấu chi phí dịch vụ logistics của các LSP:
1.3.2.1. Xác định chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách xác định này, chi phí được phân ra căn cứ theo mối quan hệ của chi
phí và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được chia ra làm hai loại:
Chi phí biến đổi hay còn gọi là biến phí, là các khoản chi phí thường tỷ lệ
với kết quả kinh doanh hay quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Chi phí biến đổi có một đặc điểm là tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản
xuất, hay đối với các doanh nghiệp đang nghiên cứu thì là tỷ lệ thuận với lượng dịch
tỷ lệ nghịch. Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn tồn
tại, vì thế mà các nhà quản trị doanh nghiệp muốn giảm chi phí trước hết cần khai
thác hết công suất của các tài sản cố định như phương tiện vận tải hay kho bãi vì
những tài sản cố định trên đều tạo ra các khoản chi phí cố định rất lớn.
Chi phí cố định của doanh nghiệp nói chung có thể được chia ra làm 2 dạng
chính là chi phí cố định thuộc tính và chi phí cố định bắt buộc. Định phí thuộc tính
là các khoản chi phí cố định thường gắn liền với các bộ phận trong tổ chức doanh
nghiệp, khi các bộ phận trong doanh nghiệp không tồn tại thì cũng không có khoản
chi phí thuộc tính này. Dạng định phí thứ hai đó là định phí bắt buộc, ví dụ như tiền
thuê văn phòng công ty. Khi các bộ phận trong doanh nghiệp không tồn tại thì
18 khoản chi phí này vẫn mất đi vì nó gắn liền với cấu trúc của việc tổ chức doanh
nghiệp.
Tóm lại, các nhà quản trị doanh nghiệp muốn kiểm soát các khoản chi phí cố
định thường căn cứ vào mức độ hoạt động, công suất của các tài sản cố định đang
sử dụng và quy mô hoạt động của doanh nghiệp mình.
1.3.2.2. Xác định chi phí dựa theo các hoạt động logistics
Đây là một trong những cách xác định chi phí phổ biến nhất, dựa theo chính
khái niệm về logistics và các dịch vụ logistics chính được các LSP cung cấp. Cách
xác định chi phí dựa theo các hoạt động logistics đã được Lampert đưa ra trong
phần định nghĩa về chi phí logistics như đã nghiên cứu trên đây. Theo đó, khi muốn
xác định tổng chi phí logistics của một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics hay
một doanh nghiệp có hoạt động này trong sản xuất kinh doanh của mình, ta sẽ dựa
vào quy trình hoạt động của doanh nghiệp đó để lựa chọn ra những hoạt động có
liên quan tới logistics và xác định những chi phí phát sinh từ hoạt động đó.
Bên cạnh đó, ta còn có thể xác định chi phí logistics dựa theo chín nhóm hoạt
động logistics chính được phân loại do Davis B. Grant đưa ra năm 2006. Dưới đây
là bảng phân loại các hoạt động logistics chính trong nghiên cứu của Grant.
Chi phí giải quyết tình huống hàng bị
trả lại
Nguồn: Grant, D.B., 2012, Logistics Management, Pearson Education,
Harlow UK.
Tuy nhiên, hai cách xác định chi phí theo các hoạt động logistics trên đây
được xét trên góc độ của các doanh nghiệp nói chung, bao gồm cả những doanh
nghiệp sản xuất, bởi thế nên có xét tới những chi phí như chi phí thu mua hay chi
phí dự báo cầu và lập kế hoạch – những chi phí không hề có trong các khoản mục
kế toán của một LSP. Để xác định được cơ cấu chi phí hoạt động của một doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ logistics điển hình, cần phải xem xét kỹ lưỡng những hoạt
động nào mà chỉ những nhà cung cấp dịch vụ logistics có để tính toán những phí tổn
20 liên quan, từ đó xây dựng các thành phần cơ bản trong tổng chi phí dịch vụ
logistics.
1.3.2.3. Xác định chi phí theo mức độ kiểm soát của doanh nghiệp
Chi phí kiểm soát được: Đây là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi
quyền của các nhà quản trị và nhân viên của doanh nghiệp trong quá trình tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và quá trình cung cấp dịch vụ nói riêng.
Chi phí không kiểm soát được: Đó là các khoản chi phí phát sinh ngoài
phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp. Sự phân biệt giữa hai loại chi phí trên phụ
thuộc vào hai nhân tố cơ bản, đó là đặc điểm phát sinh chi phí trong quá trình hoạt
động và sự phân cấp quản lý trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Mục đích của
việc phân biệt giữa hai loại chi phí này đó là giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có
thể hoạch định được ngân sách chi phí một cách chi tiết và chính xác, tránh khỏi
tình trạng bị động về vốn và tài sản.
Chi phí cơ hội: Đối với các LSP, chi phí cơ hội là những lợi ích bị mất đi
khi tiến hành một phương án thực hiện hợp đồng thay vì lựa chọn một phương án
khác, chẳng hạn như chọn gửi hàng bằng đường biển thay vì đi bằng đường hàng