Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bản chuyên đề thực tập này là do em học tập và tìm tòi từ
nguồn tài liệu của đơn vị thực tập cũng từ mạng internet, báo chí, và thư viện
trường kinh tế quốc dân cùng với sự giúp đỡ của Thầy giáo Tiến sĩ Bùi Đức Tuân
đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bản chuyên đề này. Chuyên đề này là nghiên
cứu độc lập của cá nhân em, mọi số liệu đều chính xác và được phép công bố.
Có gì sai sót em xin chịu trách nhiệm trước hội đồng thầy cô giáo khoa kế
hoạch- phát triển và trường kinh tế quốc dân
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
MỤC LỤC
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU :
SƠ ĐỒ:
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
LỜI MỞ ĐẦU
Để phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, từ đó đảm bảo các mục tiêu
xã hội, nước ta hiện nay đang đứng trước nhu cầu rất lớn về đổi mới, kiện toàn cơ
sở hạ tầng. Nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư phát triển và vốn viện trợ từ nước
ngoài trong nhiều năm gần đây tập trung phần lớn vào các công trình xây dựng các
hệ thống cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại
trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ở nước ta. Vốn bỏ ra rất lớn, tuy nhiên chất lượng
công trình yếu kém, tiến độ bị đình trệ, gây thất thoát và lãng phí vốn cũng như
nguồn lực. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này chính là do khâu quản lý, mà cụ
thể ở đây là quản lý các dự án đầu tư nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng
cơ bản nói riêng.
Sự cần thiết phải đổi mới công tác quản lý dự án nói chung và quản lý dự án
đầu tư xây dựng nói riêng không còn là vấn đề mới, để thực sự thay đổi tình trạng
nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng.
1.1 Khái niệm :
Ngày nay, thuật ngữ “ dự án “ hay “ dự án đầu tư “ được sử dụng rộng rãi
trong đời sống cũng như trong các văn bản quy phạm. Tuy nhiên, khái niệm “ dự án
“ chưa được diễn đạt một cách thống nhất.
Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư, từ “ project- dự án “ được hiểu là “ điều
có ý định làm “ hay “ đặt kế hoạch cho một ý đồ, một quá trình hành động “. Như
vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển
động, hành động.
Tùy theo mục tiêu tiếp cận khác nhau, khái niệm “ dự án “ lại được hiểu
theo nhiều cách khác nhau.
• Theo Viện Quản trị dự án, Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra
sản phẩm hay dịch vụ duy nhất. Như vậy, mỗi dự án đều có điểm bắt đầu và điểm
kết thúc xác định, dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị
loại bỏ. Sản phẩm duy nhất của dự án là sản phẩm khác biệt với sản phẩm đã có
hoặc dự án khác.
• Xét về mặt hình thức, dự án là một tập hồ sơ, được trình bày theo một trật tự
logic nhất định, được chứng minh một cách đầy đủ và chính xác, mọi hoạt động để
thực hiện một mục tiêu nhất định.
• Trong hệ thống Kế hoạch hóa, dự án là khâu thấp nhất nhằm tổ chức các
hoạt động và sử dụng nguồn lực để biến các ý đồ của mục tiêu kế hoạch thành các
đầu ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
• Theo Ngân hàng thế giới (WB), dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động,
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
chính sách và chi phí liên quan được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu cụ
thể trong thời gian nhất định.
• Theo Nghị định 42/CP (16.07.1996), dự án là tập hợp những đề xuất về việc
bỏ vốn nhằm tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo một đối tượng nhất định với mục đích
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
theo dõi, đánh giá. Dự án đầu tư còn là công cụ để quản lý, kiểm soát các hoạt động
đầu tư, như quản lý nguồn lực, hoạt động hay tiến độ đầu tư.
Tóm lại, dù xét theo góc độ nào, “ dự án đầu tư “ cũng thể hiện bản chất là
một kế hoạch tiến hành các công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu dự kiến trong
một giới hạn nhất định về thời gian và nguồn lực.
1.2 Đặc trưng của dự án đầu tư :
Dự án đầu tư có một số đặc trưng cơ bản, phân biệt với chương trình hay các
hoạt động mang tính thường quy.
• Dự án có mục đích, kết quả xác định: Tất cả các dự án đều phải có kết quả
được xác định cụ thể. Mỗi dự án bao gồm tập hợp nhiều nhiệm vụ độc lập, mỗi
nhiệm vụ lại có một kết quả riêng. Tập hợp những kết quả cụ thể của các nhiệm vụ
làm nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống bao gồm
nhiều bộ phận đảm nhiệm các vai trò, chức năng khác nhau nhưng đều phải thống
nhất đảm bảo mục tiêu chung về thời gian, chi phí và chất lượng công việc.
• Dự án có chu kỳ phát triển và thời gian tồn tại hữu hạn: Dự án trải qua các
giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể. Sự tồn tại
cảu dựu án chỉ mang tính thời điểm, khi dự án kết thúc, kết quả của dự án được giao
cho bộ phận quản lý vận hành, ban quản trị dự án giải tán.
• Sản phẩm của dự án mang tính độc đáo, mới lạ: Khác với hoạt động mang
tính thường quy, dự án mang tính đột phá, sản phẩm của dự án có tính khác biệt
cao, độc đáo, riêng có khác biệt với các dự án khác hoặc các sản phẩm đã xuất hiện.
Dự án thường gắn liền với những thay đổi mang tính đột phá, mới lạ.
• Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ
phận quản lý chức năng và quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của
nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, nhà tư vấn, nhà thầu,
các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của mỗi dự án và ý định của chủ
đầu tư mà mức độ tham gia của các bên hữu quan này là khác nhau. Trong quá
trình thực hiện dự án, bộ phận quản lý chức năng và quản lý dự án có mối quan hệ
đầu tư.
Dự án đầu tư được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trong đó nghiên
cứu kĩ lưỡng các khía cạnh như kinh tế, thị trường, công nghệ, tổ chức quản lý Do
đó, đây là căn cứ khoa học và đáng tin cậy để chu đầu tư quyết định có bỏ vốn đầu
tư hay không.
Bên cạnh đó, để san sẻ bớt rủi ro và đáp ứng đủ vốn để thực hiện ý định đầu
tư, chủ đầu tư cần huy động thêm vốn từ bên ngoài. Dự án đầu tư là công cụ,
phương tiện để chủ đầu tư tìm kiếm, kêu gọi các đối tác trong và ngoài nước nhằm
bỏ vốn cho dự án, cũng như thuyết phục các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
tài trợ hoặc cho vay vốn.
Dự án đầu tư còn là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi,
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
giám sát và đánh giá quá trình thực hiện dự án, từ đó có điều chỉnh kịp thời những
tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình.
•Đối với các nhà tài trợ ( các ngân hàng thương mại ): Dự án đầu tư là căn cứ
quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó đưa ra quyết
định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ với mức độ nào để
đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ.
Khi đã chấp thuận cho vay hoặc tài trợ, dự án là căn cứ quan trọng để các
ngân hàng lập kế hoạch cho vay hoặc cấp vốn theo tiến độ thực hiện đầu tư, đồng
thời lập kế hoạch thu hồi vốn vay.
•Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Dự án đầu tư là tài liệu quan trọng để
các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư. Vốn ngân sách của nhà
nước sử dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng. Dự án sẽ được cấp phép, phê duyệt khi mục tiêu của dự
án phù hợp với các đường lối, chính sách phát triển kinh tế đất nước. Dự án đầu tư
là căn cứ pháp lý để toà án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên
tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này.
cơ hội đầu tư xem xét một số các khía cạnh như: chủ trương chính sách của Nhà
nước liên quan đến các giai đoạn đầu tư, tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác,
khả năng về vốn của quốc gia, khả năng mở rộng dây chuyền sản xuất hiện có
Qúa trình này diễn ra theo hai bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư chung và nghiên cứu
cơ hội đầu tư cho dự án cụ thể. Trên cơ sở nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư
chủ đầu tư có thể lựa chọn cơ hội đầu tư thuận lợi nhất, tức là cơ hội đầu tư phát
huy được các mặt mạnh, hạn chế điểm yếu của doanh nghiệp, đồng thời tận dụng
được cơ hội cũng như hạn chế được các thách thức từ môi trường bên ngoài.
Sau khi lựa chọn được cơ hội đầu tư phù hợp, cơ hội đầu tư sẽ được tiến hành
nghiên cứu tiền khả thi, tức là bước đệm cho giai đoạn nghiên cứu khả thi. Bước
này sẽ xác định xem liệu cơ hội đầu tư có thực sự khả thi không, có nên tiếp tục giai
đoạn nghiên cứu khả thi không. Đây là các nghiên cứu sơ bộ sử dụng các số liệu
thô, tính toán và phân tích các chỉ tiêu sơ bộ nhằm dự đoán sự thành công của dự
án, đồng thời tiên liệu trước được những khó khăn thuận lợi khi tiến hành nghiên
cứu khả thi, từ đó có kế hoạch chuẩn bị phù hợp.
b. Xây dựng dự án:
Nhiệm vụ của bước này là xây dựng luận chứng kinh tế – kĩ thuật thể hiện
tính toán mọi mặt của dự án đầu tư trong tương lai. Nó phải đảm bảo độ chính xác,
tin cậy và toàn diện. Do đó, kết quả của bước này là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra
quyết định đầu tư, là cơ sở để các cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án, là cơ sở để
lập kế hoạch đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư tring tương lai, là cơ sở để các
đối tác ra quyết định tham gia vào dự án.
c. Thẩm định dự án
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, khoa
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện và hiệu
quả của dự án để ra quyết định đầu tư. Đây là bước do các cơ quan chức năng thực
hiện, cung cấp cái nhìn khách quan đối với dự án. Công tác thẩm định đầu tư phải
án có thể hiểu là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào công việc, các
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
hoạt động của dự án trong suốt quá trình lập và thực hiện dự án.
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và
giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng
thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đảm bảo các yêu cầu đã định về kĩ
thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt
nhất cho phép.
Những hoạt động trong một dự án luôn có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn
nhau theo những logic nhất định. Nếu một công việc thực hiện không đúng tiến độ
và chất lượng các công việc khác và toàn bộ công việc của dự án sẽ bị ảnh hưởng
một cách tiêu cực, điều này dẫn đến đến việc đạt được các mục tiêu của dự án khó
có thể thực hiện được. Như vậy dự án là một hệ thống, nó không phải là một hệ
thống kĩ thuật thông thường mà còn là một hệ thống xã hội – một hệ thống đặc
trưng bởi các hoạt động của con người. Một hệ thống muốn tồn tại và phát triển cần
phải phù hợp với môi trường, phải có cơ chế điều khiển thích hợp. Do đó, quản lý
dự án thể hiện vai trò không thể thiếu trong việc đảm bảo sự thành công của dự án.
Quản lý dự án gồm 3 giai đoạn : lập kế hoạch, điều phối thực hiện và giám
sát mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát
các công việc của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Lập kế hoạch là giai đoạn xác lập mục tiêu, xác định công việc, dự tính
nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình thiết lập một kế hoạch hành
động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống
hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.
Điều phối thực hiện dự án là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền
vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối tiến độ thời gian. Giai
đoạn này chi tiết hóa thời gian, lên lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án,
trên cơ sở đó bố trí vốn, lao động, thiết bị cho phù hợp.
thống luật pháp và quy định đối với từng lĩnh vực cụ thể.
Quản lý vi mô đối với dự án là quản lý các hoạt động cụ thể của dự án. Nó
bao gồm nhiều khâu như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát các hoạt động dự án.
Quản lý dự án bao gồm các vấn đề như: quản lý thời gian, chi phí, nguồn vốn, rủi
ro Quá trình quản lý dự án được thực hiện xuyên suốt công cuộc đầu tư từ chuẩn
bị đầu tư đến vận hành các các kết quả của dự án. Trong từng giai đoạn, dù đối
tượng quản lý có thể khác nhau nhưng các dự án đều phải gắn với ba mục tiêu cơ
bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn thành.
Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án bao gồm các nội dung như:
•Lập kế hoạch tổng quan:
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình
tự logic, là việc cụ thể hóa các mục tiêu của dự án thành các công việc cụ thể và xây
dựng một chương trình thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các yếu tố của
quản lý dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ.
•Quản lý phạm vi:
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
Quản lý phạm vi dự án là việc giám sát thực hiện mục đích, mục tiêu của dự
án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải tiến hành, công việc nào nằm
ngoài phạm vị dự án.
•Quản lý thời gian:
Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, triển khai và giám sát tiến độ thời
gian nhằm đảm bảo dự án hoàn thành đúng tiến độ. Nó chỉ rõ mỗi công việc phải
kéo dài bao lâu, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và khi nào toàn bộ dự án sẽ
hoàn thành.
•Quản lý chi phí:
Quản lý chi phí của dự án là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện
chi phí theo tiến độ cho từng bước công việc và toàn bộ dự án, là việc thu thập,
phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí.
- Tổ chức các hoạt động và huy động nguồn lực cho dự án
- Giám sát theo dõi và điều hành các hoạt động của dự án
- Giải tán, bàn giao kết quả dự án.
Quá trình quản lý dự án diễn ra xuyên suốt vòng đời của dự án được từ khi ý
tưởng dự án được hình thành đến khi dự án kết thúc. Một trong những phần quan
trọng và cần huy động nhiều nguồn lực trong quá trình quản lý dự án đó là quản lý
quá trình thực hiện dự án.
Quản lý quá trình thực hiện dự án là quá trình bắt đầu từ khi dự án đã được
phê duỵệt đến khi dự án được hoàn thành và bàn giao lại dự án. Thực hiện dự án chỉ
là một trong năm khâu của chu kỳ dự án, tuy nhiên đây lại là khâu có vai trò đặc
biệt quan trọng. Quản lý thực hiện dự án đòi hỏi phải được thực hiện một cách có
hiệu quả.
2.4.2 Nôi dung quản lý thực hiện dự án
Quản lý thực hiện dự án bao gồm: quản lý thời gian và tiến độ thực hiện của
dự án, quản lý chi phí dự án, quản lý chất lượng.
Mục đích có tính chất bao trùm trong quản lý dự án là phải xác định được các
công cụ và phương tiện để sử dụng tác động vào các hoạt động của dự án nhằm đạt
được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý dự án là đòi hỏi khách quan của các cơ quan quản lý nhà nước và
các cơ quan của chủ đầu tư. Xuất phát từ tính hệ thống của dự án, khi thực hiện
quản lý thực hiện dự án yêu cầu đặt ra là cần phải xem xét đảm bảo về các phương
diện thời gian, chi phí và chất lượng. Mục tiêu cơ bản của một dự án là hoàn thành
các công việc dự án theo đúng yêu cầu kĩ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân
sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép.
Về phương diện thời gian, cần xem xét dự án theo các giai đoạn kế tiếp và chi
phối lẫn nhau trong một chu trình. Mỗi giai đoạn luôn có những công việc hoạt
động cụ thể khác nhau, diễn ra trong một khoảng thời gian xác định. Sự chậm trễ
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
15
2.5.1. Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản
xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ
sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế quốc phòng của đất nước, góp
phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công cuộc công
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. .
Song song với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc
điểm kinh tế kỹ thuật riêng, được thể hiện rất rõ ở sản xuất xây lắp và quá trình tạo
ra sản phẩm của ngành. Sản phẩm xây lắp là các công trình có đủ điều kiện đưa vào
sử dụng và phát huy tác dụng . Sản phẩm xây lắp mang đặc điểm là quy mô lớn, kết
cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng lắp đặt dài. Đặc điểm này
làm cho việc tổ chức quản lý và hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp phải có
các dự toán.
Sản phẩm xây lắp tại nơi sản xuất do đó các điều kiện sản xuất : vật liệu, lao
động xe máy thi công phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm công trình. Do
vậy công tác quản lý, sử dụng, hạch toán vật tư, tài sản cũng trở nên phức tạp.
Quá trình từ khi khởi công công trình cho đến khi công trình hoàn thành bàn giao
đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạp về kỹ
thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc khác nhau. Các công việc chủ yếu thực hiện
ở ngoài trời nên nó chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thiên nhiên, thời tiết làm ảnh
hưởng lớn dến tiến độ thi công công trình vì vậy phát sinh nhiều chi phí ngoài dự
toán, chi phí không ổn định và phụ thuộc nhiều vào từng giai đoạn thi công.
Sản phẩm xây lắp rất đa dạng nhưng lại mang tính chất đơn chiếc. Mỗi công
trình được tiến hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể, phụ thuộc vào yêu cầu của
khách hàng và theo thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi thực hiện các đơn vị xây
lắp phải bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công
trên kết quả của các dự án xây dựng mà doanh nghiệp tham gia. Việc đạt được hiệu
quả tích cực phụ thuộc rất lớn vào phương pháp quản lý dự án xây dựng của doanh
nghiệp. Một phương pháp quản lý dự án khoa học, hợp lý trong nội dung cũng như
trình tự sẽ đảm bảo cho nguồn lực của doanh nghiệp nói riêng và xã hội nói chung
được huy động hợp lý, từ đó đảm bảo được hiệu quả đầu tư.
Doanh nghiệp xây dựng là đơn vị tham gia chủ yếu vào giai đoạn tiến hành
đầu tư tức là các công việc: thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, thi
công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng. Do đó, quản lý dự án tại
các doanh nghiệp này chủ yếu là quản lý thực hiện dự án. Hoạt động quản lý này kế
thừa kết quả từ giai đoạn tiền đầu tư ( xây dựng và xác định các dự án ). Từ giai
đoạn này, các nguồn lực đã thực sự được huy động, lợi ích hay chi phí của dự án sẽ
là có thực chứ không phải chỉ là những tính toán trên giấy. Tại thời điểm này, vốn
đầu tư của dự án đã được giải ngân, nhân lực đã được huy động, các hợp đồng mua
sắm đã được kí kết. Do đó, mọi sơ suất trong quá trình quản lý thực hiện dự án đều
có thể dẫn đến những thất thoát, lãng phí nguồn lực làm dự án không đạt được hiệu
quả và hiệu lực đã đề ra.
Có thể nói, quản lý thực hiện dự án chỉ là một trong năm bước trong quản lý
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
dự án nhưng đây là bước cực kỳ quan trọng.
Thực tế cho thấy, quản lý thực hiện dự án cũng là khâu bộc lộ nhiều yếu kém
trong hoạt động đầu tư nói chung cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói riêng. Đây là hệ quả của sự hạn chế trong công
tác quản lý nói chung. Doanh nghiệp xây dựng nhà nước quen với cơ chế bao cấp
dẫn đến quản lý và sử dụng nguồn lực không hiệu quả, gây thất thoát lãng phí. Các
doanh nghiệp tư nhân gặp phải trở ngại do phương pháp quản lý trong nước còn
nhiều hạn chế. Thực trạng này dẫn đến yêu cầu phải đổi mới công tác quản lý nói
chung và quản lý dự án nói riêng trong các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp xây dựng cơ bản.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là mối quan hệ giữa các bước
công việc còn chưa được thực hiện chặt chẽ, chưa thể hiện được tầm quan trọng
tương đối giữa công việc này với công việc khác. Khả năng kết hợp quản lý tiến độ
và quản lý chi phí còn hạn chế.
- Sơ đồ PERT/CPM là một cách trình bày bằng đồ họa trình tự các hoạt
động của dự án và mối quan hệ logic giữa chúng. Đây là phương pháp theo dõi chi
tiết nhất vè tiến độ của dự án, cung cấp những thông tin mà các công cụ khác không
thực hiện được. Phương pháp này phù hợp với những dự án đã xác định tương đối
chính xác thời gian cần thiết để hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, phương pháp này phức tạp, đòi hỏi nhiều thông tin nên không phù
hợp với những dự án mà không thể xác định chính xác ngay từ đầu tiến độ hoàn
thành công việc. Do đó, phương pháp này không được ứng dụng rộng rãi.
Trước khi áp dụng một trong hai phương pháp trên, cán bộ quản lý dự án
thường phải phân tách các công việc của dự án theo cấu trúc phân việc (WBS –
work break down structure). Đây là cơ sở để phân công công việc cụ thể theo từng
cấp quản lý, nêu rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng nhóm công tác, đồng thời
làm căn cứ dự kiến thời gian và hoàn thành công việc. Đây là bước phân chia theo
cấp bậc một dự án thành các nhóm nhiệm vụ và công việc cụ thể. Kết quả của bước
này là sơ đồ cấu trúc phân việc, bao gồm nhiều cấp bậc. Cấp bậc cao nhất là mục
tiêu của dự án, cấp bậc thấp nhất là các công việc cụ thể. Phương pháp này chi tiết
hóa ý đồ của dự án thành các công việc cụ thể, là căn cứ quan trọng của quản lý.
Đối với một doanh nghiệp xây dựng cơ bản, khối lượng công việc của một dự án là
rất lớn, thời gian thi công kéo dài , việc phân tách công việc một cách hợp lý sẽ tiết
kiệm được các chi phí sản xuất chung, đồng thời chi tiết hóa được quy trình quản lý,
công tác quản lý vì thế cũng trở nên sát sao hơn.
b. Quản lý chất lượng :
Chất lượng đối với một dự án đầu tư nói chung và dự án xây dựng nói riêng là
yếu tố hàng đầu quyết định đến sự thành công của dự án. Một dự án xây dựng
không đảm bảo chất lượng không những gây lãng phí nguồn lực mà còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ về thiệt hại trong tương lai. Đặc điểm của các công trình xây dựng là
chiếu với các tiêu chuẩn chất lượng và tìm biện pháp để loại bỏ những nguyên nhân
không hoàn thiện. Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng rất cần thiết vì nó tạo ra
một hệ thống chính thức trong cơ cấu dự án để đảm bảo đáp ứng liên tục yêu cầu
của khách hàng. Đối với nhà thầu, việc xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng sẽ
giúp tránh được những rủi ro kiện tụng, khiếu lại về sơ suất chuyên môn, trên cơ sở
đó có thể khẳng định với khách hàng về khả năng đảm bảo tiến độ, thực hiện các
biện pháp quản lý chất lượng theo yêu cầu. Đối với một số dự án đòi hỏi kĩ thuật
phức tạp như vũ trụ, quốc phòng, mua sắm công, hệ thống kiểm soát chất lượng là
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
một yêu cầu tiên quyết để có thể hoạt động trong lĩnh vực này.
c. Quản lý chi phí :
Với điều kiện ngân sách của một dự án là có hạn, hoạt động của dự án phải
đảm bảo được yếu tố chi phí giành cho các hoạt động phải hợp lý và tránh tình trạng
thất thoát, lãng phí. Đối với các dự án xây dựng, nguồn vốn đầu tư lớn, chủ yếu là
vốn ngân sách với cơ chế quản lý còn khá lỏng lẻo, vấn đề quản lý chi phí càng phải
được quan tâm. Thực tế ở nước ta cho thấy, công tác quản lý chi phí cho các công
trình xây dựng bộc lộ rất nhiều vấn đề làm giảm hiệu quả đầu tư, đồng thời làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với bộ máy quản lý.
c.1 Đối tượng của quản lý chi phí
Trong những doanh nghiệp xây dựng, quản lý tài chính dự án xây dựng( hay
còn gọi là chi phí xây dựng) bao gồm hai nội dung: quản lý tài chính trực tiếp, và
quản lý tài chính chung.
Quản lý tài chính trực tiếp: là việc xác định, giám sát việc sử dụng các loại chi
phí phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công xây dựng các công trình, chi phí trực
tiếp của các công trình bao gồm: chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy
thi công.
Yếu tố thường được xem xét nhiều nhất trong quản lý chi phí sản xuất là chi
phí vật liệu.
( Nguồn : Giáo trình Quản lý dự án – NXB ĐH KTQD 2008)
Dự toán ngân sách cho thi công xây dựng công trình là kế hoạch phân phối
nguồn quỹ của dự án cho các hoạt động thi công xây dựng nhằm đảm bảo tốt các
mục tiêu chi phí, chất lượng và tiến độ dự án. Dự toán ngân sách dự án phức tạp
hơn việc dự toán ngân sách cho các công việc thực hiện thường xuyên của doanh
nghiệp vì có nhiều nhân tố mới tác động và các công việc ít lặp lại.
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
Dự toán
ngân sách
lập ngân sách
công việc
xác định
tổng dự toán
kiểm soát
việc thực hiện
chi phí
Giám sát
Đánh giá
Thông tin
Điều chỉnh
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
Kiểm soát việc thực hiện chi phí xây lắp công trình theo tiến độ cho từng công
việc và toàn bộ dự án diễn ra xuyên suốt từ khi công trình bắt đầu được thi công đến
khi doanh nghiệp bàn giao lại cho chủ đầu tư. Kiểm soát chi phí là việc giám sát,
theo dõi tiến độ chi phí, xác định những thay đổi so với kế hoạch, từ đó đề xuất
những giải pháp để đạt được hiệu quả trong công tác quản lý tài chính dự án.
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Bùi Đức Tuân
ty chính thức hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con.
SV: Trần Thị Thuỳ Trang Lớp: Kế hoạch 50B
25